Luận án tiến sĩ quản lý kinh tế năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương việt nam trong hội nhập kinh tế quốc tế

Luận án tiến sĩ nghiên cứu quản lý kinh tế năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương việt nam trong, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

189
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Chương này tổng hợp các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thế giới và trong nước. Các học giả quốc tế như Adam Smith và David Ricardo đã đề cập đến lợi thế cạnh tranh dựa trên lợi thế so sánh và chi phí sản xuất. Michael E. Porter, với lý thuyết cạnh tranh hiện đại, nhấn mạnh sự khác biệt là yếu tố then chốt. Trong nước, các nghiên cứu tập trung vào năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Những khoảng trống nghiên cứu cần được lấp đầy, đặc biệt là về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank).

1.1. Tình hình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các học giả trên thế giới

Các nghiên cứu quốc tế về năng lực cạnh tranh bắt đầu từ thế kỷ XVII với Adam Smith và David Ricardo. Smith nhấn mạnh lợi thế tuyệt đối, trong khi Ricardo đề cao lợi thế so sánh. Michael E. Porter, với tác phẩm 'Lợi thế cạnh tranh quốc gia', đã đưa ra khái niệm về sự khác biệt như yếu tố cốt lõi của năng lực cạnh tranh. Các nghiên cứu sau này tập trung vào việc duy trì lợi nhuận, mở rộng thị phần và tăng năng suất lao động. Những lý thuyết này là nền tảng cho việc phân tích năng lực cạnh tranh của Vietcombank trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

Trong nước, các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại tập trung vào các yếu tố như năng lực tài chính, công nghệ, và quản trị rủi ro. Các nghiên cứu chỉ ra rằng Vietcombank là một trong những ngân hàng hàng đầu với tốc độ phát triển ấn tượng. Tuy nhiên, vẫn còn những khoảng trống trong việc đánh giá toàn diện năng lực cạnh tranh của Vietcombank trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là so sánh với các ngân hàng quốc tế.

II. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại

Chương này trình bày các khái niệm cơ bản về năng lực cạnh tranh, tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại. Năng lực cạnh tranh được định nghĩa là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, tăng lợi nhuận và thích ứng với môi trường kinh doanh. Các tiêu chí đánh giá bao gồm năng lực tài chính, chất lượng dịch vụ, công nghệ và quản trị rủi ro. Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra cả cơ hội và thách thức, đòi hỏi các ngân hàng phải nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển.

2.1. Lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại được định nghĩa là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, tăng lợi nhuận và thích ứng với môi trường kinh doanh. Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm năng lực tài chính, chất lượng dịch vụ, công nghệ và quản trị rủi ro. Vietcombank cần tập trung vào việc cải thiện các yếu tố này để nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

2.2. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại cả cơ hội và thách thức cho các ngân hàng thương mại. Cơ hội bao gồm mở rộng thị trường và tiếp cận công nghệ tiên tiến. Thách thức là sự cạnh tranh gay gắt từ các ngân hàng quốc tế. Vietcombank cần tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức để nâng cao năng lực cạnh tranh và đạt được mục tiêu phát triển.

III. Năng lực cạnh tranh của Vietcombank

Chương này đánh giá năng lực cạnh tranh của Vietcombank dựa trên các tiêu chí như năng lực tài chính, chất lượng dịch vụ, công nghệ và quản trị rủi ro. Vietcombank đã đạt được nhiều thành tựu trong việc mở rộng thị phần, tăng lợi nhuận và ứng dụng công nghệ. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế cần được khắc phục, đặc biệt là trong việc cạnh tranh với các ngân hàng quốc tế. Đánh giá này là cơ sở để đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Vietcombank trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

3.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Vietcombank

Vietcombank được thành lập năm 1963 và là một trong những ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam. Quá trình phát triển của Vietcombank gắn liền với sự đổi mới và ứng dụng công nghệ. Từ năm 2007, Vietcombank đã tiên phong trong cổ phần hóa và trở thành ngân hàng thương mại cổ phần. Những thành tựu này là nền tảng để Vietcombank tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

3.2. Đánh giá năng lực cạnh tranh của Vietcombank

Vietcombank đã đạt được nhiều thành tựu trong việc mở rộng thị phần, tăng lợi nhuận và ứng dụng công nghệ. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế cần được khắc phục, đặc biệt là trong việc cạnh tranh với các ngân hàng quốc tế. Đánh giá này là cơ sở để đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Vietcombank trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

IV. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Vietcombank

Chương này đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Vietcombank trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Các giải pháp bao gồm cải thiện năng lực tài chính, nâng cao chất lượng dịch vụ, ứng dụng công nghệ tiên tiến và quản trị rủi ro hiệu quả. Vietcombank cần tận dụng cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế để mở rộng thị trường và nâng cao vị thế cạnh tranh. Những giải pháp này không chỉ giúp Vietcombank đạt được mục tiêu phát triển mà còn góp phần vào sự phát triển chung của ngành ngân hàng Việt Nam.

4.1. Quan điểm và mục tiêu phát triển

Vietcombank cần xác định rõ quan điểm và mục tiêu phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Mục tiêu chính là trở thành ngân hàng số 1 tại Việt Nam và nằm trong top 10 ngân hàng hàng đầu khu vực Châu Á. Để đạt được mục tiêu này, Vietcombank cần tập trung vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua cải thiện năng lực tài chính, chất lượng dịch vụ và ứng dụng công nghệ.

4.2. Giải pháp cụ thể

Các giải pháp cụ thể bao gồm cải thiện năng lực tài chính, nâng cao chất lượng dịch vụ, ứng dụng công nghệ tiên tiến và quản trị rủi ro hiệu quả. Vietcombank cần tận dụng cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế để mở rộng thị trường và nâng cao vị thế cạnh tranh. Những giải pháp này không chỉ giúp Vietcombank đạt được mục tiêu phát triển mà còn góp phần vào sự phát triển chung của ngành ngân hàng Việt Nam.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC HỌC GIẢ TRÊN THẾ GIỚI Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, thuật ngữ “cạnh tranh” ngày càng được sử dụng phổ biến trong các nội dung nghiên cứu khoa học, đề tài, dự án, phương tiện thông tin đại chúng cũng như các diễn đàn kinh tế trong và ngoài nước. Năng lực cạnh tranh hay khả năng cạnh tranh là một chủ đề được bàn luận rất nhiều và có nhiều cách hiểu khác nhau theo thời gian. Các nhà kinh tế ở thế kỷ XVII và XVIII đã tiến hành nghiên cứu cạnh tranh trên nền tảng của thế giới quan tư sản, điển hình là Adam Smith và David Ricardo.

Adam Smit với tác phẩm “Nhà nước, tính chất và nguồn gốc của cải của các dân tộc” năm 1976 cho rằng năng lực cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào những lợi thế của Quốc gia đó về sản xuất một hoặc số mặt hàng nào đó với sản phẩm khác [75]. David Ricacdo tác giả của “Các thuyết lý cơ bản của chính sách kinh tế về thuế khóa” năm 1817 cũng đã khẳng định năng lực cạnh tranh của một lĩnh vực không phụ thuộc vào lợi thế tuyệt đối mà còn khai thác từ lợi thế so sánh rằng các lựa chọn sản xuất các mặt hàng mất ít nguồn lực hơn và đổi lấy các mặt hàng cần nhiều nguồn lực hơn để sản xuất thông qua thương mại quốc tế. Theo quan điểm của trường phải tân cổ điển, dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống thì năng lực cạnh tranh của một sản phẩm nhất định thông qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và việc tăng năng suất lao động. Năng lực cạnh tranh của một ngành hay một doanh nghiệp là năng lực duy trì được lợi nhuận và thị phần trong và ngoài nước.

Theo cách hiểu này thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được phản ánh ở những khía cạnh cơ bản như: (1) Khả năng cạnh tranh của sản phẩm; (2) Khả năng duy trì và mở rộng 8 thị phần; (3) Khả năng duy trì và nâng cao hiệu quả kinh doanh; (4) Khả năng tăng năng suất và hiệu quả làm việc; (5) Khả năng thích ứng và đối mới; (6) Khả năng thu hút nguồn lực; (7) Khả năng liên kết và hợp tác. Porter - người được coi là cha đẻ của lý thuyết cạnh tranh hiện đại, cho rằng: “Cạnh tranh không phải cung cấp cái tốt nhất mà là tạo ra sự khác biệt. Vì cái tốt nhất không phải người tiêu dùng nào cũng có thể mua được, do tốt nhất thường là nhiều tiền nhất”. Cuối thế kỷ XX, nhiều nhà kinh tế học phương tây đã đưa ra nhiều lý thuyết cơ bản, lý thuyết được áp dụng nhiều nhất và Lý thuyết của của Michael E.Porter gồm ba tác phẩm nổi tiếng như “Lợi thế cạnh tranh”, “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” và “chiến lược cạnh tranh”.

Tác giả đã phân tích cơ sở hình thành và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo tác giả để hiểu rõ năng lực cạnh tranh từ đó luận giải những lợi thế cạnh tranh và lựa chọn những chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp. Cạnh tranh là vấn đề cơ bản xác định sự sống còn của doanh nghiệp, quyết định sự thành công hay thất bại và cũng xác định được năng lực thực tế trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” của tác giả Michael E Porter năm 2004, tác giả cho rằng “Lợi thế cạnh tranh là những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật hay khác biệt so với đối thủ cạnh tranh.

Lợi thế cạnh tranh chính là chìa khóa của sự hiệu quả, nó sẽ quyết định những hành động doanh nghiệp cần làm để đem lại sự hiệu quả cho doanh nghiệp.” Ông cũng nói rằng cạnh tranh ngành rất quan trọng, xem xét 5 yếu tố tạo nên sự canh tranh ngành bao gồm sức mua, sức bán, sự gia nhập của đối thủ mới, sự đe dọa của sản phẩm thay thế, và sự cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại. Trong lý thuyết cạnh tranh của Karl Marx, cạnh tranh được phân tích dựa trên 3 khía cạnh bao gồm cạnh tranh về giá trị thặng dư, cạnh tranh chất lượng và cạnh tranh giữa các ngành. Cả ba khía cạnh đều diễn ra xoay quanh giá trị. Karl Marx đã chỉ ra cơ cấu chuyển hóa giá trị thặng dư thành lợi nhuận bình quân và giá trị hàng hóa thành giá cả sản xuất trong điều kiện tự do cạnh 9 tranh.

Theo Karl Marx, cạnh tranh được định nghĩa là “sự đấu tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùng loại, đồng giá trị nhằm đạt được những ưu thế lợi ích, mục tiêu xác định”. Trong tác phẩm “Kinh tế học” của tác giả Paul A.Samuelson và William D. Nordhaus [89], Cho rằng “cạnh tranh là mức độ mà hàng hóa của một quốc gia có thể cạnh tranh trên thị trường”; điều này phụ thuộc chủ yếu vào giá cả tương đối của các sản phẩm trong và ngoài nước. Ngoài ra, các chính sách về thương mại giúp phát triển hệ thống thương mại mở sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh và sự tiếp nhận các công nghệ.

Bên cạnh những tài liệu nghiên cứu về cạnh tranh nói chung, các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và riêng ngành ngân hàng cũng được nhiều tác giả nước ngoài tập trung nghiên cứu trong thời gian qua. Tác giả Paolo Coccorese đã thực hiện nghiên cứu “ Đánh giá các điều kiện cạnh tranh của hệ thống ngân hàng tại Ý: Một số bằng chứng thực nghiệm” [90] nhằm xác định mức độ cạnh tranh, các đặc điểm chính của thị trường ngân hàng và đưa ra một số khuyến nghị đối với hệ thống ngân hàng tại Ý trong giai đoạn 1988 - 1996. Kết quả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng Ý giai đoạn 1988 - 1996 kiếm được doanh thu nếu trong điều kiện cạnh tranh độc quyền. Thông qua phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường và hiệu quả của ngân hàng.

Nghiên cứu chỉ ra rằng lợi nhuận của ngân hàng tỷ lệ nghịch với tài sản của ngân hàng và tỷ lệ thuận với vốn chủ sở hữu. Nghiên cứu của Michael Dunford, Helen Louri và Manfred Rosenstock về “Sự cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và các chính sách của doanh nghiệp” [86]. Ông cho rằng “đối với kinh tế vi mô, doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp đạt được các cải thiện bình quân về chất lượng hàng 10 hóa và dịch vụ cùng với/hoặc giảm chi phí liên quan nhằm cho phép doanh nghiệp tặng lợi nhuận và/hoặc thị phần lớn hơn”. Khi nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự cạnh tranh của ngành ngân hàng vào năm 2003, “Yếu tố nào thúc đẩy cạnh tranh ngân hàng? Một số bằng chứng quốc tế” [92], Tác giả Stijn Claessens và Luc Laeven đã cho thấy sự gia tăng hiện diện của các ngân hàng nước ngoài và sự giảm thiểu các quy định hạn chế hoạt động trong ngành ngân hàng có thể giúp cho hệ thống ngân hàng tăng khả năng cạnh tranh.

“Nghiên cứu so sánh hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Châu Âu” [80]. Nghiên cứu được tiến hành vào năm 2003 bởi Barbara Casu và Philip Molyneux nhằm phân tích cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Châu Âu trong bối cảnh thị trường Châu Âu thống nhất trong giai đoạn 1993-1997. Kết quả nghiên cứu cho thấy kể từ khi có chương trình thị trường Châu Âu thống nhất, mức hiệu quả hoạt động của ngân hàng có sự cải thiện nhẹ. Ngoài ra, sự khác biệt giữa các thị trường ngân hàng ở các quốc gia ở Châu Âu chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố riêng của từng quốc gia.

Trong bài viết “Khái niệm về năng lực cạnh tranh của lĩnh vực tài chính” của tác giả Mamiko Yokoi-Arai và Naoyuki Yoshino [85]. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được xác định bởi các yếu tố như sau: Sự hiệu quả của hoạt động kinh doanh (ROA, ROE, năng lực quản lý tài chính), Quy mô (Thị phần tiền gửi và cho vay, Quy mô doanh số bán lẻ: số chi nhánh, quy mô tài sản), Công nghệ thông tin (hệ thống quản trị dữ liệu), Quản lý nguồn lực (Quản lý nguồn nhân lực, quản lý doanh nghiệp). Nhằm khám phá mối tương quan giữa khả năng cạnh tranh và hiệu quả của ngành ngân hàng và tăng trưởng kinh tế ở Ai Cập, tác giả Sunil S. Poshakwale và Binsheng Qien (2011) đã thực hiện nghiên cứu với chủ đề “Năng lực cạnh tranh và hiệu quả của ngành ngân hàng và tăng trưởng kinh tế ở Ai cập” [93], nghiên cứu cho thấy chương trình cải cách tài chính tại Ai Cập có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến năng lực cạnh tranh của 11 ngành ngân hàng trong giai đoạn từ 1992 - 2007.

Ngoài ra, ngân hàng nhà nước có năng lực cạnh tranh thấp hơn so với ngân hàng tư nhân; và ngân hàng nước ngoài có năng lực cạnh tranh thấp hơn so với ngân hàng trong nước. Nghiên cứu của Rosita Suhaimi và cộng sự về “Thực hành quản lý quan hệ khách hàng và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại ở Kenya” [91]. Cho thấy mối tương quan thuận giữa quản lý quan hệ khách hàng và năng lực tiếp thị đã gián tiếp tác động đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại tại Kenya. Ngược lại, các yếu tố thuộc về tổ chức như số năm hoạt động, quy mô tổ chức, cơ cấu sở hữu, nhóm khách hàng, uy tín hoạt động, thời gian thực hiện quản trị quan hệ khách hàng và trình độ công nghệ không thể hiện mối tương quan có ý nghĩa thống kê đối với năng lực cạnh tranh của tổ chức.

Một nghiên cứu khác của Rosita Suhaimi và các cộng sự về “Hiệu quả lợi nhuận và năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng ở Malaysia” [91]. Cho thấy hiệu quả lợi nhuận và năng lực cạnh tranh có mối tương quan đạt ý nghĩa thống kê tại các ngân hàng tại Malaysia. Osmis Areda Habte đã thực hiện đề tài về “Điều kiện cạnh tranh trong hệ thống Ngân hàng ở Thụy Điển” [88]. Nghiên cứu tập trung đánh giá về các ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính đến khả năng cạnh tranh của trong hệ thống Ngân hàng Thụy Điển giai đoạn 2003 - 2010.

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các ngân hàng thương mại hoạt động trong môi trường cạnh tranh cao hơn so với các ngân hàng tiết kiệm. Ngoài ra, năng lực cạnh tranh của ngân hàng có sự sụt giảm nhẹ sau giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu trong giai đoạn 2003-2010.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế" tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam trong bối cảnh hội nhập toàn cầu. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về chiến lược, mô hình quản lý, và các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời đưa ra các khuyến nghị thiết thực cho các nhà quản lý và chính sách. Đây là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực ngân hàng và tài chính trong bối cảnh kinh tế quốc tế đầy biến động.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Bắc Ninh, nghiên cứu này tập trung vào chiến lược phát triển tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, một khía cạnh quan trọng trong năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ nâng cao chất lượng cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng Agribank Nghệ An cung cấp góc nhìn về chất lượng dịch vụ tín dụng, yếu tố then chốt trong cạnh tranh ngân hàng. Cuối cùng, Luận văn nâng cao hiệu quả huy động vốn tiền gửi sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về chiến lược huy động vốn, một phần không thể thiếu trong năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại.