CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN KTQTCP là một chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu lựa chọn và tiến hành nghiên cứu dưới nhiều góc độ cả về lý luận, thực tiễn và bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau. Qua nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu về KTQTCP trong DN, theo tác giả có thể tổng hợp các nghiên cứu về KTQTCP thành ba hướng nghiên cứu chính sau: Nghiên cứu KTQTCP trong các loại hình DN; Nghiên cứu tình hình vận dụng các kỹ thuật KTQTCP trong DN và Nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQTCP trong DN. Nghiên cứu KTQTCP trong các loại hình doanh nghiệp Các nghiên cứu về KTQTCP theo hướng này được số lượng lớn nhà nghiên cứu thực hiện, các tác giả tiếp cận nghiên cứu thông qua khảo sát nội dung KTQTCP trong các DN thuộc nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau; từ đó phân tích, đánh giá ưu nhược điểm và đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng, hoàn thiện KTQTCP phù hợp với đặc thù hoạt động sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý của từng loại hình DN. Một trong những nghiên cứu đầu tiên về KTQTCP theo hướng tiếp cận này là nghiên cứu của tác giả Trần Văn Dung (2002).
Tác giả đã tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa KTQTCP với kế toán tính giá thành và phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong các DNSX nhằm tìm ra mối liên hệ giữa KTQTCP với công tác tính giá thành sản phẩm trong các DNSX hỗ trợ cho việc ra quyết định kinh doanh. Với mục tiêu nghiên cứu đã xác định, tác giả đã tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng KTQTCP và tính giá thành sản phẩm trong các DNSX, từ đó chỉ ra một số hạn chế và đề xuất các giải pháp hoàn thiện từng nội dung cụ thể của tổ chức công tác KTQTCP sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các DNSX. Tuy nhiên, các giải pháp đề xuất của tác giả chỉ mang tính định hướng chung cho tất cả các DNSX mà chưa đưa ra các giải pháp chi tiết cho từng ngành sản xuất cụ thể nên gây khó khăn cho các nhà quản trị DNSX khi xem xét triển khai vận dụng KTQTCP trong công tác quản lý tại đơn vị. Vì vậy, các nghiên cứu kế tiếp về KTQTCP được các tác giả thực hiện trong từng ngành nghề kinh doanh cụ thể nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp hơn với từng DN như nghiên cứu của Phạm Thị Thủy (2007) với ngành sản xuất dược phẩm, Nguyễn Quốc Thắng (2010) với ngành giống cây trồng, Nguyễn Hoản (2011) với ngành sản xuất bánh kẹo, Nguyễn Thị Ngọc Lan (2012) với ngành vận tải đường bộ, Hồ Mỹ Hạnh (2013) với ngành may, Nguyễn Thị Mai Anh (2014) với ngành nhựa, 7 Đào Thúy Hà (2015) với ngành thép, Nguyễn Thị Bình (2018) với ngành dược phẩm; Phạm Quang Thịnh (2018) với ngành xi măng, Đặng Nguyên Mạnh (2019) với ngành sản xuất gốm, sứ xây dựng; Tô Minh Thu (2019) với ngành sản xuất giấy và Nguyễn Văn Hải (2020) với ngành da giày.
Phạm Thị Thủy (2007) thực hiện nghiên cứu KTQTCP trong các DNSX dược phẩm Việt Nam. Tác giả đã nghiên cứu chi tiết các đặc trưng của ngành sản xuất dược phẩm, từ đó đi sâu nghiên cứu nội dung kế toán chi phí trong các DNSX Việt Nam qua các giai đoạn và đánh giá thực trạng kế toán chi phí trong các DNSX dược phẩm Việt Nam chưa thực sự phù hợp với đặc thù ngành dược; vì thế kế toán chi phí chưa thể đáp ứng được nhu cầu thông tin của nhà quản trị cho việc ra các quyết định kinh doanh hợp lý. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất xây dựng mô hình KTQTCP trong các DNSX dược phẩm với các nội dung cần thực hiện như: lập dự toán ngân sách, phân loại chi phí theo cách ứng xử chi phí… Đóng góp nổi bật của tác giả trong nghiên cứu này chính là việc tác giả đề xuất áp dụng kỹ thuật KTQTCP hiện đại mà cụ thể là phương pháp ABC trong việc xác định và phân bổ chi phí cho các đối tượng chịu phí thay cho việc xác định và phân bổ chi phí truyền thống. Tuy nhiên, tác giả chỉ mới dừng lại ở việc đưa ra ý tưởng mà chưa làm rõ được lợi ích của phương pháp này cũng như trình tự nội dung các bước cần triển khai thực hiện khi đưa phương pháp ABC vào áp dụng trong thực tế tại các DNSX dược phẩm.
Tiếp đó, Nguyễn Quốc Thắng (2010) nghiên cứu KTQTCP trong các DN thuộc ngành giống cây trồng Việt Nam. Tác giả đã nghiên cứu thực trạng KTQTCP và tính giá thành sản phẩm trong các DNSX giống cây trồng, từ đó đưa ra một số nhận xét, tồn tại trong công tác KTQTCP tại các DNSX thuộc ngành này và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác KTQTCP và tính giá thành sản phẩm trong các DNSX thuộc ngành giống cây trồng Việt Nam. Đặc biệt, kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy tổ chức KTQTCP và tính giá thành sản phẩm theo phương pháp hiện đại kết hợp với hệ thống KTQTCP và tính giá thành theo phương pháp truyền thống sử dụng trong các DN thuộc ngành giống cây trồng Việt Nam có tác dụng nâng cao khả năng xử lý, cung cấp thông tin cho nhà quản trị DN trong việc ra quyết định kinh doanh cả trong ngắn hạn và dài hạn. Và theo tác giả khẳng định mô hình kết hợp này nếu được các DN thuộc ngành giống cây trồng Việt Nam áp dụng sẽ tăng cường hiệu quả quản trị chi phí của DN trong thời gian đến, đây chính là một đóng góp nổi bật của tác giả trong nghiên cứu này.
Tuy nhiên, tác giả chưa đưa ra được các giải pháp cụ thể hướng dẫn các DN giống cây trồng trong việc triển khai mô hình này. 8 Nguyễn Hoản (2011) nghiên cứu KTQTCP trong các DNSX bánh kẹo của Việt Nam. Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức KTQTCP tại một số DN sản xuất bánh kẹo ở Việt Nam. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện tổ chức KTQTCP trong các DN này và các giải pháp được tác giả đề xuất tập trung vào một số nội dung cơ bản như: tổ chức bộ máy KTQTCP theo mô hình kết hợp, phân loại chi phí theo mức độ hoạt động, vận dụng hệ thống dự toán linh hoạt để đo lường và kiểm soát chi phí tại nhiều mức độ hoạt động khác nhau của DN.
Căn cứ vào đặc thù của DN bánh kẹo, tác giả cũng đưa ra cách thức phân tích ra quyết định trong các tình huống cụ thể: quyết định tự sản xuất hay mua ngoài một số yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất sản phẩm, quyết định tiếp tục chế biến thành sản phẩm hay bán ngay. điều này rất phù hợp với đặc điểm sản xuất của các DN bánh kẹo đó là quy trình sản xuất sản phẩm trải qua nhiều công đoạn, đầu ra của công đoạn này là đầu vào công đoạn kế tiếp. Mặc dù có nhiều đóng góp mới về giải pháp hoàn thiện tổ chức KTQTCP trong các DN sản xuất bánh kẹo khi đưa ra mô hình tổ chức bộ máy KTQTCP kết hợp giữa KTQT với kế toán tài chính, tuy nhiên tác giả chưa chỉ rõ được các yếu tố nào có ảnh hưởng đến việc lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy KTQTCP áp dụng cho các DN thuộc lĩnh vực này cũng như mối quan hệ giữa KTQT và kế toán tài chính trong mô hình này. Trần Thế Nữ (2011) đã thực hiện nghiên cứu“Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp thương mại quy mô vừa và nhỏ ở Việt Nam”.
Qua nghiên cứu, tác giả đã đánh giá thực trạng KTQTCP ở các DN vừa và nhỏ nói chung và các DN thương mại quy mô vừa và nhỏ Việt Nam nói riêng mới chỉ ở giai đoạn sơ khai và còn nhiều hạn chế nên để đảm bảo cung cấp nguồn thông tin tin cậy cho nhà quản trị, rất cần thiết lập một mô hình KTQTCP ở các DN này. Sau đó, tác giả đi vào xây dựng mô hình KTQTCP ở các DN thương mại quy mô vừa và nhỏ xuất phát từ nhu cầu thực tế, đặc điểm của các DN cũng như đảm bảo những nguyên tắc kế toán cơ bản hay sự tuân thủ pháp luật. Nội dung xây dựng gồm: phân loại chi phí, lập dự toán chi phí, kế toán chi phí thực hiện, lập báo cáo KTQTCP, phân tích chi phí để kiểm soát chi phí và ra quyết định kinh doanh. Nhìn chung, các nội dung tác giả đưa ra khá đầy đủ, tuy nhiên các vấn đề được trình bày chưa sâu còn mang tính lý thuyết chưa gắn với thực tiễn của các DN thương mại.
Bên cạnh đó, mô hình KTQTCP tác giả đề xuất muốn áp dụng cho các DN thương mại quy mô vừa và nhỏ cần có sự hỗ trợ từ nhiều phía: các cơ quan chức năng Nhà nước, các đơn vị đào tạo, nghiên cứu KTQT cũng như các DN thương mại, đặc biệt là vấn đề nhận thức và văn bản pháp quy điều chỉnh hoạt động này. Do vậy, tính khả thi của mô hình gặp nhiều thách thức. 9 Năm 2012, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan nghiên cứu “Tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng hóa trong các công ty vận chuyển đường bộ Việt Nam”. Trong luận án, tác giả tiến hành xây dựng mô hình tổ chức KTQTCP vận tải hàng hóa áp dụng cho các DN kinh doanh vận tải đường bộ Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của hệ thống KTQTCP trên thế giới gắn liền với từng hoàn cảnh kinh tế cụ thể, cũng như kinh nghiệm vận dụng và các kỹ thuật KTQTCP trong các nền kinh tế khác nhau, đặc biệt là các nền kinh tế có tính chất tương đồng với nền kinh tế Việt Nam.
Từ đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác KTQTCP vận tải hàng hóa trong các công ty vận tải đường bộ Việt Nam nhằm cung cấp các thông tin hữu ích phục vụ cho các nhà quản trị trong việc ra quyết định kinh doanh. Tuy nhiên, các giải pháp chủ yếu theo quan điểm chủ quan của tác giả nên khả năng triển khai trong thực tiễn còn hạn chế. Tiếp tục hướng nghiên cứu này, Hồ Mỹ Hạnh (2013) nghiên cứu hệ thống KTQTCP trong các doanh nghiệp may Việt Nam.