Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận án. Trong chương này, luận án phân tích, bình luận, đánh giá những thành công của các công trình khoa học nghiên cứu trước đó về pháp luật CMĐSDĐNN và các nghiên cứu liên quan đến nội dung này thuộc các ngành khoa học khác để kế thừa, đồng thời chỉ ra những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật CMĐSDĐNN còn chưa được nghiên cứu day đủ dé luận án nghiên cứu tiếp. Lý luận CMĐSDĐNN và lý luận pháp luật về CMDSDDNN.
Chương này gồm lý luận cơ bản về hai nội dung là CMĐSDĐNN và pháp luật CMĐSDĐNN. Đây là chương quan trọng làm cơ sở lý luận để nghiên cứu các nội dung trong chương 3 và đưa ra những định hướng, giải pháp trong chương 4 của luận án. Thực trạng pháp luật CMDSDDNN ở Việt Nam. Day là chương phân tích toàn bộ nội dung pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật CMĐSDĐNN và đưa ra những đánh giá, nhận định về những ưu điểm cũng như chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của chúng trong thực tiễn pháp lý lĩnh vực CMĐSDĐNN.
Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật CMĐSDĐNNở Việt Nam. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của chương 2 và chương 3, luận án nêu định hướng và các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật CMĐSDĐNN ở Việt Nam. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU PHAP LUAT CHUYEN MỤC ĐÍCH SỬ DUNG DAT NÔNG NGHIỆP 1. Tiền đề đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu 1.
Tiền đề thứ nhất Các nước trên thế giới có nhận thức chung rằng, đất đai là tài sản đặc biệt. Do vậy dù ghi nhận các hình thức sở hữu đối với đất đai khác nhau, song các nước đều chung quan điểm công nhận hình thức sở hữu đất đai. Một số số quốc gia còn công nhận QSDĐ là quyền tài sản, nó cũng trở thành tài sản đặc biệt. Vậy đánh giá tổng quan nghiên cứu phải xuất phát từ tiền đề thứ nhất là: Pháp luật CMĐSDĐNN có điểm tương đồng do được xây dựng trên quan điểm đất dai là tài sản đặc biệt.
Tiền dé này dẫn đến tổng quan tình hình nghiên cứu của luận án chỉ tập trung xem xét, đánh giá đối với các công trình đã công bố về CMĐSDĐNN tại một số nước tiêu biéu. Tiền đề thứ hai Mỗi quốc gia có một hệ thống pháp luật riêng, có điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và lịch sử riêng. Khi đất đai được coi là tài sản quý báu của mỗi quốc gia thì thậm chí nội dung pháp lý liên quan đến đất đai còn chịu ảnh hưởng bởi cả điều kiện, thê chế chính trị của mỗi nước. Do vậy, việc đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu phải xuất phát từ tiền đề thứ hai là: Pháp luật CMPDSDPNN ở nước nào thì được thiết kế phù hop với hệ thông pháp luật đặc thù và với hoàn cảnh của nước đó.
Tiền đề này dẫn đến tổng quan tình hình nghiên cứu của luận án chỉ tập trung xem xét, đánh giá đối với các công trình đã công bố về CMĐSDĐNN ở một số nước cần nghiên cứu để tìm ra các thành tựu có khả năng áp dụng, phù hợp với hệ thống pháp luật, với điều kiện của Việt Nam và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật từ các đánh gia đó. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước về nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước đề cập tới tính tất yếu của việc CMĐSDĐNN đã chỉ ra rằng, trước tiên đó là yêu cầu sử dụng đất cho công nghiệp hóa, đô thị hóa và xây dựng cơ sở hạ tầng. Theo tác giả Phạm Thu Thủy thì để năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Việt Nam cần đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hiện đại.
do vậy việc chuyền một phần DNN sang sử dụng vào mục đích khác là điều không tránh khỏi. Trong công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Bá Năng và tác giả Trịnh Minh Đức cũng đưa ra kết quả tương tự về tính tất yếu của việc CMĐSDĐNN. Ngoài ra, phù hợp với tên gọi của công trình nghiên cứu của mình, Nguyễn Bá Năng và Trịnh Minh Đức còn nêu ra mối quan hệ giữa công nghiệp hóa, đô thị hóa với CMĐSDĐ. Đây cũng là kết quả mà tác giả Nguyễn Quốc Hùng nêu trong công trình của mình.
Tác giả này cho răng, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa dẫn đến đất là yếu tố cầu của nhiều nhu cầu như: xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển các ngành sản xuất, dịch vụ phục vụ nhu cầu xã hội [43, tr. Tác giả Nguyễn Quốc Hùng nhấn mạnh, với chủ trương đây mạnh công nghiệp hóa, nhu cầu sử dụng đất xây dựng giao thông, thủy lợi, đất xây dựng nhà ở, trường học, các công trình văn hóa đặc biệt là đất xây dựng các nhà máy, cửa hàng, công sở,. Do đó tat yêu phải chuyền dat trồng trọt phục vụ yêu cầu mới [43, tr. Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Công Thắng có một phần nội dung phù hợp với lĩnh vực CMĐSDĐNN.
Do vậy, tác giả này đã dầy công nghiên cứu và dành một phan đáng ké trong công trình của mình để trình bày cơ sở lý luận của công tác CMĐSDĐNN. Tác giả Nguyễn Công Thắng đưa ra khái niệm CMĐSDĐNN là: “chuyên đổi MĐSDĐNN là thay đổi MĐSDĐ theo QHSDĐ, được duyệt bằng quyết định hành chính (trong trường hợp phải xin phép) khi người sử dụng đất có yêu cầu” [81, tr. Trên cơ sở đó, tác giả này làm sâu sắc hơn cơ sở lý luận trong phần nghiên cứu về sự cần thiết CMĐSDĐNN. Theo tác gia Nguyễn Công Thắng, sự tác động của các nhân tố công nghiệp hóa, đô thị hóa, sự phát triển cơ sở hạ tầng, chính sách phát triển kinh tế của CP dẫn đến yêu cầu CMĐSDĐNN [81, tr.
Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới thì quá trình đô thị hóa của Việt Nam vẫn tiếp diễn. Trong giai đoạn giữa thập kỷ 1980 đến 2015 dân số đô thị Việt Nam tăng từ 13 triệu lên 30 triệu người, chiếm 1/3 dân số. Sau một thập kỷ nữa Việt Nam sẽ có 50 triệu dân sống tại khu vực đô thị, chiếm 1/2 dân số [61, tr. 46] nên vẫn yêu cầu phải chuyên một diện tích DNN nhất định sang phát triển đô thị.
Số liệu tại 30 quốc gia trên thế giới trong giai đoạn 1995-2009 cho thấy, một loạt các hiện tượng có liên quan đến sự suy giảm DNN, trong đó có sự gia tăng kích thước của khu vực đô thị và mạng lưới giao thông. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Dinh Hoàn chỉ ra rằng, tại Trung Quốc những năm qua có sự chuyên đổi một lượng ĐNN không 16 sang mục dich nhà ở, công nghiệp, thương mại, ha tầng và công vụ dẫn đến hiện tượng mat DNN nhanh chóng [41, tr. Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới thì điều này tương tự xảy ra tại Hoa Kỳ khi những khu vực DNN tốt nhất có khả năng bị mất cao nhất vì việc phát triển đô thị thông thường được tiễn hành gần khu vực DNN giàu tiềm năng sản xuất nhất [108, tr. Nghiên cứu của Trần Quốc Toản chỉ ra rằng, sự thay đổi MDSDD gan với thay đối cơ cấu sản xuất nông nghiệp là một quá trình khách quan và cũng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng dat [85, tr.
Kết quả tương tự được Lê Cao Doan chỉ ra trong nghiên cứu của mình là: việc chuyên đất trồng cây hàng năm sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng. Trường hợp này diễn ra gan với chuyền đổi cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp ở các nước. Tại Việt Nam, điều này kéo theo sự chuyên biến lớn trong cơ cau nông nghiệp: chăn nuôi, thuỷ sản, cây công nghiệp, cây ăn quả đã tách khỏi ngành trồng lúa và trở thành ngành sản xuất chính, làm cho nông nghiệp không còn là nông nghiệp độc canh lúa nước [30, tr. Và theo tác giả Nguyễn Quốc Hùng thì việc thu hồi và CMĐSDĐ là nhằm phát trién công nghiệp, chuyên đổi cơ cau kinh tế theo hướng hiệu quả hơn [43, tr.
Thay đổi cơ cấu ngành sản xuất nông nghiệp cũng là yêu cầu khách quan đối với việc chuyển DNN này sang DNN khác tại hầu hết các nước trên thế giới. Nghiên cứu của tô chức Hop tác và Phát triển kinh tế tại Nhật Ban cho thấy, cũng trong những năm 1960 đến năm 2005, trong khi diện tích trồng lúa và ngũ cốc giảm thì diện tích trồng rau và hoa tăng lên. Điều này cho thấy cơ cau ngành nông nghiệp tại Nhật Bản cũng thay đôi, phù hợp với yêu cầu của xã hội đối với các lợi ích tạo ra từ đất [102, tr. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Dinh Bong cũng cho kết quả tương tự là, tại Việt Nam trong tổng số diện tích DTL giảm trong giai đoạn 2001 — 2010 có khoảng 65% do chuyên đổi cơ cấu cây trồng [14, tr.
Nguyên nhân dan đến sự thay đổi trong cơ cấu sản xuất lại được các nghiên cứu chỉ rõ đó là sự thay đối của nhu cầu cuộc sống người dân. Tác giả Hoàng Thị Thái Hòa, Đỗ Đình Thục chỉ ra rằng, lúa gạo vốn cung cấp khoảng 60% năng lượng trong khẩu phần ăn của người dân Việt Nam [40, tr. 32] nhưng nghiên cứu của Nguyễn Đức Minh cho thấy, cơ cấu bữa ăn của người Việt Nam có sự thay đối theo hướng năng lượng gạo sẽ giảm thay vào đó tỷ trọng rau, quả, thịt, sữa, cá sẽ tăng lên [24, tr. Đây cũng là kết quả phù hợp với nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới về Việt Nam đó là, tiêu dùng thực phẩm sẽ thay đổi theo hướng, giảm tiêu thụ gạo tăng tiêu thụ thịt, hoa quả, rau và thực phẩm chế biến sẵn khi thu nhập tăng và đô thị tiếp diễn [61, tr.
Từ xưa đến nay gạo vẫn là lương thực chủ yếu của người Việt Nam. Cho đến năm 1996, gạo vẫn là nguồn cung cấp 70% năng lượng tiêu thụ. Chỉ có một số địa phương miền núi coi một số cây lương thực khác như ngô, sắn là cây lương thực chính. Tính bình quân cả nước, lượng tiêu thụ gạo theo đầu người hàng năm đã tăng từ 109 kg (năm 1990) lên trên 150 kg vào giữa những năm 2000 cùng với mức tăng sản xuất và thu nhập hộ ở mức ổn định sẽ ở mức 90-110 kg mỗi năm vào năm 2030 [61, tr.