Chương 1: Lý luận chung về hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tài chính của Tập đoàn kinh tế. 12 Chương 2: Thực trạng về hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT. Chương 3: Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án Quản trị tài chính trong các doanh nghiệp thuộc mọi loại hình và mọi thành phần kinh tế luôn là vấn đề quan trọng trong công tác quản lý kinh tế tài chính của các doanh nghiệp.
Bất kể doanh nghiệp nào, vấn đề tổ chức quản trị tài chính hợp lý và khoa học đều được những nhà quản lý và nhà chuyên môn quan tâm đúng mức. Vì chỉ có tổ chức khoa học và hợp lý, quản trị tài chính mới có thể đưa ra những quyết định đúng đắn và kịp thời cho việc điều hành Tập đoàn. Hơn ai hết, Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT phải chịu sức ép cạnh tranh từ việc gia nhập WTO (do có nhiều đối tác Viễn thông nước ngoài đầu tư vào Việt Nam), cũng như các công ty Viễn thông vừa và nhỏ (cũng bị áp lực tồn tại trong thế giới kinh doanh đầy cạnh tranh) đều hiểu rõ sự cần thiết vể hệ thống thông tin kinh tế, vì hệ thống này có vai trò cung cấp thông tin kinh tế kịp thời, phù hợp, đầy đủ và chính xác cho nhà quản trị, từ đó nhà quản trị có cơ sở khoa học đưa ra các quyết định tài chính được chính xác hơn, hiệu quả hoạt động được nâng cao hơn, và sức cạnh tranh trên thị trường viễn thông ngày càng lớn hơn. Vì tầm quan trọng như vậy nên có nhiều nghiên cứu liên quan tới hệ thống thông tin, và liên quan quyết định tài chính.
Cụ thể: Công trình nghiên cứu về hệ thống như luận án của Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Liên (2012) nói về việc ứng dụng hệ thống EPR để hoạch định nguồn 13 lực của doanh nghiệp, luận án này nói về việc sử dụng hệ thống thông tin để nghiên cứu thực hiện phân tích dữ liệu liên quan tới quy trình làm việc của công ty. Hệ thống thông tin tác động tới tất cả các hoạt động, các bộ phận chức năng của doanh nghiệp. Nhờ hệ thống thông tin EPR làm thay đổi quy trình làm việc, rút ngắn thời gian làm việc cho một nghiệp vụ kinh tế, vì thế hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tăng lên đáng kể. Ngoài ra, nói đến chất lượng thông tin, kiểm soát chất lượng thông tin trong doanh nghiệp liên quan trực tiếp tới vấn đề các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin, một nghiên cứu đã được công bố trong luận án tiến sĩ 2003 của đại học Southern Queensland “Critical Success Factors for Accounting Information Systems Data Quality”.
Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ dừng trong phạm vi hệ thống kế toán nói riêng chứ không phải cho cả ngành kinh tế nói chung. Ngoài ra luận án trên sử dụng cách tiếp cận xây dựng mô hình nghiên cứu trên quan điểm quản lý chất lượng hệ thống thông tin kế toán tổng thể chứ không sử dụng mô hình hệ thống thông tin kinh tế, hệ thống hoạt động khi phân tích. Mặt khác, vai trò của nghiên cứu tài chính trong phát triển kinh tế được giải thích bởi Okab và đồng sự (2014), thông qua nghiên cứu của họ, họ đã chứng minh rằng các thông tin kinh tế đóng một vai trò tích cực trong sự toàn vẹn của các quyết định cũng như sự thành công của kế hoạch phát triển, thực hiện kế hoạch hợp thời phụ thuộc vào quyết định chiến lược được thực hiện bởi những nhà quản lý, những loại quyết định này dựa vào các thông tin kinh tế. Đó là lý do tại sao Ullah và đồng sự (2014) đã phát triển một mối quan hệ có ý nghĩa giữa các thông tin kinh tế và các quyết định chiến lược.
Mặt khác, Rapina (2014) xác định ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức (cam kết quản lý, văn hóa tổ chức và cơ cấu tổ chức) đến chất lượng của hệ thống thông tin kinh tế và tác động của nó đến chất lượng thông tin kinh tế; Chiriac (2014) phát 14 triển một phương pháp định tính, bởi một quan điểm lý thuyết, về tầm quan trọng của thông tin kinh tế trong việc ra quyết định; Nobes & Stadler (2014) thực hiện đầu tiên nghiên cứu thực nghiệm có sử dụng công khai dữ liệu có sẵn để cung cấp bằng chứng trực tiếp về vai trò của thông tin kinh tế trong các quyết định; Caraiman (2015) cho thấy rằng các thông tin kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của hệ thống chính trị; Một số chuyên gia như Fitriati & Mulyani (2015) đã chứng minh rằng sự thành công của hệ thống thông tin kinh tế có liên quan đến chất lượng thông tin; Susanto (2015) tin rằng tổng chất lượng của thông tin kinh tế bị ảnh hưởng bởi chất lượng của hệ thống thông tin kinh tế; Alamin và đồng sự (2015) điều tra các yếu tố (nhận thức phù hợp với công nghệ, điều kiện thuận lợi,…) ảnh hưởng đến hệ thống thông tin kinh tế; ngoài ra, Iskandar (2015) đã chứng minh qua nghiên cứu của mình rằng chất lượng hệ thống thông tin kinh tế có thể được cải thiện thông qua cải thiện quản lý. Mặt khác, luận án tiếp cận giải quyết vấn đề hoàn thiện hệ thống thông tin có chất lượng trên góc độ của qui trình tạo lập thông tin nhằm giúp người sử dụng thông tin ra quyết định tài chính đúng đắn hơn. Điều này nghĩa là dựa vào quy trình hoạt động của công ty viễn thông mẹ và các Trung tâm viễn thong con, hệ thống thông tin sẽ được hoàn thiện để tạo ra các thông tin phù hợp và chính xác, đảm bảo sự an toàn, độ tin cậy dữ liệu cao. Các nghiên cứu liên quan tới việc thay đổi các chính sách kinh tế hay thay đổi các quy định của pháp luật về quản lý tài chính sẽ nằm ngoài phạm vi của luận án.
Xuất phát từ các lý do trên, ta thấy Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông VNPT cần được nghiên cứu hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phù hợp để phục vụ cho việc ra các quyết định tài chính đúng đắn hơn. Vì thế tác giả đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế phục vụ ra quyết định tài chính của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam VNPT”. Với đề tài 15 này, tác giả mong muốn sẽ có nhưng đóng góp về lý luận, thực tiễn cũng như xây dựng hệ thống thông tin kinh tế phù hợp với thực trạng của Tập đoàn. 16 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ NHẰM PHỤC VỤ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ 1.1 TẬP ĐOÀN KINH TẾ VÀ CÁC LOẠI QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ 1.1 Tập đoàn kinh tế và đặc điểm của tập đoàn kinh tế 1.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế Theo Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia tiếng Anh thì:"Tập đoàn là sự liên kết của hai hay nhiều tổng công ty có lĩnh vực kinh doanh khác nhau tạo thành một cấu trúc công ty có quy mô quản lý lớn và phức tạp”.
Vì thế, về ý nghĩa tập đoàn, ta có thể hình dung như một công ty mẹ và một số (hay nhiều) công ty con cùng bắt tay kinh doanh ở một hay nhiều lĩnh vực nào đó; nhìn chung, tập đoàn là một công ty đa ngành, có quy mô rất lớn và thường kinh doanh đa quốc gia. Theo Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương CIEM thì khái niệm về tập đoàn kinh tế được hiểu “là một tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các bên tham gia”. Trong mô hình này, "công ty mẹ" nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của "công ty con" về tài chính và chiến lược phát triển.Trần Tiến Cường, Trưởng Ban nghiên cứu cải cách và phát triển doanh nghiệp (Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế TƯ) trong dự thảo Nghị định về hình thành, tổ chức, hoạt động và giám sát đối với TĐ kinh tế nhà nước thì tập đoàn kinh tế nhà nước là nhóm các công ty, liên kết chủ yếu dưới hình thức công ty mẹ - công ty con, có từ hai cấp DN trở lên, tạo thành 17 tổ hợp kinh doanh gắn bó với nhau, hay tập đoàn kinh tế là tổ chức kinh tế có kết cấu tổ chức nhiều cấp, liên kết nhau bằng quan hệ tài sản và quan hệ hợp tác nhằm đáp ứng đòi hỏi của nền sản xuất hàng hóa; các doanh nghiệp trong tập đoàn đều có pháp nhân độc lập. Có nhiều quan niệm khác nhau về tập đoàn, song cũng có một điểm chung nhất là: Tập đoàn kinh tế là tổ hợp các công ty hoạt động trong một ngành hay nhiều ngành khác nhau, ở phạm vi một nước hay nhiều nước, trong đó có một công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các công ty con về mặt tài chính và chiến lược phát triển.
Tập đoàn kinh tế là một cơ cấu tổ chức vừa có chức năng kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận 1.2 Đặc điểm của tập đoàn kinh tế Sự hình thành và phát triển của các tập đoàn kinh tế xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Trước áp lực cạnh tranh, các công ty có xu hướng sáp nhập hoặc liên kết với nhau tạo thành tập đoàn để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Tuy nhiên không phải tập đoàn kinh tế nào cũng có thể tồn tại và phát triển được; hiệu quả hoạt động của các tập đoàn kinh tế luôn là vấn đề quan trọng được quan tâm hiện nay bởi những lợi ích và ảnh hưởng của tập đoàn kinh tế đối với một quốc gia là rất lớn. Sự mở rộng không hợp lý về quy mô của tập đoàn sẽ gây ra những hệ lụy không tốt, khó khắc phục đối với nền kinh tế của các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển.