chương 1 này, tác giả tập trung tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước theo các dòng nghiên cứu (1) về tính ổn định của LN và của các thành phần trong LN, (2) ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của LN và của các thành phần trong LN, (3) ảnh hưởng của các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định LN và tính ổn định của các thành phần trong LN. Sau khi nhận xét những kết quả đạt được từ các nghiên cứu trước, tác giả xác định khe hổng nghiên cứu cho luận án. Các nghiên cứu có liên quan 1. Nghiên cứu về tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận BCTC cung cấp thông tin có giá trị để đánh giá hoạt động và dự đoán lợi tức đầu tư.
Các nhà phân tích và đầu tư thường chú trọng đến LN khi sử dụng các thông tin có trong BCTC. LN được coi là có chất lượng cao khi thể hiện được tính ổn định và có thể sử dụng để dự đoán LN của công ty trong tương lai. Do đó, nhiều bài báo bằng cách tiếp cận định lượng và định tính đã nghiên cứu về vấn đề này. Các nghiên cứu về tính ổn định của lợi nhuận Nghiên cứu nước ngoài Các nghiên cứu thời kỳ trước đa số đều cho rằng sự thay đổi của LN là độc lập và không liên quan giữa các năm với nhau (Ball và Brown, 1969; Ball và Watts, 1972).
Tuy nhiên, bằng cách sử dụng các dữ liệu khác nhau, như dữ liệu chuỗi thời gian và phân tầng mẫu nghiên cứu, Brooks và Buckmaster (1976) đã cho ra kết quả khác biệt, đại diện cho giai đoạn đầu tiên khẳng định LN trong các năm có liên quan với nhau và LN có xu hướng lặp lại giá trị của những năm trước. Tương tự, cũng bằng dữ liệu chuỗi thời gian, các tác giả có thể chứng minh tỷ lệ hoàn vốn (ROR – Rate of Return) 11 (R. Freeman và cộng sự (1982)) hay LN trong quá khứ (Lipe (1990)) có tính ổn định và có thể cung cấp thông tin dự đoán LN trong tương lai. Khi nghiên cứu dữ liệu chéo, R.
Freeman và Tse (1992) lý giải hệ số phản hồi thấp (hay biến động phi tuyến) của LN trong các phương trình hồi quy là do lỗi của các thành phần đại diện cho LN không mong muốn. Ví dụ khi xét theo dữ liệu chuỗi thời gian, các công ty có LN ổn định thấp có thể do quá trình lấy mẫu có thành phần LN không mong muốn làm phát sinh các lỗi dự báo lớn. Kết quả trên cũng trùng với nghiên cứu của Das và Lev (1994). Sau này, Sloan (1996) đã mở rộng các nghiên cứu trước bằng cách sử dụng dữ liệu bảng và khẳng định rằng LN hiện tại có tính ổn định, phản ánh LN tương lai và phụ thuộc vào mối quan hệ giữa độ lớn của thành phần dồn tích và dòng tiền với LN.
Ông cho rằng các khoản dồn tích cao hay thấp bất thường sẽ khiến LN ít ổn định hơn. Ngoài ra, đối với các công ty thua lỗ, LN ít ổn định hơn vì ít nhất ba lý do. Đầu tiên, một khoản lỗ có thể là kết quả của việc ghi nhận các giao dịch dự kiến thua lỗ (Basu, 1997), bao gồm các khoản lỗ chưa thực hiện trong LN hiện tại, công ty chuyển đổi một loạt các giao dịch thua lỗ trong tương lai thành một khoản lỗ tạm thời. Thứ hai, các khoản lỗ cũng có thể là dấu hiệu của các công ty đang thanh lý tài sản, những tài sản này tạo ra tổn thất cho doanh nghiệp (Hayn, 1995).
Và cuối cùng, các khoản lỗ có thể do cú sốc tiêu cực (ví dụ như đình công, thảm họa tự nhiên hoặc thay đổi công nghệ) kèm theo thanh lý tài sản hoặc chi tiêu bằng tiền mặt (Frankel và Litov, 2009). Nếu những cú sốc tiêu cực có khả năng được nhận ra ngay lập tức thì những cú sốc tích cực được nhận ra dần dần theo thời gian, do đó, các khoản lỗ sẽ có xu hướng ít ổn định hơn so với các khoản lãi. Frankel và Roychowdhury (2008) sắp xếp các công ty dựa trên tính kịp thời không đối xứng của LN và thấy rằng các tài khoản đặc biệt (Special items) âm có giá trị lớn có xu hướng kịp thời hơn và ít ổn định hơn. Dichev và Tang (2008) kiểm tra xem biến động LN trong quá khứ có khả năng giải thích sự ổn định cho của LN hiện tại hay không.
Các tác giả kết luận LN sẽ ổn định lâu dài nếu không có các cú sốc kinh tế hay “vấn đề” trong việc xác định LN kế toán. Các phát hiện cũng xác nhận sự ổn định cao hơn của LN phân phối so với tổng LN ròng liên quan đến tiền mặt trả cho các 12 cổ đông (Moienadin và Tabatabaenasab, 2014). Ngoài ra, Doukakis (2010) đã kiểm tra tính ổn định của LN và các thành phần trong LN sau khi áp dụng IFRS, kết quả cho thấy việc phân tách LN thành các thành phần nhỏ có thể cải thiện dự đoán về khả năng sinh lời trong tương lai, đồng thời IFRS không cải thiện tính ổn định của LN và các thành phần trong LN. Ở khía cạnh khác, Govendir và Wells (2014) cung cấp bằng chứng rằng các loại LN có tính ổn định khác nhau.
Nghĩa là LN có khả năng đa dạng về cả bản chất và ý nghĩa của chúng đối với LN trong tương lai, điều này phù hợp với các nghiên cứu xem xét về thuộc tính cung cấp thông tin của LN kế toán. Tuy sử dụng các chỉ tiêu khác nhau như LN từ HĐKD chia cho tổng TS bình quân (Sloan, 1996), ROA (Richardson và cộng sự, 2005; Frankel và Litov, 2009), LN trước thuế (Hanlon, 2005; Blaylock và cộng sự, 2012), LN ròng hay LN phân phối (Moienadin và Tabatabaenasab, 2014)… các nghiên cứu đều dùng phương pháp đo lường tính ổn định của LN bằng cách hồi quy giá trị tương lai trên giá trị hiện tại (Schipper và Vincent, 2003; Patricia M. Dechow và Schrand, 2004; Dichev và Tang, 2008) và kết luận sự tái xuất hiện của LN hiện tại trong LN tương lai hay LN có tính ổn định. Nghiên cứu trong nước Tại VN, một số ít bài báo đề cập đến tính ổn định hoặc các khía cạnh liên quan đến tính ổn định của LN như nghiên cứu của Nguyet (2017) điều tra ảnh hưởng của biến động LN đến khả năng dự đoán LN.
Tác giả nhận thấy mối quan hệ nghịch đảo giữa biến động LN cũng như khả năng dự đoán LN trong cả ngắn hạn và dài hạn, tức là nếu công ty có LN biến động thấp, thì khả năng dự đoán của LN sẽ cao hơn so với công ty có mức biến động cao. Trong trường hợp này, mức độ biến động của LN có thể giúp dự đoán LN trong tương lai. Vinh và Huong (2019) cũng cho thấy đối với các công ty niêm yết phi tài chính VN, công ty nào có cổ phần nước ngoài lớn hơn thì việc công khai tài chính cao hơn. Đặc biệt hơn, các công ty có cổ phần nước ngoài lớn thường có các đặc điểm như (i) điều chỉnh LN thấp hơn; (ii) LN ổn định hơn; và (iii) thông tin về LN cao hơn.
Điều này cho thấy các tổ chức nước ngoài với kỹ năng quản lý sâu rộng có thể hỗ trợ các công ty đầu tư trong việc cải thiện chất lượng công bố chỉ 13 tiêu LN. Hung và Van (2020) đã đo lường chất lượng LN trên nhiều khía cạnh khía cạnh khác nhau. Trong đó, sự điều chỉnh LN, tính ổn định, tính trơn tru (smoothness), tính thay đổi (variability), giá trị thích hợp của thông tin, tính kịp thời có quan hệ cùng chiều với LN cổ phiếu trong khi chất lượng các khoản dồn tích thì liên quan nghịch chiều đến LN cổ phiếu. Nhung và cộng sự (2020) đã nghiên cứu trường hợp các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán trong giai đoạn 2008- 2017 nhằm cung cấp hiểu biết tốt hơn về tính ổn định của LN của các doanh nghiệp VN, trường hợp điển hình về nền kinh tế đang phát triển ở Đông Nam Á.
Kết quả cho thấy tính ổn định của LN là yếu tố quyết định đối với dự báo LN trong tương lai và định giá cổ phiếu. Các doanh nghiệp VN có LN ở mức ổn định thấp, LN giữa các ngành có sự phân hóa cao và thay đổi không đồng đều. Trong một số lĩnh vực, các doanh nghiệp quy mô lớn có LN và tốc độ tăng trưởng ổn định. Ngược lại, có những doanh nghiệp quy mô nhỏ, sản xuất kinh doanh không tập trung, LN và tăng trưởng LN thấp, thậm chí thua lỗ (Nhung và cộng sự, 2020).
Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, giai đoạn nghiên cứu của Nhung và cộng sự (2020) từ 2008-2017, các số liệu kế toán bị chi phối bởi Quyết định 15/2006/QĐ-BTC và Thông tư 200 nên dễ xảy ra trường hợp sai lệch trong kết quả nghiên cứu (bias result). Như vậy, có thể thấy giai đoạn đầu trên thế giới, các nghiên cứu kết luận giá trị LN của công ty qua các năm không liên quan với nhau. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu sau này đều chỉ ra rằng LN có tính ổn định, LN năm sau có thể lặp lại LN năm trước. Tính ổn định của LN có thể bị ảnh hưởng bởi các cú sốc kinh tế, công ty làm ăn thua lỗ hay trong việc ghi nhận kế toán… Tại VN, hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến tính ổn định của LN như sự biến động LN, chất lượng LN… Một số ít nghiên cứu về tính ổn định của LN và kết luận rằng LN có tính ổn định thấp, nhưng những nghiên cứu này lại gặp hạn chế trong việc lấy mẫu do ảnh hưởng của các chế độ kế toán áp dụng khác nhau.
Ở một khía cạnh khác, LN được cấu thành bởi hai thành phần là dòng tiền và các khoản dồn tích (Blaylock và cộng sự, 2012; Hanlon, 2005; Sloan, 1996), thông tin về dòng tiền và các khoản dồn tích năm hiện tại có thể dùng để dự đoán LN tương lai 14 Sloan (1996) và ảnh hưởng đến tính ổn định của LN. Trong phần tiếp theo, tác giả sẽ trình bày các nghiên cứu về tính ổn định của các thành phần này trong LN. Các nghiên cứu về tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận Nghiên cứu nước ngoài Mối quan hệ giữa LN và các thành phần trong LN được đề cập lần đầu trong nghiên cứu của Rayburn (1986). Kết quả phân tích dữ liệu chuỗi thời gian đã chứng minh mối quan hệ giữa dòng tiền từ HĐKD và tổng các khoản dồn tích với LN bất thường.