Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học với đề tài "Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng mô hình chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay" được tác giả Nguyễn Thị Liên Phương thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2022.

Nghiên cứu xuất phát từ vị trí, vai trò kinh tế - xã hội đặc biệt của Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố có diện tích 2.095 km², chiếm 0,63% diện tích cả nước, dân số trên 7,4 triệu người (chiếm 8,6% dân số cả nước), đóng góp khoảng 21,5% GDP và 35,2% tổng thu ngân sách quốc gia. Cơ cấu hành chính gồm 24 đơn vị (19 quận, 5 huyện) với 322 phường, xã, thị trấn. Về mặt thể chế, việc xây dựng mô hình chính quyền đô thị (CQĐT) là sự cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước: Nghị quyết số 17-NQ/TW năm 2007 (Hội nghị Trung ương 5 khóa X), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VIII (2005), Kết luận ngày 06/07/2012 của Bộ Chính trị về tổng kết Nghị quyết số 20-NQ/TW (khóa IX), Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

Khoảng trống nghiên cứu được chỉ ra từ bất cập thực tiễn: mô hình chính quyền địa phương hiện hành bị cắt khúc thành nhiều cấp, vận hành theo cơ chế hành chính rập khuôn như địa bàn nông thôn; thiếu các cơ chế phân cấp, ủy quyền tương xứng; nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và lãnh thổ làm phát sinh tình trạng "quyền lực ngành"; chế độ tập thể lãnh đạo của Ủy ban nhân dân (UBND) làm mờ trách nhiệm cá nhân người đứng đầu, dẫn đến phản ứng chậm trong điều hành một đại đô thị năng động.

Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình tổ chức CQĐT; phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và vận hành của CQĐT Thành phố Hồ Chí Minh; từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp xây dựng mô hình tổ chức CQĐT phù hợp với đặc thù của thành phố.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tổng quan các công trình nghiên cứu, chỉ ra những vấn đề liên quan đến CQĐT tại Việt Nam mà các nghiên cứu trước chưa đề cập đầy đủ; làm rõ cơ sở lý luận về CQĐT, kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng mô hình tổ chức CQĐT tại Việt Nam (căn cứ lý luận, cơ sở chính trị, pháp lý).
  3. Khảo sát thực trạng, chỉ ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề cần khắc phục trong tổ chức và hoạt động của CQĐT Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
  4. Đề xuất phương hướng và giải pháp xây dựng mô hình tổ chức CQĐT phù hợp với đặc điểm của Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mô hình tổ chức của CQĐT.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung làm rõ thực trạng mô hình tổ chức và hoạt động của CQĐT Thành phố Hồ Chí Minh để đề xuất mô hình tổ chức CQĐT phù hợp.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực trạng CQĐT Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013 đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu (năm 2022).

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Vì sao phải xây dựng mô hình tổ chức CQĐT ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới?
  2. Hiện tại tổ chức và hoạt động của CQĐT tại Thành phố Hồ Chí Minh đang ở mức độ như thế nào?
  3. Những định hướng, giải pháp xây dựng mô hình tổ chức của CQĐT Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là gì?

Giả thuyết khoa học:

  1. Mô hình CQĐT phù hợp là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó tạo ra động lực phát triển kinh tế - xã hội.
  2. Tổ chức và hoạt động của CQĐT Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có nhiều bất cập, cần có những điều chỉnh cần thiết cho phù hợp với các tiêu chí của CQĐT hiện đại.
  3. Cần đề xuất các giải pháp khả thi cho việc xây dựng mô hình CQĐT Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại hệ thống tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo các nhóm hướng nghiên cứu:

Tình hình nghiên cứu ngoài nước:

  • Lý thuyết phát triển đô thị: Ash và Nigel Thrift (2002) phân tích việc kết hợp các chuỗi đô thị để cải thiện cung ứng dịch vụ công; Neil Brenner, David J. Madden và David Wachsmuth (2010), Edward Soja (2000), Simon Parker (2015), K. Newton (1984), J. Molotch (1987, 1995), Neil Brenner và Christian Schmid (2012), Ricky Burdett và Deyan Sudjic (2006), Ignacio Farías và Thomas Bender (2010) nghiên cứu sự biến đổi không gian đô thị, hiện tượng tập trung dân cư và các áp lực đối với quản trị công.
  • Kinh nghiệm tổ chức chính quyền đô thị Tokyo (Nhật Bản): Akira Nakamura (1997), Kurt Steiner (1965), Kimihiko Kitamura (1983), Hiromi Muto (1997), Nobuo Sasaki (1998), Smith (2000), Yasuo Miyakawa, Yousuke Isozaki (1997), Junshichiro Yonehara (1993) tổng kết mô hình phân quyền mạnh, bảo đảm quyền tự chủ của chính quyền địa phương trong cung ứng dịch vụ công.
  • Quản lý xã hội đô thị và dịch vụ công: Louis Wirth tiếp cận đô thị học dưới góc độ xã hội học; Kimberly L. Wood và Gerald T. Gabris đề xuất phân cấp cho khu vực tư nhân và xã hội dân sự tại Chicago.
  • Cấu trúc, mô hình tổ chức chính quyền: William R. Barnes (1991) phân loại các mô hình chính quyền đô thị tại Mỹ; Frank Staniszewski nghiên cứu cải cách tại Austin; Alexey Konov (2000-2004) khảo sát cải cách hành chính và dịch vụ công tại Liên bang Nga; James E. Rauch khảo sát dịch vụ công tại các đô thị Mỹ thời kỳ tiến bộ; Olivier Borraz và Patrick Le Galès nghiên cứu quản trị đô thị châu Âu; Ram Narayan Prasad nghiên cứu tự quản địa phương đô thị tại Ấn Độ theo Đạo luật sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Tình hình nghiên cứu trong nước:

  • Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế: Luận án tiến sĩ luật học của Phạm Văn Đạt (2012); nghiên cứu kinh nghiệm các thành phố Berlin, Paris, Seoul, New York, Bắc Kinh của Lê Anh Tuấn.
  • Khảo sát, tổng kết mô hình chính quyền đô thị tại Việt Nam: Trần Kim Yến phân tích cơ sở hiến pháp và hành chính; Kỷ yếu hội thảo khoa học năm 2007 do Phan Xuân Biên chủ biên (với các bài viết của Lê Văn Yên, Trương Thị Hiền, Vũ Thế Truyền, Nguyễn Đình Tư, Hồ Bá Thâm, Nguyễn Minh An, Lê Thanh Bình, Lê Văn Chấn, Nguyễn Đình Thống); Đề tài nghiên cứu cấp tỉnh năm 2015 do Phạm Minh Tuấn chủ nhiệm khảo sát việc thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân (HĐND) quận, huyện, phường; nghiên cứu tình huống Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng năm 2013 của Trường Đại học Kinh tế - Luật Thành phố Hồ Chí Minh và Quỹ Châu Á; các bài viết trên tạp chí chuyên ngành của Lưu Tiến Minh, Nguyễn Hữu Hải, Đào Thị Thanh Thủy, Nguyễn Hữu Đức, Phạm Thị Kim Giao, Nguyễn Minh Phương, Phạm Hồng Thái.
  • Hoàn thiện thể chế và tổ chức bộ máy: Các nghiên cứu về tổ chức HĐND của Nguyễn Đình Lộc, Lưu Thiên Hương, Bùi Xuân Đức; báo cáo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HIDS) về tản quyền và phân cấp; "Đề án thí điểm mô hình chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh" năm 2012 và việc Quốc hội ban hành Nghị quyết số 54/2017/QH14 về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh; các bài báo khoa học của Cao Vũ Minh (2020) và Trần Thị Thu Hà (2020) về vị trí pháp lý và thẩm quyền của thành phố Thủ Đức.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định giải quyết: Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận dựa trên nghiên cứu tài liệu bàn giấy, chưa xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá mô hình CQĐT phù hợp với đặc thù kinh tế - xã hội của một đô thị loại đặc biệt; chưa đánh giá toàn diện cơ chế tổ chức bộ máy mới kể từ khi Đề án chính quyền đô thị được tái khởi động lại vào tháng 10/2019 (tổ chức mô hình một cấp chính quyền và hai cấp hành chính, không tổ chức HĐND cấp quận, phường; mô hình thành phố trong thành phố đối với thành phố Thủ Đức); chưa thiết kế các phương án cụ thể về sắp xếp lại cơ quan chuyên môn theo khối quản lý tổng hợp và chuyên ngành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và phương pháp luận: Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng bộ máy nhà nước, cải cách hành chính và tổ chức chính quyền địa phương.

Khái niệm và khung phân tích:

  • Luận án sử dụng định nghĩa về đô thị theo Luật Quy hoạch đô thị năm 2009; phân tích quy định về chính quyền địa phương tại Điều 111 Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (các điều 23, 30, 37, 44, 51, 58).
  • CQĐT được xác định là một hình thức của chính quyền địa phương (hoặc là một bộ phận của chính quyền địa phương), được thiết lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa bàn đô thị, phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội, quy hoạch và nếp sống thị dân.
  • Khung tiêu chí của CQĐT gồm 3 trụ cột: (1) Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, giảm tầng nấc trung gian, người đứng đầu chính quyền do dân bầu trực tiếp hoặc được phân định rõ trách nhiệm cá nhân; (2) Tính tự quản lớn về quy hoạch, ngân sách, nhân sự và cung ứng dịch vụ công; (3) Tính phân cấp, phân quyền rõ ràng giữa trung ương và địa phương, giữa các cấp hành chính nội bộ đô thị.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp phân tích và so sánh: Phân tích các văn bản quy phạm pháp luật, chỉ thị, nghị quyết; so sánh kinh nghiệm xây dựng CQĐT của một số quốc gia và so sánh các chỉ tiêu phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh với cả nước.
  • Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa thực tiễn quản lý đô thị qua các giai đoạn thí điểm thể chế.
  • Phương pháp khảo cứu tài liệu: Thu thập và hệ thống hóa tài liệu lý luận, văn kiện của Đảng, các báo cáo đánh giá của các cơ quan nhà nước.
  • Phương pháp thu thập số liệu thống kê: Sử dụng số liệu chính thức từ Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, Thành ủy, UBND Thành phố Hồ Chí Minh và báo cáo thống kê của các sở, ban, ngành, quận, huyện.
  • Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn sâu các nhóm đối tượng: chuyên gia nghiên cứu về CQĐT, lãnh đạo và nguyên lãnh đạo UBND thành phố, lãnh đạo HĐND, Mặt trận Tổ quốc, các sở, quận, phường, đại diện doanh nghiệp và người dân (tập trung vào mức độ hài lòng đối với dịch vụ hành chính công như cấp phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đăng ký kinh doanh).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước về quản trị đô thị và chính quyền đô thị theo 3 tiết nội dung. Luận án trích dẫn chi tiết công trình của William R. Barnes (1991) về 4 mô hình tổ chức chính quyền đô thị chủ yếu tại Mỹ:

Tên mô hình chính quyền Cơ cấu tổ chức và phương thức vận hành Tỷ lệ áp dụng và phạm vi
Mô hình Giám đốc - Hội đồng (Council-Manager) Hội đồng thành phố giám sát hành chính tổng thể, hoạch định chính sách, lập ngân sách. Hội đồng bổ nhiệm người quản lý chuyên nghiệp điều hành công việc hàng ngày. Thị trưởng thường do hội đồng bầu luân phiên. Tăng từ 48% (1996) lên 55% (2006). Phổ biến nhất ở các thành phố trên 10.000 dân (Phoenix, Topeka, San Antonio, Rockville).
Mô hình Thị trưởng - Hội đồng (Mayor-Council) Thị trưởng được dân bầu độc lập, làm việc chuyên trách, có quyền hành chính và ngân sách lớn (thị trưởng mạnh hoặc yếu). Hội đồng giữ quyền lập pháp. Một số nơi có người quản lý chuyên nghiệp hỗ trợ. Chiếm 34% các thành phố được khảo sát bởi ICMA; phổ biến ở các thành phố lớn lâu đời (New York, Houston, Salt Lake, Minneapolis).
Mô hình Ủy ban (Commission) Cử tri bầu từng ủy viên vào ban điều hành. Mỗi ủy viên phụ trách một lĩnh vực chuyên môn (chữa cháy, cảnh sát, y tế, tài chính, công trình công cộng). Một người giữ chức chủ tịch hoặc thị trưởng. Chiếm dưới 1% số thành phố, chủ yếu ở các đô thị dưới 100.000 dân (Sunrise, Fairview).
Mô hình Đại hội đồng thành phố (Town Meeting) Tất cả cử tri họp trực tiếp để quyết định chính sách và bầu các quan chức hành chính (thị trưởng) thực thi chính sách đó. Chiếm khoảng 5% số đô thị trên thế giới, chủ yếu ở các thị trấn quy mô nhỏ.

Chương 1 khẳng định kinh nghiệm quốc tế cho thấy các mô hình CQĐT đều hướng tới việc tinh giản cấp trung gian, tăng quyền tự chủ ngân sách và tăng trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, việc áp dụng vào Việt Nam đòi hỏi phải phù hợp với thể chế chính trị một đảng lãnh đạo và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng mô hình tổ chức chính quyền đô thị ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 làm rõ bản chất lý luận, các tiêu chí và lịch sử lập hiến, lập pháp của mô hình chính quyền đô thị tại Việt Nam:

  • Lược sử thể chế: Sắc lệnh số 63/SL (23/11/1945) và Sắc lệnh số 77/SL (21/12/1945) đã phân định rõ chính quyền nông thôn gồm 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) và đô thị gồm 2 cấp (thành phố, khu phố); cấp kỳ, huyện và khu phố không tổ chức HĐND mà chỉ có ủy ban hành chính. Luật số 110-SL/L ngày 31/05/1958 tiếp tục xác lập nguyên tắc này. Hiến pháp năm 1980 chuyển đổi các thành phố trực thuộc trung ương thành 3 cấp đồng nhất (thành phố - quận - phường), đều tổ chức HĐND và UBND, làm mờ sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn. Hiến pháp năm 2013 (Điều 111) đã khôi phục nguyên tắc phân biệt tổ chức chính quyền phù hợp với địa bàn nông thôn, đô thị, hải đảo.
  • Các tiêu chí của CQĐT: (1) Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, giảm đầu mối trung gian; (2) Tính tự quản lớn về ngân sách, biên chế nhân sự, quy hoạch không gian; (3) Tính phân cấp, phân quyền mạch lạc.
  • Các yêu cầu đối với mô hình CQĐT: Phải bảo đảm tính thống nhất, liên thông, đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật và không gian kinh tế - xã hội; không chia cắt địa giới hành chính theo kiểu cát cứ; bảo đảm cơ chế kiểm soát quyền lực và quyền làm chủ của nhân dân khi không tổ chức HĐND cấp quận, phường.

Chương 3: Mô hình chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay – Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Chương 3 phân tích thực trạng tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý của Thành phố Hồ Chí Minh dựa trên số liệu và các văn bản chỉ đạo:

  • Đặc điểm phát triển: Thành phố giữ vai trò trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước (đóng góp 21,5% GDP, 35,2% ngân sách), nhưng tổ chức bộ máy 24 quận, huyện và 322 phường, xã, thị trấn vận hành theo cấu trúc hành chính 3 cấp rập khuôn gây cản trở cho sự phát triển.
  • Thí điểm mô hình quản lý: Thành phố đã thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường theo Nghị quyết số 26/2008/NQ-QH12 và các Nghị quyết số 724, 725/2009/UBTVQH12 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đánh giá cho thấy việc tinh giảm này giúp các quyết định hành chính được triển khai nhanh hơn, giảm bớt đầu mối trung gian, nhưng chưa đồng bộ do khung pháp lý chung chưa được sửa đổi.
  • Triển khai cơ chế đặc thù: Nghị quyết số 54/2017/QH14 của Quốc hội đã thí điểm cho thành phố một số thẩm quyền: quyết định chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa từ 10 ha trở lên; quyết định chủ trương đầu tư các dự án nhóm A sử dụng ngân sách thành phố; đề xuất tăng mức thuế hoặc thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường không quá 25%; chi thu nhập bình quân tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức không quá 1,8 lần mức lương ngạch bậc, chức vụ; cho phép Chủ tịch UBND thành phố ủy quyền cho Chủ tịch UBND cấp huyện.
  • Bảng 3.1 của luận án thống kê một số tiêu chí đơn vị hành chính đô thị đối với thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (cơ sở hình thành thành phố Thủ Đức).
  • Hạn chế, bất cập: Trách nhiệm, thẩm quyền giữa cấp thành phố và quận/huyện chưa rạch ròi; chế độ làm việc tập thể của UBND cấp thành phố không phù hợp với yêu cầu xử lý nhanh của một đô thị lớn; xuất hiện sự chồng chéo giữa quản lý ngành dọc (các sở) và quản lý lãnh thổ (quận, huyện); mức độ hài lòng của người dân đối với thủ tục hành chính công còn hạn chế.

Chương 4: Phương hướng, giải pháp xây dựng mô hình tổ chức chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Chương 4 đề xuất định hướng và các nhóm giải pháp xây dựng mô hình CQĐT:

  • Phương hướng cơ bản: Xây dựng chính quyền đô thị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; chuyển từ chính quyền điều hành thụ động sang chính quyền kiến tạo phát triển; bảo đảm quản lý thống nhất, thông suốt trên toàn địa bàn.
  • Đổi mới mô hình tổ chức bộ máy: Tổ chức mô hình một cấp chính quyền (cấp thành phố gồm HĐND và UBND) và hai cấp hành chính (quận/huyện và phường/xã chỉ tổ chức UBND với tư cách là cơ quan hành chính đại diện, không tổ chức HĐND). Luận án xây dựng và phân tích 3 phương án mô hình tổ chức (được trực quan hóa qua 11 phụ lục sơ đồ trong luận án):
    • Phương án 1 (Phụ lục 1 - 4): Giữ nguyên mô hình phân định cơ quan chuyên môn truyền thống nhưng tinh giản cấp HĐND ở quận, phường.
    • Phương án 2 (Phụ lục 5 - 8): Tổ chức chính quyền thành phố trực thuộc trung ương kết hợp các thành phố vệ tinh thuộc thành phố.
    • Phương án 3 (Phụ lục 9 - 11): Thiết kế mô hình cơ quan chuyên môn trực tiếp giúp việc Thị trưởng thành phố, chuyển đổi mạnh mẽ chức năng quản lý hành chính sang chế độ thủ trưởng điều hành.
  • Thành lập mô hình thành phố trong thành phố: Tổ chức thành phố Thủ Đức trên cơ sở sáp nhập Quận 2, Quận 9 và quận Thủ Đức, phân cấp thẩm quyền quản lý kinh tế, ngân sách và quy hoạch tương đương cấp đô thị loại một.
  • Sắp xếp lại cơ quan chuyên môn: Phân nhóm các cơ quan quản lý tổng hợp (Tài chính, Nội vụ, Kế hoạch và Đầu tư, Tư pháp) - không cần đặt văn phòng đại diện tại mọi địa bàn; các sở quản lý chuyên ngành (Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, Y tế, Giáo dục và Đào tạo) tổ chức quản lý theo mạng lưới liên quận, huyện.
  • Đổi mới cơ chế phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức: Mở rộng phân quyền tài chính, ngân sách; chuẩn hóa ngạch công chức theo vị trí việc làm và thực hiện chế độ tuyển dụng công khai, cạnh tranh.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Luận án hệ thống hóa các quan niệm, tiêu chí khoa học về CQĐT; phân tích rõ sự khác biệt giữa tính chất quản lý nhà nước ở địa bàn đô thị với nông thôn.
  • Làm sáng tỏ cơ sở chính trị, pháp lý và tính kế thừa lịch sử của việc tổ chức mô hình chính quyền không có HĐND ở cấp quận, phường tại Việt Nam từ các Sắc lệnh năm 1945 đến Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Phân tích toàn diện thực trạng tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ rõ nguyên nhân của sự thiếu đồng bộ giữa các quy định của luật chung với đòi hỏi của một siêu đô thị.
  • Đánh giá tác động thực tế của việc thực hiện Nghị quyết số 54/2017/QH14 và quá trình khởi động lại Đề án chính quyền đô thị từ tháng 10/2019.
  • Đề xuất 3 phương án sơ đồ tổ chức bộ máy chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn; kiến nghị cơ chế phân quyền, ủy quyền giữa cấp thành phố và thành phố thuộc thành phố (mô hình thành phố Thủ Đức); phân loại, cơ cấu lại hệ thống các sở, ngành chuyên môn nhằm khắc phục tình trạng chia cắt quản lý theo ngành và theo lãnh thổ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu dưới giác độ chuyên ngành Chính trị học và khoa học hành chính, chủ yếu sử dụng phương pháp định tính và dữ liệu thứ cấp sẵn có; chưa triển khai điều tra xã hội học định lượng diện rộng về mức độ sẵn sàng thích ứng của người dân đối với mô hình chính quyền mới.
  • Do Đề án chính quyền đô thị và việc thành lập thành phố Thủ Đức mới được tái khởi động từ cuối năm 2019 và hoàn thiện khung pháp lý giai đoạn 2020-2021, luận án chưa có đủ dữ liệu thực chứng dài hạn để đánh giá hiệu quả vận hành thực tế của mô hình sau sắp xếp.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Khảo sát thực chứng, lượng hóa hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính thành phố Thủ Đức sau một chu kỳ vận hành cụ thể.
  • Nghiên cứu cơ chế kiểm soát quyền lực, phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong điều kiện không tổ chức HĐND cấp quận, phường.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ việc hoàn thiện thể chế phân cấp, phân quyền cho Thành phố Hồ Chí Minh; là tài liệu tham khảo cho Ban Chỉ đạo cải cách hành chính, Thành ủy, HĐND và UBND thành phố trong việc sắp xếp cơ quan chuyên môn và phân cấp cho thành phố Thủ Đức.
  • Đối với công tác nghiên cứu, đào tạo: Tài liệu tham khảo chuyên khảo phục vụ học tập, nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề về tổ chức bộ máy nhà nước, chính quyền địa phương, chính trị học và quản lý hành chính công tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các trường đại học khối luật, hành chính và khoa học xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao việc áp dụng mô hình chính quyền nông thôn cho đô thị Thành phố Hồ Chí Minh bộc lộ nhiều điểm hạn chế? Theo luận án, đô thị là một chỉnh thể kinh tế - xã hội, hạ tầng kỹ thuật (điện, nước, giao thông, môi trường) liên thông và không thể chia cắt. Việc tổ chức chính quyền đô thị theo 3 cấp rập khuôn như nông thôn khiến bộ máy bị cắt khúc, chia cắt không gian phát triển, phát sinh tình trạng chồng chéo giữa quản lý ngành dọc (các sở) và quản lý lãnh thổ (quận, huyện), đồng thời chế độ tập thể lãnh đạo của UBND làm giảm tốc độ ra quyết định hành chính.

2. Tác giả William R. Barnes (1991) đã phân loại các mô hình chính quyền đô thị ở Mỹ như thế nào? Barnes chia thành 4 mô hình: (1) Mô hình Giám đốc - Hội đồng (Council-Manager, phổ biến nhất, tăng từ 48% năm 1996 lên 55% năm 2006); (2) Mô hình Thị trưởng - Hội đồng (Mayor-Council, chiếm 34%, phổ biến ở đô thị lớn); (3) Mô hình Ủy ban (Commission, dưới 1%, ở đô thị nhỏ); (4) Mô hình Đại hội đồng thành phố (Town Meeting, khoảng 5%, cử tri trực tiếp quyết định chính sách).

3. Đề án thí điểm chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh năm 2012 và phương án tái khởi động vào tháng 10/2019 có điểm khác biệt căn bản nào về cấu trúc hành chính? Đề án năm 2012 đề xuất tổ chức 4 thành phố vệ tinh trực thuộc gồm: thành phố Đông, Tây, Nam, Bắc. Phương án tái khởi động vào tháng 10/2019 tinh gọn hơn, chỉ đề xuất thành lập duy nhất một thành phố phía Đông là thành phố Thủ Đức (trên cơ sở sáp nhập Quận 2, Quận 9 và quận Thủ Đức), đồng thời tổ chức bộ máy theo hướng 1 cấp chính quyền (cấp thành phố) và 2 cấp hành chính (quận/huyện và phường/xã, không tổ chức HĐND).

4. Nghị quyết của Quốc hội khóa XIV (Nghị quyết số 54/2017/QH14) đã trao cho Thành phố Hồ Chí Minh những thẩm quyền đặc thù nổi bật nào? Nghị quyết trao quyền cho HĐND thành phố quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng lúa từ 10 ha trở lên; quyết định chủ trương đầu tư các dự án nhóm A sử dụng ngân sách thành phố; thí điểm tăng thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường không quá 25%; chi thu nhập bình quân tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức tối đa không quá 1,8 lần ngạch bậc, chức vụ; và cho phép Chủ tịch UBND thành phố ủy quyền cho Chủ tịch UBND cấp huyện thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn.

5. Luận án đề xuất cơ cấu lại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố theo nguyên tắc nào? Tác giả đề xuất chia cơ quan chuyên môn thành 2 nhóm: nhóm quản lý tổng hợp (Tài chính, Nội vụ, Kế hoạch và Đầu tư, Tư pháp) tổ chức tập trung tại cấp thành phố, không cần bố trí văn phòng đại diện tại tất cả các địa bàn quận, huyện; nhóm quản lý chuyên ngành (Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, Y tế, Giáo dục và Đào tạo) được tổ chức theo các cụm mạng lưới liên quận nhằm đảm bảo sự thống nhất chuyên môn và tiết kiệm nguồn lực.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Liên Phương là công trình nghiên cứu hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng mô hình chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã phân tích toàn diện thực trạng thể chế, các bất cập của mô hình tổ chức rập khuôn nông thôn và quá trình thực hiện các nghị quyết thí điểm cơ chế đặc thù của Trung ương. Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế và lịch sử lập hiến Việt Nam, luận án đề xuất mô hình tổ chức tinh gọn một cấp chính quyền, hai cấp hành chính, làm rõ vị trí pháp lý của thành phố Thủ Đức và xây dựng các phương án sắp xếp cơ quan chuyên môn khả thi. Công trình đóng góp luận cứ khoa học xác đáng phục vụ quá trình cải cách bộ máy nhà nước và đổi mới quản trị đô thị tại Việt Nam hiện nay.