phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục; Luận án đƣợc trình bày trong 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng I: Tổng quan các nghiên cứu về môi trƣờng kinh doanh. Chƣơng II: Cơ sở lý luận về môi trƣờng kinh doanh cho doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Chƣơng III: Thực trạng môi trƣờng kinh doanh vùng Đông Nam bộ. Chƣơng IV: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện môi trƣờng kinh doanh vùng Đông Nam bộ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MÔI TRƢỜNG KINH DOANH Cùng với sự biến động không ngừng của tình hình kinh tế - xã hội cũng nhƣ nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam, yêu cầu về việc cải thiện MTKD nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, nâng cao năng suất ngày càng đƣợc đặt ra cấp thiết. Từ sự đòi hỏi này, nhiều các công trình nghiên cứu về MTKD đã đƣợc thực hiện với các nhóm nội dung: 1. Các yếu tố cấu thành môi trƣờng kinh doanh Lê Danh Vĩnh (2009) cho rằng môi trƣờng kinh doanh đƣợc cấu thành từ 2 nhóm nhân tố: (1) thể chế chính thức và (2) thể chế phi chính thức. Đích hƣớng đến của quá trình hội nhập quốc tế là việc giảm thiểu tối đa khả năng hoạt động của thể chế phi chính thức và cần sự can thiệp, hỗ trợ của Nhà nƣớc trong việc hiện thực hoá, hữu ích hoá các điều kiện của thể chế chính thức.
Quá trình này đòi hỏi phải có sự minh bạch cũng nhƣ một lộ trình cụ thể trong việc đƣa ra các “luật chơi” công bằng cho tất cả các hình thức kinh doanh. Mặt khác, tác giả cho thấy việc cải cách thể chế ở Việt Nam trong giai đoạn 2002- 2006 để thực hiện các yêu cầu của hiệp định thƣơng mại Việt Nam – Hoa Kỳ thông qua các pháp lệnh và luật đƣợc ban hành và sửa đổi qua các năm. Bên cạnh đi sâu trình bày về thể chế môi trƣờng kinh doanh Việt Nam, tác giả còn tập trung vào môi trƣờng kinh doanh và các tiêu chí đánh giá môi trƣờng kinh doanh của các tổ chức trong nƣớc (VCCI, VNCI: chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh/thành – PCI) và quốc tế (WB, IFC: chỉ số thuận lợi kinh doanh – BEI; đại học Harvard và Diễn đàn Kinh tế Thế giới - WEF: chỉ số môi trƣờng thƣơng mại – ETI). Tác giả đƣa ra các quan điểm và định hƣớng hoàn thiện thể chế môi trƣờng kinh doanh ở Việt Nam, theo đó việc hoàn thiện thể chế môi trƣờng kinh doanh phải quán triệt bốn điểm chính.
Tác giả đề xuất các nhóm 9 giải pháp chung hoàn thiện thể chế môi trƣờng kinh doanh, thực thi các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế. Phạm Huy Vinh và Trần Khánh Hƣng (2011) xác định những nhân tố tác động và chức năng của thể chế trong nền kinh tế. Theo các tác giả, có 3 nhân tố chính hình thành nên thể chế kinh tế: nhà nƣớc, thị trƣờng và các chủ thể kinh tế hoạt động theo các kiểu lợi ích khác nhau. Trong đó: Nhà nƣớc điều tiết các hoạt động kinh tế thông qua các chính sách kinh tế, thị trƣờng điều tiết cung – cầu và giá cả hàng hóa, các doanh nghiệp hoạt động dựa trên tiêu thức lợi nhuận.
Ngoài ra, thể chế kinh tế còn chịu tác động của một số nhân tố khác nhƣ: trình độ phát triển kinh tế - xã hội, chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, cơ chế quản lý, trình độ năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện luật, ý thức chấp hành luật của doanh nghiệp,… Tác giả cũng nêu những thành tựu nổi bật trong môi trƣờng kinh doanh Việt Nam nhƣ: (i) Nguyên tắc pháp quyền ngày càng đƣợc khẳng định và phát huy hiệu quả trong các hoạt động nền kinh tế, nếu trƣớc đây Nhà nƣớc quản lý kinh tế - xã hội chủ yếu bằng chính sách, nghị quyết và mệnh lệnh hành chính thì nay đã đƣợc pháp luật hóa; (ii) tạo đƣợc khuôn khổ pháp lý cho việc xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và (iii) dân chủ hóa đời sống kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, một số hạn chế cũng đƣợc tác giả chỉ ra nhƣ: tính bình đẳng trong môi trƣờng kinh doanh giữa các thành phần kinh tế và sự mâu thuẫn giữa các quy định, thẩm quyền ban hành các thể chế quá rộng rãi, giao cho nhiều cơ quan, cải cách hành chính vẫn còn chậm. Boddewyn và Brewer (1994) cho rằng môi trƣờng kinh doanh phụ thuộc rất lớn vào thể chế kinh tế của các quốc gia. Với đặc thù thể chế khác nhau là điều kiện hình thành nên những đặc trƣng môi trƣờng kinh doanh khác nhau.
Ba cấu thành quan trọng của hệ thống thể chế gồm có thể chế chính thức (thành văn, nhƣ luật lệ), thể chế phi chính thức (bất thành văn, nhƣ tục lệ và các quy tắc xử thế), và các cơ chế và biện pháp chế tài. Có nhiều bằng chứng cho thấy các doanh nghiệp trong các nền kinh tế khác nhau, sẽ phản ứng khác nhau với cùng một loại thách thức (Knetter, 1989). Xã hội, kinh tế, chính trị và các yếu tố cấu thành một cơ cấu thể chế trong một môi trƣờng cụ thể có thể tạo ra lợi thế cho các doanh nghiệp khi tham gia vào các hoạt động cụ thể ở đó. Các doanh nghiệp có xu hƣớng thực hiện hiệu quả hơn nếu họ nhận đƣợc sự hỗ trợ về thể chế từ nhà nƣớc.
Theo VCCI, môi trƣờng kinh doanh đƣợc đánh giá dƣới 10 yếu tố cấu thành: chi phí gia nhập thị trƣờng, tiếp cận đất đai, tính minh bạch, chi phí thời gian, chi phí không chính thức, cạnh tranh bình đẳng, tính năng động, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, đào tạo lao động và thiết chế pháp lý. Hay GEM lại cho rằng bên cạnh các yếu tố cơ bản nhƣ: thể chế, cơ sở hạ tầng, ổn định kinh tế vĩ mô, giáo dục thì môi trƣờng kinh doanh là một động thái trong đó có sự chi phối mạnh mẽ bởi bối cảnh kinh tế - xã hội và đặc trƣng văn hoá của quốc gia. Môi trƣờng kinh doanh có thể ảnh hƣởng đến tác động lan tỏa theo nhiều cách. Một trong những cách ảnh hƣởng quan trọng nhất đƣợc nêu rất chi tiết trong lý thuyết là thông qua cạnh tranh.
Theo đó, có sự tƣơng quan thuận giữa cạnh tranh và sức mạnh của lan tỏa. Abraham và cộng sự (2006) kết luận rằng tác động lan tỏa chỉ tích cực trong những lĩnh vực có mức độ cạnh tranh cao. Sự cạnh tranh đóng vai trò nhƣ chất xúc tác, qua đó giúp các doanh nghiệp trong nƣớc nâng cao hiệu suất. Sự gia tăng số lƣợng của các đối thủ cạnh tranh sẽ thúc đẩy nâng cao chất lƣợng để thu hút khách hàng hoặc tối thiểu hóa chi phí nhằm giảm giá thành, tăng thị phần.
Có nhiều công ty hoạt động trong cùng thị trƣờng cũng làm tăng khả năng doanh nghiệp thu đƣợc tác 11 động lan tỏa tích cực. Mặc dù vậy, sự cân bằng giữa cạnh tranh và lợi nhuận trung bình thấp khi cạnh tranh xảy ra cũng nên đƣợc cân nhắc. Báo cáo môi trƣờng kinh doanh của WB/IFC: dựa vào các cuộc điều tra từ các công ty tƣ vấn luật, đánh giá mức độ thuận lợi của các quốc gia thông qua việc rà soát những quy định pháp luật thúc đẩy hoặc kìm hãm các hoạt động của doanh nghiệp trong từng lĩnh vực nhƣ thành lập doanh nghiệp, tuyển dụng và sa thải lao động, thực thi hợp đồng, vay vốn, đóng cửa kinh doanh, cấp giấy phép, đóng thuế, thƣơng mại quốc tế, bảo vệ nhà đầu tƣ và đăng kí bất động sản. Nhƣ vậy, báo cáo không tính đến các yếu tố nhƣ các chính sách kinh tế vĩ mô, chất lƣợng cơ sở hạ tầng hay biến động tiền tệ.
Cụ thể, trong Báo cáo môi trường kinh doanh 2020 của ngân hàng Thế giới www.orgkhảo sát môi trƣờng kinh doanh của 189 nền kinh tế trên thế giới. Trong đó New Zealand đứng đầu về môi trƣờng kinh doanh thuận lợi, tiếp theo là Hong Kong, Trung Quốc, Singapore,…Việt Nam đứng vị trí thứ 70/190 quốc gia, là nƣớc đứng đầu trong khu vực Đông Nam Á – Thái Bình Dƣơng trong việc thực hiện cải cách cho môi trƣờng kinh doanh.Việt Nam cải thiện hệ thống thông tin tín dụng bằng một nghị định thành lập một khuôn khổ pháp lý cho thành lập các tổ chức tín dụng tƣ nhân, tăng cƣờng việc bảo hộ các nhà đầu tƣ trong các trƣờng hợp giao dịch có liên quan đến các bên. Tuy nhiên, khả năng bảo vệ nhà đầu tƣ của Việt Nam xếp hạng thấp nhất trong 10 lĩnh vực, đứng thứ 157 trong số 190 nƣớc. Trong lĩnh vực thuế, doanh nghiệp mất tới một phần ba thời gian làm việc trong năm để đi đóng thuế - 872 giờ đồng hồ, gấp 10 lần so với Singapore.
Đó là những hạn chế trong môi trƣờng kinh doanh ở Việt Nam đƣợc báo cáo nêu rõ. Báo cáo chỉ số tự do kinh tế IEF của tổ chức Heritage Foundation chủ yếu dựa vào những chính sách và môi trƣờng vĩ mô để đánh giá mức độ can thiệp của chính phủ vào các hoạt động doanh nghiệp và là một chỉ số trung bình của 10 yếu tố bao quát nhiều chủ điểm khác nhau của nền kinh tế nhƣ chính sách thƣơng mại, chính sách tài khóa, tiền tệ, luồng vốn vào – ra, đầu tƣ 12 nƣớc ngoài, tài chính và ngân hàng, giá cả và tiền lƣơng, luật sở hữu và thị trƣờng phi chính thức. Báo cáo chỉ số cạnh tranh toàn cầu GCI của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thì dựa trên những số liệu thống kê đƣợc công bố rộng rãi tại mỗi quốc gia và cả những số liệu khảo sát đƣợc cung cấp bởi các đối tác là các viện nghiên cứu về kinh tế, các tổ chức kinh doanh tại địa phƣơng và các công ty đa quốc gia lớn trên thế giới. Báo cáo của WEF nhằm cung cấp một bức tranh tổng thể về những yếu tố đang tác động đến môi trƣờng kinh doanh của mỗi nền kinh tế cũng nhƣ khả năng của mỗi quốc gia đạt đƣợc sự bền vững trong tăng trƣởng và phát triển.
Báo cáo chỉ số môi trƣờng kinh doanh BCI của Phòng Thƣơng mại Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham), chỉ số này đƣợc hình thành dựa trên mức độ cảm nhận trực tiếp của gần 800 doanh nghiệp Châu Âu là hội viên của EuroCham đang hoạt động trên thị trƣờng Việt Nam.