Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật Việt Nam về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Hoàng Lan Phương tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số 9 38 01 07), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Mai Thanh và TS Nguyễn Am Hiểu, hoàn thành năm 2022.

Về tính cấp thiết, việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), thực thi Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp, Thỏa ước và Nghị định thư Madrid, cùng việc ký kết các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu nhằm tương thích với chuẩn mực quốc tế. Tại Việt Nam, quy định về chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp nói chung và nhãn hiệu nói riêng được hình thành từ thập niên 80 của thế kỷ trước và được thống nhất trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 và 2022). Tuy nhiên, thị trường chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu chưa được định hình đồng bộ; nhiều giao dịch thực tiễn phát sinh vượt khỏi dự liệu của các nhà làm luật; các quy định hiện hành bộc lộ khoảng trống và vướng mắc, làm hạn chế quyền tự do lựa chọn nội dung, hình thức của các chủ thể.

Mục đích nghiên cứu của luận án là đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn và đảm bảo sự tương thích với các cam kết quốc tế. Để hiện thực hóa mục đích này, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và xác định nội dung nghiên cứu của luận án.
  2. Phân tích, luận giải và làm rõ cơ sở lý luận cũng như cơ sở pháp luật về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu.
  3. Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực hiện pháp luật về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu dựa trên nhu cầu thực tế và cam kết quốc tế, nhận diện các ưu điểm và bất cập làm tiền đề cho việc đề xuất phương hướng hoàn thiện.
  4. Xác định định hướng chung và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả cho hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam.

Luận án đặt ra 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung và các hình thức của chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu trong giai đoạn hiện nay là gì? Tương ứng với đó là nhu cầu điều chỉnh pháp luật và nội dung pháp luật chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu là gì?
  2. Thực trạng pháp luật Việt Nam điều chỉnh về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu hiện nay như thế nào? Có những bất cập và tồn tại gì trong hệ thống pháp luật Việt Nam về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu?
  3. Định hướng và giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện nay về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu như thế nào?

Ba giả thuyết nghiên cứu tương ứng được xác lập:

  1. Cơ sở lý luận về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu trong giai đoạn hiện nay cần được xây dựng đồng bộ từ việc xác định nội dung và hình thức của giao dịch; tương ứng với đó lý luận pháp luật cần thống nhất để điều chỉnh việc giao kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng.
  2. Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành đã có các quy định tương đối cụ thể qua các chế định chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, nhượng quyền thương mại, góp vốn song vẫn còn nhiều lỗ hổng về nội dung và chưa bao quát đầy đủ các dạng hợp đồng li-xăng nhãn hiệu trong thực tiễn.
  3. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu cần được xây dựng dựa trên sự tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, các cam kết quốc tế của Việt Nam và nhu cầu thực tiễn để bảo đảm tính khả thi.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống pháp luật Việt Nam về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu, bao gồm văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và các điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam là thành viên. Về phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi thời gian: Khảo sát từ khi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 có hiệu lực đến nay; riêng nội dung về thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại cơ quan quản lý nhà nước để có hiệu lực đối với bên thứ ba chỉ nghiên cứu đến năm 2018 (do Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2019 đã bãi bỏ yêu cầu bắt buộc đăng ký này).
  • Phạm vi không gian: Thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu trên lãnh thổ Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào quan hệ chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu (licensing), không bao gồm chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu (assignment) và không bao gồm chuyển quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp khác. Đồng thời, nghiên cứu giới hạn ở môi trường kinh doanh truyền thống, không chú trọng môi trường thương mại điện tử.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia theo các nhóm hướng nghiên cứu chính cả ở trong và ngoài nước:

Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu về nhãn hiệu và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu. Ở nước ngoài, Hiệp hội Tòa án Hoa Kỳ (2009) trong ấn phẩm What is a trademark? đã hệ thống hóa bản chất, thủ tục đăng ký, khai thác và chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu. Tobias Cohen Jehoram, Constant Van Nispen và Tony Huydecoper (2010) với công trình European Trademark Law: Community Trademark Law and Harmonized National Trademark Law làm rõ các điều kiện xác lập, hạn chế quyền và sự hài hòa hóa giữa luật nhãn hiệu cộng đồng và quốc gia. Richard Stim (2016) qua Patent, Copyright & Trademark phân tích các quy định pháp luật Hoa Kỳ. Wolfgang Sakulin phân tích sự cân bằng giữa bảo hộ nhãn hiệu và tự do biểu đạt trong Trademark protection and freedom of expression. Adam L. Brookman và Boyle Fredrickson (2016) trong Trademark Law: Protection, Enforcement and Licensing phân tích thủ tục xác lập, bảo hộ và duy trì quyền sở hữu nhãn hiệu theo hệ thống luật bang và liên bang Hoa Kỳ. Tại Việt Nam, Kamil Idris (2004) tiếp cận sở hữu trí tuệ dưới góc độ công cụ kinh tế. Đinh Văn Thanh và Đinh Thị Hằng (2004) khảo sát nhãn hiệu hàng hóa trong Bộ luật Dân sự 1995. Luận án tiến sĩ của Lê Mai Thanh (2006) và Nguyễn Văn Luật (2006) làm rõ các vấn đề lý luận, điều kiện bảo hộ và cơ chế bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trong điều kiện hội nhập. Vương Thanh Thúy nghiên cứu về dấu hiệu mang chức năng; Somdeth Keovongsack (2006) so sánh pháp luật bảo hộ nhãn hiệu giữa Việt Nam và Lào. Ngoài ra còn có các luận văn và bài báo chuyên ngành của Ngô Quỳnh Hoa (2005), Đỗ Thị Hồng (2008), Nguyễn Kiều Oanh (2014), Đàm Thị Diễm Hạnh (2009, 2010), Vũ Thị Hải Yến (2003, 2007, 2016), Lê Hồng Hạnh (2003), Nguyễn Thị Quế Anh (2010).

Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu. Charles D. DesForges (2001) trong The commercial exploitation of Intellectual property rights by licensing đã chỉ ra cấu trúc hợp đồng, chiến lược quản trị và rủi ro trong giao dịch li-xăng. Alexander I. Poltorak và Paul J. Lerner (2004) trong Essentials of licensing intellectual property cùng Gordon V. Smith và Russell L. Parr (2004) trong Intellectual Property: Licensing and Joint Venture profit strategies phân tích nguyên tắc định giá và chiến lược thu lợi nhuận. Russell L. Parr (2007) trong Royalty rates for licensing Intellectual property cung cấp hướng dẫn về phí li-xăng và nguyên tắc 25%. Neil Wilkof (2014) làm rõ lịch sử phát triển và các thách thức của li-xăng trong hệ thống thông luật. Petrich phân tích nguy cơ "li-xăng trần" (naked licensing) và cơ chế kiểm soát chất lượng. Ở Việt Nam, vấn đề này bước đầu được nghiên cứu qua luận văn thạc sĩ của Bùi Thị Minh (2015) và Nguyễn Thanh Tùng (2013).

Thứ ba, nhóm nghiên cứu về nội dung và hình thức chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu. Về nội dung, Sheldon Burshtein khảo sát chế độ kiểm soát chất lượng tại Canada; Raman Mittal phân tích quy định kiểm soát chất lượng trong Luật Nhãn hiệu 1999 của Ấn Độ; Irene Calboli (2007) chỉ ra những hạn chế của việc thiếu định nghĩa kiểm soát chất lượng tại Hoa Kỳ. Tại Việt Nam, Nguyễn Thị Hạnh Lê (2014) khảo sát kinh nghiệm của Liên minh Châu Âu về điều khoản kiểm soát chất lượng; Hồ Thúy Ngọc (2014) so sánh hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Về hình thức, Neil J. Wilkof và Daniel Burkitt nghiên cứu các dạng li-xăng bằng miệng, li-xăng mặc định; Vernika Tomar khảo sát mối quan hệ giữa li-xăng và nhượng quyền thương mại tại Ấn Độ. Tại Việt Nam, hình thức nhượng quyền thương mại được phân tích qua luận án của Nguyễn Bá Bình (2013), Vũ Đặng Hải Yến (2008); hình thức góp vốn bằng nhãn hiệu được nghiên cứu bởi Nguyễn Hà Phương, Hà Thị Doánh, Phạm Đức Quảng (2011), Nguyễn Hồng Vân (2010).

Thứ tư, nhóm công trình về phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật. Luận án của Arūnas Želvys (2011) tại Đại học Vilnius (Lít-va) đề xuất cải cách thủ tục đăng ký li-xăng và quyền khởi kiện của bên nhận quyền. Tại Việt Nam, Trần Khánh Ly, Trương Hồng Ngọc, Hồ Thúy Ngọc và tập thể tác giả Phan Quốc Nguyên, Đinh Thảo Chi, Lê Thị Thanh, Kiều Diệu Ngân (2022) đã công bố các bài viết kiến nghị sửa đổi quy định cấm hạn chế quyền tại Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ và phân định hợp đồng li-xăng với nhượng quyền thương mại.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu lồng ghép trong chế định sở hữu công nghiệp nói chung, hoặc nghiên cứu riêng lẻ hợp đồng li-xăng theo luật châu Âu mà chưa phân tích toàn diện hai trục nội dung (quyền, nghĩa vụ) và hình thức (hiệu lực, đăng ký) trong mối tương quan với các cam kết hiệp định tự do thương mại thế hệ mới như CPTPP. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng công trình nghiên cứu chuyên biệt về mặt lý luận và thực trạng pháp luật Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng hai học thuyết chuyên biệt về sở hữu trí tuệ làm nền tảng lý thuyết:

  1. Học thuyết nhãn hiệu thúc đẩy sự sáng tạo (Innovative Trademark Theory): Được phát triển bởi Mark McKenna (2020), dựa trên bản ghi nhớ của Ủy ban Châu Âu về Dự thảo Chỉ thị Nhãn hiệu năm 2015. Học thuyết này luận giải rằng nhãn hiệu giúp doanh nghiệp thu hút và giữ chân khách hàng; để duy trì sự gắn kết đó, doanh nghiệp buộc phải liên tục đổi mới, đầu tư cho nghiên cứu và triển khai (R&D) nhằm cải tiến chất lượng sản phẩm đưa ra thị trường dưới các nhãn hiệu quen thuộc.
  2. Học thuyết tiếp cận vị lợi (Utilitarian Approach): Được Neil Wilkof (2014) phân tích, xem mục tiêu cốt lõi của việc định hình pháp luật sở hữu trí tuệ là tối đa hóa phúc lợi xã hội ròng (social welfare). Pháp luật cần thiết lập trạng thái cân bằng giữa việc trao quyền độc quyền cho chủ sở hữu để khuyến khích hoạt động đầu tư kinh doanh với việc giới hạn quyền đó nhằm bảo đảm công chúng và thị trường được tiếp cận, khai thác giá trị sản phẩm một cách rộng rãi. Luận án sử dụng cách tiếp cận này để phân tích sự cân bằng lợi ích giữa bên chuyển quyền, bên nhận quyền và người tiêu dùng.

Phương pháp luận của luận án dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt trong tất cả các chương nhằm bóc tách các khái niệm pháp lý, quy định của văn bản luật và tổng hợp các luận điểm khoa học.
  • Phương pháp hệ thống: Áp dụng chủ yếu tại Chương 2 và Chương 3 để đặt các quy định về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu trong cấu trúc tổng thể của Luật Sở hữu trí tuệ, Bộ luật Dân sự và các văn bản liên quan.
  • Phương pháp luật học so sánh: Áp dụng tại Chương 2 và Chương 3 nhằm đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với các điều ước quốc tế (TRIPS, CPTPP, Công ước Paris, Hệ thống Madrid) và pháp luật các quốc gia như Hoa Kỳ, Canada, Trung Quốc, Ấn Độ, Liên minh Châu Âu.
  • Phương pháp thống kê: Áp dụng tại Chương 1 và Chương 3 để thu thập, phân loại các công trình nghiên cứu và xử lý số liệu đăng ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu tại Cục Sở hữu trí tuệ.
  • Phương pháp xã hội học pháp luật: Áp dụng tại Chương 2, 3 và 4 để xem xét tác động thực tế của quy phạm pháp luật đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và thị trường.
  • Phương pháp liên ngành kinh tế - luật: Áp dụng tại Chương 2, 3 và 4 để làm sáng tỏ bản chất kinh tế của giao dịch li-xăng, định giá tài sản vô hình và cơ chế phân bổ nguồn lực thị trường.

Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ (trọng tâm là Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi các năm 2009, 2019, 2022 và Bộ luật Dân sự 2015); các điều ước quốc tế về sở hữu công nghiệp; số liệu thống kê đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp và hợp đồng nhãn hiệu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giai đoạn 2005-2018; các hồ sơ vụ việc tranh chấp thực tế và các mẫu hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu lưu trữ tại phần phụ lục của luận án.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và cơ sở lý thuyết nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan trực tiếp đến đề tài, chia thành 4 nhóm công trình chính: nhóm nghiên cứu về nhãn hiệu; nhóm nghiên cứu về quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu; nhóm nghiên cứu về lý luận và thực trạng pháp luật điều chỉnh nội dung, hình thức chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu; nhóm nghiên cứu về phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật. Tác giả đánh giá kết quả của các công trình đi trước, chỉ ra rằng các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu dừng lại ở việc xem xét hợp đồng li-xăng nhãn hiệu chung chung, thiếu sự so sánh đa chiều với kinh nghiệm quốc tế và chưa phân tích sâu tính tương thích với các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Trên cơ sở đó, chương xác lập không gian nghiên cứu cho luận án, xây dựng hệ thống 3 câu hỏi nghiên cứu và 3 giả thuyết nghiên cứu tương ứng. Đồng thời, chương 1 luận giải chi tiết việc lựa chọn hai khung lý thuyết nền tảng gồm Học thuyết nhãn hiệu thúc đẩy sự sáng tạo (Innovative Trademark Theory) của Mark McKenna và Học thuyết tiếp cận vị lợi (Utilitarian Approach) của Neil Wilkof nhằm định hướng cho việc giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn ở các chương kế tiếp.

Chương 2: Lý luận pháp luật về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu

Chương 2 làm rõ lịch sử phát triển của nhãn hiệu từ 4000 năm trước (các dấu hiệu phân biệt của thợ thủ công Trung Quốc, Ấn Độ, Ba Tư; nhãn hiệu gốm FORTIS thời La Mã), qua thời kỳ Phục Hưng đến thời kỳ các cuộc cách mạng công nghiệp khi nhãn hiệu trở thành công cụ phân biệt thương mại phục vụ kinh tế thị trường. Tác giả phân tích khái niệm nhãn hiệu: Công ước Paris 1883 và Hệ thống Madrid không đưa ra định nghĩa cụ thể nhằm tạo khoảng mở cho luật quốc gia; trong khi Điều 15 Hiệp định TRIPS 1995 lần đầu tiên chuẩn hóa định nghĩa nhãn hiệu trên bình diện quốc tế dựa trên khả năng phân biệt. Tại Việt Nam, khái niệm được quy định tại Khoản 16 Điều 4 và tiêu chí bảo hộ tại Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ (dấu hiệu nhìn thấy được hoặc âm thanh thể hiện dạng đồ họa, có khả năng phân biệt).

Chương 2 làm rõ 4 chức năng cơ bản của nhãn hiệu: (i) chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ; (ii) chức năng thông tin và truyền tải uy tín chất lượng; (iii) chức năng định vị trong nhận thức của người tiêu dùng; (iv) chức năng kinh tế (tạo lập giá trị tài sản vô hình và sinh lời qua chuyển giao). Nhãn hiệu được phân loại theo 5 tiêu chí: hình thức thể hiện; số lượng chủ thể (nhãn hiệu cá nhân, nhãn hiệu tập thể); mức độ nổi tiếng (nhãn hiệu thông thường, nhãn hiệu nổi tiếng theo Khoản 20 Điều 4); tính chất (nhãn hiệu thông thường, chứng nhận, liên kết); và đối tượng sử dụng (hàng hóa, dịch vụ).

Về mặt lý luận quyền tài sản, chương phân tích quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu dưới góc độ khách quan và chủ quan (Khoản 4 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ). Do đặc tính là tài sản vô hình, quyền năng chiếm hữu vật chất đối với nhãn hiệu không thể thực hiện như tài sản hữu hình, do đó nội dung quyền tài sản tập trung vào quyền sử dụng và quyền định đoạt. Tác giả đối chiếu Điều 189 Bộ luật Dân sự 2015 để làm rõ bản chất quyền sử dụng nhãn hiệu:

Tiêu chí so sánh Quyền chiếm hữu Quyền sử dụng Quyền định đoạt
Bản chất nội dung Là quyền năng của chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản thuộc sở hữu. Là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức của tài sản theo ý chí của chủ sở hữu hoặc người được chuyển giao. Là quyền năng của chủ sở hữu quyết định số phận thực tế và số phận pháp lý của tài sản.
Đặc thù đối với nhãn hiệu Không thể thực hiện việc chiếm hữu vật chất thực tế do nhãn hiệu là tài sản vô hình; quyền phát sinh qua thủ tục xác lập pháp lý của Nhà nước. Cho phép chủ sở hữu trực tiếp gắn nhãn hiệu lên hàng hóa/dịch vụ hoặc cho phép nhiều chủ thể khác cùng khai thác thông qua hợp đồng li-xăng. Thực hiện thông qua việc chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu (chấm dứt quyền sở hữu của bên chuyển nhượng) hoặc từ bỏ quyền bảo hộ.
Mục đích kinh tế Giữ quyền kiểm soát danh nghĩa và pháp lý đối với đối tượng sở hữu công nghiệp. Mang lại lợi ích vật chất, giá trị thương mại và doanh thu từ việc khai thác trực tiếp hoặc nhận tiền bản quyền/phí li-xăng. Định đoạt sự tồn tại pháp lý của nhãn hiệu trên thị trường hoặc thu về giá trị chuyển nhượng toàn phần.

Chương tiếp tục làm rõ khái niệm, đặc điểm của pháp luật về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu; phân biệt chuyển quyền sử dụng (licensing - giữ nguyên quyền sở hữu) với chuyển nhượng quyền sở hữu (assignment - chuyển giao toàn bộ quyền); xác định nội dung pháp luật điều chỉnh quan hệ này gồm quy định về chủ thể, đối tượng, quyền và nghĩa vụ các bên, các điều khoản hạn chế cạnh tranh, và các hình thức chuyển giao (hợp đồng li-xăng độc quyền, không độc quyền, li-xăng thứ cấp; nhượng quyền thương mại; góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu).

Chương 3: Thực trạng pháp luật về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 tái hiện quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động này từ những năm 80 của thế kỷ XX đến khi ban hành Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và các luật sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022. Tác giả tập trung phân tích thực trạng trên ba khía cạnh:

  1. Thực trạng pháp luật về nội dung chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu và thực tiễn thực hiện: Phân tích quyền và nghĩa vụ của bên chuyển quyền và bên nhận quyền; các điều khoản bị cấm đưa vào hợp đồng theo quy định tại Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ (như cấm hạn chế quyền xuất khẩu sang các vùng lãnh thổ mà bên chuyển quyền không nắm giữ quyền độc quyền tương ứng). Chương chỉ ra sự thiếu hụt các quy định bắt buộc về kiểm soát chất lượng hàng hóa/dịch vụ mang nhãn hiệu được chuyển quyền, tạo nguy cơ dẫn đến tình trạng "li-xăng trần" làm tổn hại quyền lợi người tiêu dùng.
  2. Thực trạng pháp luật về hình thức chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu và thực tiễn thực hiện: Đánh giá cơ chế điều chỉnh hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu, hợp đồng nhượng quyền thương mại và hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng nhãn hiệu. Điểm nhấn là quy định về đăng ký hợp đồng: Trước năm 2019, hợp đồng phải đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ mới có hiệu lực đối với bên thứ ba; Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2019 bãi bỏ yêu cầu này đối với nhãn hiệu nhằm thực thi cam kết trong Hiệp định CPTPP. Chương tổng hợp các dữ liệu thực tế giai đoạn 2005-2018 phản ánh qua các hình vẽ thống kê:
  • Hình 2.1: Số lượng hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp đã được đăng ký.
  • Hình 2.2: Số lượng hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu đã được đăng ký.
  • Hình 2.3: Số lượng các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp được đăng ký chuyển quyền sử dụng.
  • Hình 2.4: Số lượng hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu theo các phân loại giao dịch.
  1. Thực tiễn tranh chấp và giải quyết tranh chấp về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu: Khảo sát các dạng tranh chấp điển hình liên quan đến vi phạm nghĩa vụ thanh toán phí li-xăng, không bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, hành vi xâm phạm phạm vi li-xăng (vượt quá giới hạn lãnh thổ hoặc thời hạn), và tranh chấp về tính hợp lệ của hợp đồng li-xăng thứ cấp; chỉ ra những vướng mắc trong cơ chế xét xử tại Tòa án nhân dân và thủ tục giải quyết qua Trọng tài thương mại.

Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu

Chương 4 xác định các định hướng hoàn thiện:

  • Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa Luật Sở hữu trí tuệ, Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại và Luật Doanh nghiệp.
  • Bảo đảm sự tương thích với các cam kết quốc tế của Việt Nam trong các FTA thế hệ mới (CPTPP, EVFTA) và các điều ước của WIPO.
  • Tôn trọng nguyên tắc tự do hợp đồng của các bên giao kết, đồng thời duy trì sự can thiệp hợp lý của Nhà nước để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và trật tự cạnh tranh lành mạnh.
  • Khuyến khích sự phát triển của thị trường khai thác thương mại tài sản trí tuệ.

Hệ thống giải pháp cụ thể được luận án đề xuất bao gồm:

  1. Giải pháp lập pháp đối với nội dung hợp đồng: Sửa đổi, bổ sung quy định tại Khoản 2 Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ nhằm làm rõ và mở rộng các trường hợp hạn chế quyền bị cấm, loại bỏ các điều khoản miễn trừ trách nhiệm vô lý của bên chuyển quyền; bổ sung cơ chế pháp lý quy định rõ nghĩa vụ kiểm soát chất lượng của chủ sở hữu nhãn hiệu đối với hàng hóa, dịch vụ của bên nhận quyền.
  2. Giải pháp đối với hình thức và đăng ký hợp đồng: Hoàn thiện quy định về hiệu lực của hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu hậu CPTPP; phân định ranh giới pháp lý giữa hợp đồng li-xăng nhãn hiệu độc lập, hợp đồng nhượng quyền thương mại (NQTM) và hợp đồng li-xăng thứ cấp; minh bạch hóa cơ chế định giá và chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu trong các giao dịch góp vốn thành lập doanh nghiệp.
  3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi và giải quyết tranh chấp: Tăng cường năng lực chuyên môn của cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và cơ quan xét xử; hoàn thiện quy trình bảo vệ quyền độc lập của bên nhận li-xăng khi nhãn hiệu bị bên thứ ba xâm phạm; hoàn thiện cơ chế công khai thông tin về các giao dịch chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu trên hệ thống dữ liệu quốc gia.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định 4 đóng góp mới về mặt khoa học:

Thứ nhất, luận án tiếp cận vấn đề chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu dưới góc độ pháp luật điều chỉnh đồng thời cả hai trục: nội dung (quyền và nghĩa vụ của các bên) và hình thức (hiệu lực và điều kiện chống lại bên thứ ba của hợp đồng), kết hợp với việc nghiên cứu cơ chế xác định và giải quyết tranh chấp. Luận án đặt pháp luật Việt Nam trong sự so sánh đối chiếu toàn diện với kinh nghiệm lập pháp của Hoa Kỳ, Canada và Trung Quốc.

Thứ hai, công trình hoàn thiện hệ thống lý luận về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu; làm rõ khái niệm, đặc điểm và nội dung của pháp luật điều chỉnh quan hệ này; bóc tách cấu trúc pháp lý của các hình thức giao dịch gồm hợp đồng li-xăng nhãn hiệu, nhượng quyền thương mại và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu.

Thứ ba, luận án cung cấp bức tranh khảo sát thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực thi tại Việt Nam; chỉ rõ các điểm khiếm khuyết trong các quy định hiện hành đối chiếu với yêu cầu của các cam kết quốc tế (đặc biệt là CPTPP) và nhu cầu vận hành của thị trường; phát hiện những bất cập trong việc áp dụng pháp luật điều chỉnh nội dung hợp đồng, thủ tục đăng ký và giải quyết tranh chấp.

Thứ tư, luận án xây dựng hệ thống phương hướng và giải pháp mang tính hệ thống từ cấp độ thể chế, thiết chế đến các biện pháp thực thi thực tế nhằm hoàn thiện pháp luật về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu, nâng cao hiệu quả thương mại hóa tài sản trí tuệ tại Việt Nam.

Về ý nghĩa thực tiễn, các kết luận khoa học của luận án cung cấp cơ sở phục vụ quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành; bảo đảm nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa các bên trong giao dịch, bảo vệ quyền của người tiêu dùng và hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình đàm phán, thực hiện hợp đồng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế nghiên cứu, văn bản luận án xác định rõ các giới hạn sau:

  • Phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào quan hệ chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu (licensing), không mở rộng nghiên cứu sang chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu (assignment) cũng như không bao quát các đối tượng sở hữu công nghiệp khác (sáng chế, kiểu dáng công nghiệp).
  • Nghiên cứu giới hạn trong môi trường kinh doanh truyền thống, chưa chú trọng khảo sát thực tiễn chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu trong môi trường thương mại điện tử và không gian số.
  • Dữ liệu thống kê về thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu chỉ thu thập đến hết năm 2018 do sự thay đổi của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2019 bãi bỏ quy định bắt buộc đăng ký hợp đồng để có hiệu lực đối với bên thứ ba.

Về hướng nghiên cứu tiếp, các vấn đề được gợi mở gồm: nghiên cứu hoàn thiện pháp luật chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu trong môi trường số và thương mại điện tử xuyên biên giới; theo dõi và đánh giá tác động thực tế của việc bãi bỏ thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu đối với bên thứ ba sau năm 2019; và nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế kiểm soát chống độc quyền trong các giao dịch li-xăng nhãn hiệu quốc tế.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo tham khảo có giá trị đối với các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự và Pháp luật Sở hữu trí tuệ: Có thể sử dụng Chương 1 và Chương 2 để khai thác khung lý thuyết (Học thuyết nhãn hiệu thúc đẩy đổi mới sáng tạo, Học thuyết vị lợi) và tổng quan tài liệu đa quốc gia; sử dụng các phân tích tại Chương 2 để làm rõ sự khác biệt giữa quyền sử dụng và quyền chiếm hữu, quyền định đoạt đối với tài sản vô hình.
  • Các cơ quan lập pháp, cơ quan hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Sở hữu trí tuệ): Phần phân tích bất cập tại Chương 3 và hệ thống kiến nghị tại Chương 4 cung cấp luận cứ thực tiễn để sửa đổi các điều khoản về hợp đồng li-xăng trong Luật Sở hữu trí tuệ (như Điều 144) và xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành các hiệp định thương mại tự do.
  • Thẩm phán, Trọng tài viên, Luật sư và chuyên viên pháp chế doanh nghiệp: Phần phân tích tranh chấp thực tiễn tại Chương 3 cùng hệ thống mẫu hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu tại phần Phụ lục là tài liệu tham khảo hữu ích trong việc soạn thảo, đàm phán điều khoản hợp đồng và giải quyết các xung đột phát sinh.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án giới hạn phạm vi khảo sát số liệu đăng ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu đến năm 2018?
Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu các hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền đến năm 2018 vì Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2019 (nhằm thực thi Hiệp định CPTPP) đã bãi bỏ quy định yêu cầu hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu phải đăng ký mới có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba.

2. Hai học thuyết nền tảng nào được luận án vận dụng để luận giải các vấn đề pháp lý về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu?
Luận án vận dụng hai học thuyết: Học thuyết về nhãn hiệu thúc đẩy sự sáng tạo (Innovative Trademark Theory) của Mark McKenna (2020) và Học thuyết về cách tiếp cận vị lợi (Utilitarian Approach) của Neil Wilkof (2014) nhằm tối đa hóa phúc lợi xã hội ròng thông qua việc thiết lập sự cân bằng giữa bảo hộ độc quyền và tiếp cận công cộng.

3. Khái niệm nhãn hiệu trong Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam có sự tương thích như thế nào với Hiệp định TRIPS?
Điều 15 Hiệp định TRIPS quy định nhãn hiệu là bất kỳ dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với doanh nghiệp khác. Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam (Khoản 16 Điều 4 và Điều 72) tiếp thu chuẩn mực này, định nghĩa nhãn hiệu là dấu hiệu phân biệt và quy định điều kiện bảo hộ gồm dấu hiệu nhìn thấy được (được bổ sung dấu hiệu âm thanh thể hiện dạng đồ họa từ năm 2022) và có khả năng phân biệt.

4. Vì sao quyền chiếm hữu thực tế không khả thi đối với đối tượng nhãn hiệu?
Nhãn hiệu là tài sản trí tuệ vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể vật chất cụ thể để một chủ thể có thể nắm giữ cơ học. Quyền năng chiếm hữu thực tế của chủ thể không thể thực hiện được thông qua quản lý vật chất mà quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu chỉ phát sinh và được bảo vệ thông qua thủ tục ghi nhận, xác lập của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

5. Luận án phân tích những bất cập chủ yếu nào trong quy định cấm các điều khoản hạn chế quyền tại Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ?
Luận án chỉ ra rằng quy định cấm tại Điểm b Khoản 2 Điều 144 hiện chỉ giới hạn ở "quyền xuất khẩu" hàng hóa/dịch vụ sang vùng lãnh thổ mà bên chuyển quyền không có quyền sở hữu công nghiệp hoặc quyền nhập khẩu độc quyền, gây hạn chế quyền tự do kinh doanh của các bên; đồng thời thiếu các quy định cấm cụ thể đối với điều khoản buộc bên nhận quyền tiếp tục trả phí sau khi quyền bảo hộ chấm dứt hoặc điều khoản miễn trừ vô căn cứ trách nhiệm của bên chuyển quyền.

Kết luận

Luận án "Pháp luật Việt Nam về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu" của tác giả Hoàng Lan Phương là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu trong lĩnh vực Luật Kinh tế và Sở hữu trí tuệ tại Việt Nam. Luận án đã làm rõ nền tảng lý luận, phân tích toàn diện các quy định điều chỉnh nội dung, hình thức và cơ chế giải quyết tranh chấp chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu. Đồng thời, công trình đánh giá thực trạng thực thi gắn liền với số liệu đăng ký thực tế giai đoạn 2005-2018 và các cam kết của Việt Nam trong CPTPP. Các phương hướng và giải pháp do luận án đề xuất cung cấp luận cứ khoa học có giá trị phục vụ công tác hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ và nâng cao hiệu quả thương mại hóa tài sản trí tuệ trong giai đoạn hội nhập.