Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu Hiện tượng giao thoa thể loại trong sáng tác của A.Chekhov (Qua khảo sát kịch và truyện ngắn) của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Quỳnh Trang được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đào Tuấn Ảnh và PGS. Nguyễn Văn Hạnh, bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2016). Luận án thuộc chuyên ngành Văn học nước ngoài, mã số 62.45.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Anton Pavlovich Chekhov (1860–1904) là tác gia lớn của nền văn học Nga cổ điển với di sản gồm hơn 600 truyện ngắn, nhiều truyện vừa và 11 vở kịch. Trong tiến trình lịch sử văn học, Chekhov đóng vai trò khép lại chủ nghĩa hiện thực Nga thế kỷ XIX và mở đường cho nền văn học hiện đại đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, trong thực tiễn tiếp nhận tại Việt Nam và trên thế giới, chân dung Chekhov với tư cách là bậc thầy truyện ngắn thường được định hình rõ nét hơn so với diện mạo Chekhov - nhà viết kịch. Kịch của ông vốn kén người tiếp nhận và những cách tân thể loại sân khấu chưa được thẩm thấu trọn vẹn.

Dù giới nghiên cứu đã bước đầu chỉ ra sự tương đồng về đề tài, nhân vật, cốt truyện giữa truyện và kịch của Chekhov, nhưng phần lớn các công trình trước đây chỉ khảo sát các thể loại này một cách riêng lẻ hoặc dừng lại ở việc so sánh bề mặt. Khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định là: chưa có công trình nào khảo sát hai thể loại truyện ngắn và kịch của Chekhov trong cùng một trường khai thác, đối sánh và tổng hợp có hệ thống để nhận diện hiện tượng giao thoa thể loại ở từng cấp độ cấu trúc nghệ thuật, từ đó làm sáng tỏ thi pháp tác giả trong thời kỳ giao thời.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định vị trí bản lề của A.Chekhov trong tiến trình văn học Nga: kết thúc trào lưu văn học cũ, khơi dòng và góp phần đặt nền móng cho nền văn học Nga hiện đại; làm rõ những tiền đề thực tiễn sáng tạo giúp nhà văn gắn kết các thể loại văn học để tạo nên những cách tân.
  2. Phân tích, hệ thống hóa những tín hiệu và yếu tố kịch, yếu tố trữ tình thâm nhập, xuyên thấm vào truyện ngắn Chekhov theo các giai đoạn sáng tác, thể hiện sự tiếp thu truyền thống và đối thoại thể loại.
  3. Phân tích các yếu tố tự sự và trữ tình cùng những tìm tòi nghệ thuật tương đồng trong kịch và truyện ngắn giai đoạn chín muồi; làm rõ tư tưởng dung hợp thể loại, khuynh hướng mạch ngầm và tính chất liên văn bản trong văn nghiệp của tác giả.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiện tượng giao thoa thể loại, biểu hiện qua các yếu tố, tính chất của các loại hình văn học (tự sự, kịch, trữ tình) được vận dụng, thẩm thấu lẫn nhau có tính hệ thống trong sáng tác của A.Chekhov.
  • Phạm vi khảo sát văn bản: Các sáng tác truyện ngắn và kịch của Chekhov đã được dịch thuật và xuất bản bằng tiếng Việt qua các văn bản chính:
    • Sung sướng (tập truyện ngắn, Đỗ Hồng Chung dịch, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1978).
    • Truyện ngắn (Nhiều dịch giả, Lời giới thiệu của Nguyễn Tuân, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 1957).
    • Truyện ngắn (Vương Trí Nhàn tuyển chọn, NXB Văn học, 1999).
    • Truyện ngắn (Phan Hồng Giang - Cao Xuân Hạo dịch, NXB Văn hóa thông tin, 2001).
    • Truyện ngắn và truyện vừa (Đào Tuấn Ảnh dịch, Tạp chí Văn học nước ngoài số 4, NXB Hội nhà văn, 2004).
    • Tuyển tập kịch (Lê Phát - Nhị Ca dịch, NXB Sân khấu, tái bản 2006).
    • Luận án kết hợp tham khảo các tư liệu, trích dẫn về các sáng tác chưa được dịch sang tiếng Việt thông qua các công trình nghiên cứu của các học giả chuyên ngành.
  • Phạm vi thời gian và không gian lịch sử: Tiến trình sáng tác của Chekhov từ thập niên 1880 đến năm 1904, đặt trong bối cảnh giao thời thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX ("Kỉ nguyên Bạc" của văn hóa nghệ thuật Nga).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng hợp và phân tích tình hình nghiên cứu lý thuyết thể loại và thi pháp Chekhov qua các công trình trong và ngoài nước:

Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

  • Lý thuyết loại hình và thể loại phương Tây: Luận án điểm lại các công trình nền tảng của Aristotle (Nghệ thuật thi ca), G. Hegel; các nghiên cứu thể loại học thế kỷ XX như A. Fowler (Kinds of literature. An Introduction to the Theory of Genres and Modes, 1982; The Future of Genre Theory, 1989), A. Rosmarin (The Power of Genre, 1986), H. Dubrow (Genre, 1982), Th. Kent (The Classification of Genres, 1983; Interpretation and Genre..., 1986), P. Hernadi (Beyond Genre. New Directions in Literary Classification, 1972), E. Hirsch (Validity in Interpretation, 1967).
  • Lý thuyết hình thức và thể loại ở Nga:
    • Iu. Tynianov với hai công trình Hiện tượng văn họcSự tiến triển của văn học, xác lập quan niệm tiến triển văn học là sự thay thế các hệ thống dựa trên chức năng tự động hóa (avtofunksia) và chức năng đồng bộ (cinfunksia), giải thích sự biến đổi của cốt truyện (fabulasujzet).
    • V. Sklovski phát triển quan niệm thể loại như một hệ thống nhìn nhận thế giới luôn biến đổi toàn diện.
    • M. Bakhtin (Thi pháp Dostoevsky) với khái niệm "kí ức thể loại" và coi thể loại là đại diện cho ký ức sáng tạo trong quá trình phát triển văn học.
    • S. Averinsev với quan điểm về mối liên hệ kế tục giữa các nhà văn thuộc các thời đại khác nhau ("đồng chí theo thể loại").
    • G. Pospelov (Dẫn luận nghiên cứu văn học, Lí luận văn học, 1978) mô hình hóa hệ thống thể loại theo 3 phương thức (tự sự, trữ tình, kịch), chỉ ra đặc trưng cốt truyện tâm trạng trong truyện ngắn và tính trữ tình trong kịch Chim hải âu của Chekhov.
    • V. Khalizev (Kịch như một hiện tượng của nghệ thuật, 1978) phân tích sự biến đổi của kịch giao thời thế kỷ XIX–XX qua sáng tác của Ibsen, Chekhov, nhấn mạnh việc thay thế hành động bên ngoài bằng hành động bên trong.
  • Các công trình chuyên sâu về thi pháp Chekhov:
    • A. Skaftymov (Về sự thống nhất hình thức và nội dung trong "Vườn anh đào" của A.Chekhov, 1946) mở ra bước ngoặt chuyển từ tiếp cận xã hội học dung tục sang thi pháp học kịch Chekhov.
    • A. Trudakov (Thi pháp Chekhov, 1971) phân chia nghệ thuật trần thuật của Chekhov thành 3 giai đoạn (1880–1887: trần thuật chủ quan; 1888–1894: trần thuật khách quan; 1895–1904: kết hợp khách quan và chủ quan), chỉ ra cội nguồn kết thúc mở từ các truyện ngắn - cảnh kịch.
    • E. Poloskaia (Về thi pháp Chekhov, 1998/2001; chuyên luận Anton Chekhov trong bộ sách Văn học Nga giao thời thế kỉ) nghiên cứu mối liên hệ giữa nghệ thuật thư tín và kĩ thuật kịch, thi pháp thể loại và mạch ngầm văn bản.
    • L. Sophie (Chekhov cuộc đời và tác phẩm) phân tích các yếu tố thi ca, khoảng lặng và âm điệu trong truyện ngắn.
  • Ý kiến của giới sáng tác: Luận án dẫn chứng đánh giá của D. Grigorovich (phát hiện tài năng phân tích nội tâm và miêu tả thiên nhiên), L. Tolstoy (ghi nhận hình thức viết mới và tính chân thành), V. Mayakovsky (bàn về quy luật ngôn từ và cốt truyện), V. Grossman (Cuộc đời và số phận - so sánh quy mô nhân vật của Chekhov với Balzac).

Nghiên cứu tại Việt Nam và vị trí của luận án

Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã tiếp cận lý thuyết thể loại và hiện tượng giao thoa qua chuyên luận Trên đường biên của lí luận văn học của Trần Đình Sử (quan niệm thể loại tồn tại và phát triển ở đường biên giao lưu đối thoại) và kỷ yếu Hội thảo quốc tế Những lằn ranh văn học (Trường ĐH Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, 2010). Về sáng tác của Chekhov, giới dịch thuật và phê bình đã giới thiệu nhiều tác phẩm từ năm 1957.

Vị trí của luận án: Luận án là công trình đầu tiên tại Việt Nam đặt truyện ngắn và kịch của Chekhov trong cùng một mô hình nghiên cứu tương tác thể loại, khảo sát có hệ thống các biểu hiện giao thoa cấu trúc (kịch tính trong truyện, tự sự trong kịch, chất trữ tình ở cả hai thể loại), gắn tiến triển thể loại với sự chuyển dịch hệ hình thi pháp tác giả trong bối cảnh văn hóa "Kỉ nguyên Bạc".


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm và khung lý thuyết

  • Khái niệm giao thoa thể loại: Thuật ngữ "giao thoa" (interfere / интерференция) có nguồn gốc từ vật lý học (sự chồng chập sóng tạo ra hình ảnh mới). Vận dụng vào văn học, luận án xác định giao thoa thể loại dựa trên 3 bình diện:
    1. Khởi sinh từ những điểm tương đồng, thống nhất về nội dung, hình thức và phương thức biểu đạt giữa các thể loại, rõ nét nhất khi xuất phát từ cùng một chủ thể sáng tạo.
    2. Tạo nên sự thay đổi, khác biệt trong nội tại thể loại khi dung nạp các yếu tố mới.
    3. Tạo ra cấu trúc thẩm mỹ mới, không phải phép cộng cơ học mà là sự tích hợp hữu cơ làm thay đổi diện mạo tác phẩm.
  • Khung phân tích thể loại: Luận án dựa trên lý thuyết thể loại của Pospelov và Khalizev (các hình thức liên loại hình và ngoài loại hình), kết hợp lý thuyết tiến triển hệ thống của Tynianov, khái niệm "kí ức thể loại" của Bakhtin và lý thuyết liên văn bản (intertextuality) của chủ nghĩa hậu hiện đại ở góc độ tổ hợp thủ pháp nghệ thuật (phỏng nhại, vay mượn mô thức).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng hướng tiếp cận chính là thi pháp học, kết hợp các phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp thi pháp lịch sử: Phục dựng sáng tác của Chekhov trong tiến trình văn học Nga thế kỷ XIX và giai đoạn chuyển giao thế kỷ XX; xem xét sự tương tác thể loại qua từng giai đoạn sáng tác gắn với sự biến đổi uy tín văn học và tư duy nghệ thuật của tác giả.
  • Phương pháp loại hình: Xác định đặc trưng loại hình của tự sự, kịch, trữ tình nhằm làm hệ quy chiếu để phân tích sự thẩm thấu, xâm lấn giữa truyện ngắn và kịch.
  • Các thao tác nghiên cứu: So sánh văn bản, thống kê, khảo sát cứ liệu và phân tích - tổng hợp thi pháp.
Danh mục tư liệu dịch thuật chính Dịch giả / Tuyển chọn Nhà xuất bản / Năm Thể loại khảo sát
Truyện ngắn Nhiều dịch giả (Nguyễn Tuân giới thiệu) NXB Hội nhà văn, 1957 Truyện ngắn
Sung sướng Đỗ Hồng Chung NXB ĐH và THCN, 1978 Tập truyện ngắn
Truyện ngắn Vương Trí Nhàn tuyển chọn NXB Văn học, 1999 Truyện ngắn
Truyện ngắn Phan Hồng Giang - Cao Xuân Hạo NXB Văn hóa thông tin, 2001 Truyện ngắn
Truyện ngắn và truyện vừa Đào Tuấn Ảnh Tạp chí Văn học nước ngoài, 2004 Truyện ngắn, truyện vừa
Tuyển tập kịch Lê Phát - Nhị Ca NXB Sân khấu, tái bản 2006 Kịch bản sân khấu

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về thể loại và lịch sử nghiên cứu văn nghiệp Chekhov:

  • Phân tích sự tiến triển của lý thuyết thể loại từ quan niệm cổ điển (Aristotle, Hegel) mang tính quy phạm ổn định đến những biến đổi trong thế kỷ XX: các khuynh hướng lý thuyết phương Tây (Fowler, Rosmarin, Dubrow, Kent) và trường phái Hình thức Nga (Tynianov, Sklovski), lý thuyết của Bakhtin, Pospelov, Khalizev và các nghiên cứu tại Việt Nam (Trần Đình Sử).
  • Khái quát lịch sử nghiên cứu sáng tác Chekhov ở Nga và quốc tế, chỉ ra bước chuyển từ phê bình xã hội học sang thi pháp học qua các công trình của Skaftymov, Trudakov, Poloskaia.
  • Định nghĩa thuật ngữ "giao thoa thể loại", "tương tác thể loại", "dung nạp thể loại" và xác lập khung thao tác phân tích cho các chương tiếp theo.

Chương 2: Những tiền đề cách tân và giao thoa thể loại trong sáng tác A.Chekhov

Chương 2 luận giải các tiền đề lịch sử, văn hóa và nguyên tắc sáng tạo dẫn đến sự đổi mới thể loại của Chekhov:

  • Bối cảnh lịch sử - xã hội: Sự khủng hoảng toàn diện của xã hội Nga cuối thế kỷ XIX sau cải cách nông nô; sự bế tắc của tư tưởng dân chủ cách mạng (Chernyshevsky, Dobrolubov, Saltykov-Shchedrin) và tư tưởng tự do cải lương ("thuyết việc nhỏ" của Tolstoy, "thuyết mảnh đất" của Dostoevsky); phong trào công nhân và tiền đề cách mạng 1905–1907.
  • Bối cảnh văn hóa "Kỉ nguyên Bạc": Sự xuất hiện của các trào lưu nghệ thuật mới (chủ nghĩa tượng trưng, ấn tượng, đỉnh cao, vị lai, tân hiện thực, tân lãng mạn); sự tiếp nhận triết học Nietzsche và chủ nghĩa tượng trưng Pháp; sự dịch chuyển từ việc phản ánh hiện thực khách quan sang chú trọng bản ngã cá nhân, cảm quan về một thế giới phân rã đòi hỏi những hình thức liên kết thể loại mới.
  • Vị trí của Chekhov trong văn học "Kỉ nguyên Bạc":
    • Chekhov đóng vai trò bản lề, gạch nối giữa văn học cổ điển và hiện đại.
    • Diễn tiến uy tín văn học: cuối thập niên 1880, với các tác phẩm Thảo nguyên, Cơn bệnh thần kinh, Ngày lễ thánh, Một câu chuyện buồn tẻ, kịch Ivanov và giải thưởng Puskin cho tập truyện Chạng vạng, Chekhov khẳng định vị thế vững chắc nhưng đồng thời phải đối mặt với sự phê phán từ phái dân túy (đại diện là N. Mikhailovsky với định kiến về "tính khách quan lạnh lùng", "thiếu vắng tư tưởng").
    • Mối quan hệ với phái hiện đại chủ nghĩa: D. Merezhkovsky ghi nhận chất ấn tượng chủ nghĩa của Chekhov, nhưng Chekhov từ chối đứng vào nhóm tượng trưng vì sự khác biệt về quan niệm nhân sinh và nghệ thuật (ông đặt nền tảng vào dòng đời sống động và tự do con người, thể hiện qua sự giễu nhại kín đáo ở hình tượng nhân vật Treplev trong Chim hải âu).
  • Nguyên tắc sáng tạo: Chekhov tuân thủ nguyên tắc khách quan chân thực, người kể chuyện đóng vai trò quan sát viên điềm tĩnh, sử dụng kỹ thuật "gợi mà không bình", cô nén chi tiết nghệ thuật tạo nên các mạch ngầm tư tưởng (dẫn chứng qua chi tiết ăn dưa hấu trong Người đàn bà có con chó nhỏ, hành động gõ ván quan tài trong Cây vĩ cầm cho Rothschild, hình ảnh ánh lửa trong Sinh viên).

Chương 3: Giao thoa thể loại trong truyện ngắn Chekhov

Chương 3 khảo sát sự xâm nhập của yếu tố kịch và yếu tố trữ tình vào cấu trúc truyện ngắn:

  • Tính kịch trong truyện ngắn Chekhov:
    • Cấu trúc cảnh kịch: truyện ngắn giai đoạn đầu mang kết cấu lát cắt đời sống, không có mở đầu và kết thúc truyền thống, đóng vai trò tiền đề cho kết thúc mở giai đoạn sau.
    • Đối thoại hóa: tăng cường đối thoại trực tiếp, lời thoại mang tính hành động nội tâm, bộc lộ xung đột tâm lý thay vì xung đột biến cố bên ngoài.
    • Sự dồn nén của các tình huống kịch tính thường nhật, chuyển hóa xung đột xã hội thành xung đột ý thức và cảm xúc.
  • Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn Chekhov:
    • Không gian tâm trạng và cảm xúc nhân vật đóng vai trò liên kết văn bản thay cho cốt truyện sự kiện.
    • Âm điệu, nhịp điệu trần thuật mang tính thi ca; việc lựa chọn chi tiết gợi mở, những khoảng lặng và sự ngắt quãng trong lời kể.
    • Sự thâm nhập của cảm xúc hoài niệm, chất thơ của thiên nhiên và những rung động tinh tế trước sự trôi chảy của đời sống.

Chương 4: Giao thoa thể loại trong kịch Chekhov

Chương 4 phân tích các đặc tính tự sự và trữ tình trong kịch bản sân khấu của tác giả:

  • Tính tự sự trong kịch Chekhov:
    • Phá vỡ cấu trúc kịch cổ điển: loại bỏ xung đột tập trung duy nhất, thay bằng mạng lưới các xung đột đời thường phân tán.
    • Tự sự hóa hành động kịch: đưa các chi tiết đời thường, "chuyện đời vặt vãnh", các hành động sinh hoạt đời thường vào diễn biến kịch bản.
    • Sự phát triển của độc thoại nội tâm và các lời thoại mang tính chất kể chuyện, trần thuật hồi ức.
  • Tính trữ tình trong kịch Chekhov:
    • Xây dựng "mạch ngầm văn bản" (dòng chảy ngầm theo cách gọi của K. Stanislavski) thông qua tâm trạng chung bao trùm toàn vở kịch (như trong Chim hải âu, Cậu Vania, Vườn anh đào).
    • Tăng cường các biểu tượng giàu chất thơ và nhạc tính sân khấu (tiếng dây đàn đứt, hình ảnh vườn anh đào, cánh chim hải âu).
    • Đối thoại gián cách: nhân vật nói nhưng không giao tiếp trực tiếp với nhau mà bộc lộ trạng thái tinh thần cá nhân, tạo nên giai điệu trữ tình đa thanh.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án góp phần cụ thể hóa lý thuyết loại hình và thể loại văn học, chứng minh thể loại là một cấu trúc động, có sự biến đổi và xóa nhòa đường biên trong thực tiễn sáng tạo của các tác gia lớn.
  • Làm rõ cơ chế giao thoa thể loại: sự thẩm thấu giữa tự sự, kịch và trữ tình không làm triệt tiêu đặc trưng thể loại gốc mà tạo nên một hệ hình thi pháp mới, phản ánh sự biến chuyển của tư duy nghệ thuật trong thời kỳ chuyển giao lịch sử.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đây là công trình đầu tiên tại Việt Nam khảo sát có hệ thống cả hai thể loại truyện ngắn và kịch của A.Chekhov trong cùng một trường đối sánh, nhận diện các biểu hiện giao thoa ở từng cấp độ cấu trúc nghệ thuật (cốt truyện, nhân vật, hành động, không gian, thời gian, ngôn ngữ).
  • Khẳng định vị trí "bản lề" của Chekhov trong văn học Nga giao thời thế kỷ XIX–XX, chỉ ra mối liên hệ hữu cơ giữa sự cách tân hình thức với cảm quan thời đại "Kỉ nguyên Bạc".
  • Cung cấp cái nhìn toàn diện, cân bằng hơn về chân dung nghệ thuật của Chekhov tại Việt Nam, nâng cao sự thấu hiểu đối với những cách tân kịch nghệ của tác giả.

Đề xuất và ứng dụng

  • Kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng trực tiếp trong công tác giảng dạy, nghiên cứu học phần Văn học Nga, Văn học nước ngoài, Lý luận văn học và Lịch sử sân khấu tại các trường đại học, viện nghiên cứu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án khảo sát chủ yếu dựa trên các văn bản truyện ngắn và kịch của A.Chekhov đã được dịch và xuất bản bằng tiếng Việt. Mặc dù đã sử dụng các bản dịch uy tín và tham khảo tư liệu nghiên cứu chuyên ngành, nhưng số lượng tác phẩm được phân tích chi tiết mang tính chất chọn mẫu điển hình, chưa thể bao quát toàn bộ hơn 600 truyện ngắn và toàn bộ hệ thống kịch bản của tác giả.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng khảo cứu trực tiếp trên toàn bộ văn bản nguyên tác tiếng Nga và hệ thống thư từ phong phú của Chekhov.
    • Nghiên cứu sự ảnh hưởng và tiếp biến của thi pháp giao thoa Chekhov đối với các trào lưu kịch nghệ và văn xuôi hậu hiện đại thế giới thế kỷ XX–XXI.
    • Khảo sát hiện tượng chuyển thể liên nghệ thuật (văn học - sân khấu - điện ảnh - vũ kịch) từ tác phẩm của Chekhov trong nghệ thuật đương đại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Văn học: Tham khảo khung lý thuyết thể loại học (Chương 1), phương pháp tiếp cận thi pháp học lịch sử và cách thức phân tích giao thoa thể loại trong tác phẩm văn học.
  • Giảng viên Văn học nước ngoài và Lý luận văn học: Sử dụng tư liệu tại Chương 2, 3 và 4 để xây dựng bài giảng chuyên đề về văn học Nga giao thời thế kỷ XIX–XX, thi pháp truyện ngắn và thi pháp kịch hiện đại.
  • Đạo diễn, biên kịch, nhà nghiên cứu sân khấu: Tiếp cận các phân tích về hành động bên trong, mạch ngầm văn bản và tính trữ tình trong kịch bản Chekhov nhằm phục vụ công tác dàn dựng và phê bình sân khấu.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa khái niệm "giao thoa thể loại" như thế nào?

Giao thoa thể loại được hiểu là hiện tượng tương tác, thẩm thấu và dung nạp lẫn nhau giữa các loại hình và thể loại văn học (tự sự, kịch, trữ tình) dựa trên những điểm tương đồng về nội dung và phương thức biểu đạt. Quá trình này không tạo ra một "trung bình cộng" cơ học mà kiến tạo nên những thay đổi trong nội tại thể loại, hình thành một cấu trúc thẩm mỹ mới, hữu cơ và nâng cao chất lượng nghệ thuật của tác phẩm.

2. Vị trí "bản lề" của A.Chekhov trong tiến trình văn học Nga được xác định ra sao?

Chekhov giữ vị trí bản lề vì ông là người khép lại chủ nghĩa hiện thực Nga cổ điển thế kỷ XIX, đồng thời khơi dòng và đặt nền móng cho văn học Nga hiện đại đầu thế kỷ XX ("Kỉ nguyên Bạc"). Ông phản ánh sự khủng hoảng tư tưởng của xã hội Nga giao thời và thực hiện cuộc chuyển dịch phương thức phản ánh nghệ thuật từ phản ánh biến cố bên ngoài sang khám phá thế giới nội tâm và cảm xúc con người.

3. Sự phân chia các giai đoạn nghệ thuật trần thuật của Chekhov theo quan điểm của A.Trudakov gồm những giai đoạn nào?

Theo công trình Thi pháp Chekhov (1971) của A.Trudakov được luận án tiếp thu, nghệ thuật trần thuật của Chekhov chia thành 3 giai đoạn:

  1. Giai đoạn 1880–1887: Hình thức trần thuật chủ quan.
  2. Giai đoạn 1888–1894: Hình thức trần thuật khách quan.
  3. Giai đoạn 1895–1904: Kết hợp giữa trần thuật khách quan và trần thuật chủ quan.

4. Luận án dựa trên những nguồn ngữ liệu dịch thuật tiếng Việt chủ yếu nào?

Luận án sử dụng các bản dịch của Nguyễn Tuân (1957), Đỗ Hồng Chung (Sung sướng, 1978), Vương Trí Nhàn tuyển chọn (1999), Phan Hồng Giang - Cao Xuân Hạo (2001), Đào Tuấn Ảnh (2004) cho thể loại truyện ngắn/truyện vừa; và bản dịch Tuyển tập kịch của Lê Phát - Nhị Ca (NXB Sân khấu, tái bản 2006).

5. Nguyên tắc sáng tác khách quan của Chekhov được biểu hiện như thế nào trong luận án?

Nguyên tắc khách quan của Chekhov thể hiện ở việc người trần thuật đóng vai trò quan sát viên điềm tĩnh, hạn chế bình luận trực tiếp, sử dụng lối viết "gợi mà không bình, mở mà không gói", dồn nén các chi tiết đời thường nhưng tạo ra ám dụ ngữ nghĩa ngầm ẩn sâu sắc (như chi tiết ăn dưa hấu trong Người đàn bà có con chó nhỏ, định giá quan tài trong Cây vĩ cầm cho Rothschild).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Quỳnh Trang đã làm sáng rõ hiện tượng giao thoa thể loại trong sáng tác của A.Chekhov thông qua việc khảo sát có hệ thống truyện ngắn và kịch bản sân khấu. Bằng hướng tiếp cận thi pháp học lịch sử và loại hình học, công trình đã chứng minh sự thẩm thấu lẫn nhau giữa yếu tố kịch, tự sự và trữ tình là hạt nhân tạo nên cuộc cách mạng thể loại của tác giả trong bối cảnh văn hóa "Kỉ nguyên Bạc". Công trình đóng góp tư liệu khoa học có giá trị về lý luận thể loại và nâng cao mức độ thẩm thấu đối với di sản nghệ thuật của Chekhov trong nghiên cứu văn học tại Việt Nam.