Luận án tiến sĩ tâm lý học: Hành vi sống khỏe của người cao tuổi - Trần Thị Thanh

Luận án tiến sĩ nghiên cứu hành vi sống khỏe của người cao tuổi, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực tại Việt Nam.

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

214
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HÀNH VI SỐNG KHỎE CỦA NGƯỜI CAO TUỔI

1.1. Nghiên cứu hành vi sống khỏe của người cao tuổi ở nước ngoài

1.2. Nghiên cứu hành vi sống khỏe của người cao tuổi ở trong nước

1.3. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HÀNH VI SỐNG KHỎE

2.1. Một số vấn đề lý luận về hành vi sống khỏe

2.2. Khái niệm hành vi

2.3. Hành vi sống khỏe

2.4. Lí luận về người cao tuổi

2.5. Khái niệm người cao tuổi

2.6. Một số đặc điểm người cao tuổi

2.7. Lí luận về hành vi sống khỏe của người cao tuổi

2.8. Khái niệm hành vi sống khỏe của người cao tuổi

2.9. Các biểu hiện hành vi sống khỏe của người cao tuổi

2.10. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sống khỏe

2.11. Mối quan hệ giữa hành vi sống khỏe và sức khỏe của người cao tuổi

2.12. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu

3.2. Về địa bàn nghiên cứu

3.3. Về khách thể nghiên cứu

3.4. Tổ chức nghiên cứu

3.5. Nghiên cứu lý luận

3.6. Nghiên cứu thực tiễn

3.7. Nghiên cứu trường hợp (case study) và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hành vi sống khỏe đối với người cao tuổi

3.8. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

3.9. Phương pháp nghiên cứu tài liệu

3.10. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

3.11. Phương pháp phỏng vấn sâu

3.12. Phương pháp phân tích chân dung tâm lý điển hình (case study)

3.13. Phương pháp phân tích dữ liệu

3.14. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HÀNH VI SỐNG KHỎE CỦA NGƯỜI CAO TUỔI

4.1. Thực trạng hành vi sống khỏe của người cao tuổi

4.2. Đặc trưng hành vi sống khỏe của người cao tuổi

4.3. Các nhóm hành vi sống khỏe của người cao tuổi

4.4. Tác động của yếu tố nhân khẩu học đến hành vi sống khỏe

4.5. Hành vi sống khỏe của hai giới nam và nữ

4.6. Hành vi sống khỏe của người cao tuổi giữa hai vùng nông thôn và thành thị

4.7. Hành vi sống khỏe với các nhóm tuổi

4.8. Hành vi sống khỏe với các nhóm thu nhập khác nhau

4.9. Hành vi sống khỏe với trình độ học vấn khác nhau

4.10. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sống khỏe của người cao tuổi

4.11. Mối quan hệ giữa hành vi sống khỏe với các yếu tố ảnh hưởng

4.12. Ảnh hưởng của các yếu tố lo lắng - suy nghĩ tích cực - niềm tin - hỗ trợ xã hội tới hành vi sống khỏe của người cao tuổi

4.13. Mối quan hệ giữa hành vi sống khỏe đối với sức khỏe người cao tuổi

4.14. Mối quan hệ giữa hành vi sống khỏe với tự đánh giá về tình trạng sức khỏe

4.15. Tác động của hành vi sống khỏe đối với sức khỏe tinh thần của người cao tuổi

4.16. Phân tích trường hợp điển hình về hành vi sống khỏe của người cao tuổi

4.17. Tiểu kết chương 4

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về hành vi sống khỏe của người cao tuổi

Hành vi sống khỏe của người cao tuổi là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu tâm lý học và y học. Sự gia tăng số lượng người cao tuổi trên toàn cầu đã tạo ra nhiều thách thức cho hệ thống chăm sóc sức khỏe. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sống khỏe của người cao tuổi, từ đó đề xuất các giải pháp cải thiện sức khỏe cho nhóm đối tượng này.

1.1. Khái niệm hành vi sống khỏe của người cao tuổi

Hành vi sống khỏe được định nghĩa là những thói quen và lối sống tích cực giúp duy trì sức khỏe thể chất và tinh thần. Đối với người cao tuổi, hành vi này bao gồm chế độ dinh dưỡng hợp lý, hoạt động thể chất thường xuyên và các hoạt động xã hội tích cực.

1.2. Tầm quan trọng của hành vi sống khỏe

Hành vi sống khỏe không chỉ giúp người cao tuổi duy trì sức khỏe mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống. Nghiên cứu cho thấy rằng những người cao tuổi có hành vi sống khỏe thường có tâm lý tích cực và ít gặp phải các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.

II. Vấn đề và thách thức trong hành vi sống khỏe của người cao tuổi

Mặc dù có nhiều lợi ích từ hành vi sống khỏe, nhưng người cao tuổi vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức. Những thách thức này bao gồm sự thiếu hụt thông tin, khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe và sự cô đơn.

2.1. Thiếu thông tin về sức khỏe

Nhiều người cao tuổi không có đủ thông tin về cách duy trì sức khỏe. Điều này dẫn đến việc họ không thực hiện các hành vi sống khỏe cần thiết, như chế độ ăn uống hợp lý và tập thể dục thường xuyên.

2.2. Khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe

Người cao tuổi thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe do vấn đề di chuyển hoặc chi phí. Điều này ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các hành vi sống khỏe của họ.

III. Phương pháp nghiên cứu hành vi sống khỏe của người cao tuổi

Để nghiên cứu hành vi sống khỏe của người cao tuổi, nhiều phương pháp đã được áp dụng. Các phương pháp này bao gồm khảo sát, phỏng vấn sâu và phân tích dữ liệu định lượng.

3.1. Khảo sát và thu thập dữ liệu

Khảo sát được thực hiện trên một mẫu người cao tuổi để thu thập thông tin về hành vi sống khỏe. Dữ liệu thu thập sẽ giúp phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi này.

3.2. Phỏng vấn sâu

Phỏng vấn sâu với người cao tuổi giúp hiểu rõ hơn về những khó khăn và thách thức mà họ gặp phải trong việc duy trì hành vi sống khỏe. Phương pháp này cung cấp thông tin định tính quý giá cho nghiên cứu.

IV. Kết quả nghiên cứu về hành vi sống khỏe của người cao tuổi

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hành vi sống khỏe của người cao tuổi có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm tuổi và giới tính. Những người cao tuổi có sự hỗ trợ xã hội tốt thường có hành vi sống khỏe hơn.

4.1. Đặc điểm hành vi sống khỏe của người cao tuổi

Nghiên cứu chỉ ra rằng người cao tuổi thường có xu hướng thực hiện các hành vi tích cực như tham gia các hoạt động xã hội và duy trì lạc quan. Tuy nhiên, họ cũng gặp phải nhiều hành vi tiêu cực ảnh hưởng đến sức khỏe.

4.2. Tác động của yếu tố xã hội đến hành vi sống khỏe

Yếu tố xã hội, bao gồm sự hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng, có tác động mạnh mẽ đến hành vi sống khỏe của người cao tuổi. Những người có mạng lưới xã hội rộng thường có sức khỏe tốt hơn.

V. Giải pháp nâng cao hành vi sống khỏe cho người cao tuổi

Để nâng cao hành vi sống khỏe cho người cao tuổi, cần có các giải pháp đồng bộ từ chính quyền, cộng đồng và gia đình. Các giải pháp này bao gồm tổ chức các hoạt động thể dục thể thao, cung cấp thông tin về dinh dưỡng và sức khỏe.

5.1. Tổ chức các hoạt động thể dục thể thao

Các hoạt động thể dục thể thao không chỉ giúp người cao tuổi cải thiện sức khỏe mà còn tạo cơ hội giao lưu, kết nối với cộng đồng. Điều này rất quan trọng trong việc duy trì sức khỏe tinh thần.

5.2. Cung cấp thông tin về dinh dưỡng

Cung cấp thông tin về dinh dưỡng và chế độ ăn uống hợp lý cho người cao tuổi là cần thiết. Điều này giúp họ có những lựa chọn thực phẩm tốt cho sức khỏe và tránh xa các thói quen xấu.

VI. Kết luận và tương lai của hành vi sống khỏe của người cao tuổi

Hành vi sống khỏe của người cao tuổi là một vấn đề quan trọng cần được nghiên cứu và cải thiện. Tương lai của hành vi sống khỏe phụ thuộc vào sự quan tâm của xã hội và các chính sách hỗ trợ cho người cao tuổi.

6.1. Tầm quan trọng của hành vi sống khỏe trong tương lai

Hành vi sống khỏe sẽ ngày càng trở nên quan trọng khi dân số già hóa. Cần có các chính sách và chương trình hỗ trợ để đảm bảo người cao tuổi có thể duy trì sức khỏe tốt.

6.2. Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về hành vi sống khỏe của người cao tuổi, đặc biệt là trong bối cảnh xã hội thay đổi nhanh chóng. Các nghiên cứu này sẽ giúp phát triển các chương trình can thiệp hiệu quả hơn.

23/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về hành vi sống khỏe của người cao tuổi - Chương 2: Cơ sở lý luận về hành vi sống khỏe của người cao tuổi - Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về hành vi sống khỏe của người cao tuổi - Kết luận và kiến nghị - Danh mục công trình đã công bố của tác giả liên quan đến luận án - Danh mục tài liệu tham khảo - Phụ lục. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HÀNH VI SỐNG KHỎE CỦA NGƢỜI CAO TUỔI 1. Nghiên cứu hành vi sống khỏe của ngƣời cao tuổi ở nƣớc ngoài Hiện nay trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu lấy luận điểm nghiên cứu là sống khỏe, hành vi sống khỏe của người cao tuổi.

Có thể kể đến một số lý thuyết tâm lý xã hội đã được phát triển để dự đoán, giải thích, và thay đổi hành vi sống khỏe. Những lý thuyết này có thể được chia thành hai nhóm thường được đề cập là mô hình nhận thức xã hội và các mô hình giai đoạn. Thuật ngữ “mô hình nhận thức xã hội” dùng để chỉ một nhóm các lý thuyết tương tự nhau trong đó quy định cụ thể một số lượng các yếu tố nhận thức và tình cảm (niềm tin và thái độ) là yếu tố quyết định của hành vi. Năm mô hình lý thuyết đã được sử dụng rộng rãi nhất bởi các nhà nghiên cứu hành vi sống khỏe trong những năm gần đây là: mô hình niềm tin sức khỏe, lý thuyết động cơ bảo vệ sức khỏe, lý thuyết hiệu quả cá nhân, lý thuyết hành động có lí do, và các lý thuyết về thực hiện hành vi lập kế hoạch.

Dưới đây xin đưa ra một số mô hình lý thuyết về hành vi sống khỏe: - Một số lý thuyết về hành vi sức khỏe + Mô hình niềm tin sức khoẻ - The Health Belief Model (HBM; Becker 1974) được phát triển vào những năm 1950 bởi một nhóm các nhà tâm lý học xã hội làm việc trong lĩnh vực y tế cộng đồng đã tìm cách giải thích lý do tại sao một số người không sử dụng dịch vụ y tế như tiêm chủng và kiểm tra. Kể từ đầu những năm 1950, mô hình niềm tin sức khỏe (HBM) là một trong những lý thuyết được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu hành vi sức khỏe, ở cả hai hướng để giải thích sự thay đổi và duy trì các hành vi liên quan đến sức khỏe và như là một sự hướng dẫn cho các can thiệp hành vi sức khỏe. Trong hai thập kỷ qua, HBM đã được mở rộng, so với các mô hình khác, và được sử dụng để hỗ trợ các can thiệp nhằm thay đổi hành vi sức khỏe. Trong lý thuyết HBM có một số khái niệm chính để dự đoán tại sao mọi người sẽ có hành động để ngăn chặn, để sàng lọc, hoặc để kiểm soát tình 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trạng bệnh tật; bao gồm các tính nhạy cảm, mức độ nghiêm trọng, lợi ích và rào cản đối với một hành vi, dấu hiệu để hành động, và gần đây nhất là tự chủ [68].

Cụ thể các khái niệm trong lý thuyết niềm tin sức khỏe như sau: Tính nhạy cảm nhận thức: Nhạy cảm nhận thức đề cập đến niềm tin về khả năng cá nhân sẽ bị một bệnh nào đó. Ví dụ như một người tin rằng khả năng họ mắc ung thư phổi cao. Mức độ nghiêm trọng: Niềm tin về mức độ nhiễm bệnh hoặc không được điều trị bao gồm đánh giá của kết quả y tế và lâm sàng (ví dụ, cái chết, tàn tật và đau) và hậu quả xã hội (chẳng hạn như ảnh hưởng của các điều kiện về công việc, cuộc sống gia đình và quan hệ xã hội). Sự kết hợp của tính nhạy cảm và mức độ nghiêm trọng đã được cho là mối đe dọa nhận thức.

Lợi ích cảm nhận: Các lợi ích liên quan trong việc thực hiện hành vi. Ví dụ như bỏ thuốc lá sẽ tiết kiệm được tiền. Các rào cản nhận thức: Các khía cạnh tiêu cực của hành động nhận thức sức khỏe, rào cản là những hoạt động cản trở đối với sự khuyến khích hành vi. Ví dụ, "Nó có thể giúp tôi, nhưng nó có thể rất tốn kém, có tác dụng phụ tiêu cực, khó chịu, bất tiện, hoặc tốn thời gian".

Tín hiệu để hành động: Công thức ban đầu của HBM bao gồm các tín hiệu có thể kích hoạt các hành động. Hochbaum (1958) ví dụ, cá nhân nghĩ rằng sẵn sàng để hành động (nhận thức nhạy cảm và lợi ích cảm nhận) có thể được tăng cường bởi các yếu tố khác, đặc biệt là hành động kích động, chẳng hạn như các sự kiện của cơ thể, hoặc sự kiện môi trường, hoặc như việc công khai trên phương tiện truyền thông. Tuy nhiên ông không nghiên cứu vai trò của tín hiệu thực hiện. Cũng không có dấu hiệu hành động được nghiên cứu một cách hệ thống.

Niềm tin vào khả năng của bản thân (self - efficacy): Niềm tin vào khả năng của bản thân được định nghĩa là "niềm tin có thể thực hiện thành công hành vi cần thiết để tạo ra các kết quả" (Bandura, 1997). Bandura kỳ vọng phân biệt niềm tin vào khả năng của bản thân từ những kỳ vọng kết quả, ước tính rằng một hành vi nhất định sẽ dẫn đến kết quả nhất định. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các biến khác: Nhân khẩu học đa dạng, biến tâm lý và cấu trúc xã hội có thể ảnh hưởng đến nhận thức và do đó gián tiếp ảnh hưởng đến hành vi sức khỏe có liên quan. Ví dụ, đối với các yếu tố nhân khẩu học xã hội, trình độ giáo dục đặc biệt, có ảnh hưởng gián tiếp đến hành vi, ảnh hưởng đến nhận thức về tính nhạy cảm, mức độ nghiêm trọng, lợi ích, và các rào cản.

+ Lý thuyết động lực bảo vệ (Protection Motivation Theory) Rogers (1975, 1983, 1985) đã phát triển lý thuyết động lực bảo vệ (PMT), trong đó mở rộng các yếu tố trong mô hình niềm tin sức khỏe để bao gồm các yếu tố bổ sung. Các lý thuyết động lực bảo vệ ban đầu cho rằng hành vi liên quan đến sức khỏe là một sản phẩm của bốn thành phần: - Mức độ nghiêm trọng (ví dụ như ung thư ruột là một căn bệnh nghiêm trọng); - Tính nhạy cảm (ví dụ như khả năng tôi bị ung thư ruột cao); - Hiệu quả phản ứng đáp lại (ví dụ như thay đổi chế độ ăn uống của tôi sẽ cải thiện sức khỏe của tôi); - Niềm tin vào khả năng bản thân (ví dụ như tôi tin rằng tôi có thể thay đổi chế độ ăn uống của tôi). Các thành phần này dự đoán khuynh hướng hành vi (ví dụ: Tôi có ý định thay đổi hành vi của tôi), có liên quan đến hành vi. Rogers (1985) cũng đã đề nghị một vai trò cho một thành phần thứ năm, sợ hãi (ví dụ như một phản ứng cảm xúc), trong phản ứng đáp lại tác động hoặc thông tin.

Cũng giống như mô hình niềm tin sức khỏe mô hình lý thuyết động lực bảo vệ đã bị chỉ trích và mức độ rộng rãi hơn so với mô hình niềm tin sức khỏe. Tuy nhiên, nhiều những chỉ trích của mô hình niềm tin sức khỏe cũng liên quan tới lý thuyết động lực bảo vệ. Ví dụ, các thành phần trong lý thuyết động lực bảo vệ mặc định rằng các hành động của cá nhân là có ý thức để xử lý được thông tin, và không tính toán cho hành vi thói quen, cũng như không tính toán đến vai trò của các yếu tố xã hội và môi trường. + Lý thuyết về hiệu quả cá nhân (Self-efficacy Theory) Lý thuyết hiệu quả cá nhân (SET) là một tập hợp con của lý thuyết nhận thức xã hội Bandura (1986).

Theo phương pháp này, hai yếu tố quyết định quan trọng của 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hành vi là niềm tin vào khả năng của bản thân và kỳ vọng kết quả. Các cấu trúc thứ hai đề cập đến hậu quả nhận thức tích cực và tiêu cực của việc thực hiện hành vi. + Lý thuyết hành động có lý do (The Theory of Reasoned Action) Lý thuyết hành động có lý do (TRA; Ajzen và Fishbein 1980) phát triển từ nghiên cứu xã hội - tâm lý về thái độ và mối quan hệ thái độ - hành vi. Mô hình giả định rằng hầu hết các hành vi liên quan xã hội (bao gồm cả hành vi sức khỏe) đều có sự kiểm soát của ý chí, và ý định của một người để thực hiện một hành vi bao gồm hai yếu tố quyết định ngay lập tức và dự đoán tốt nhất của hành vi đó.

Ý định lần lượt được tổ chức là một chức năng của hai yếu tố quyết định cơ bản: thái độ đối với hành vi (đánh giá tổng thể của người thực hiện hành vi) và tiêu chuẩn chủ quan (sự mong đợi nhận thức của những người khác quan trọng đối với các cá nhân thực hiện hành vi). Nói chung, mọi người sẽ có ý định mạnh mẽ để thực hiện một hành động nhất định nếu họ đánh giá nó một cách tích cực và nếu họ tin rằng những người khác nghĩ rằng điều này quan trọng nên thực hiện. + Lý thuyết hành vi lập kế hoạch (Theory of Planned Behavior) Nhiều hành vi không thể đơn giản được thực hiện theo ý muốn; họ đòi hỏi kỹ năng, cơ hội, nguồn lực, hoặc hợp tác để họ thực hiện thành công. Lý thuyết hành vi lập kế hoạch (TPB; Ajzen 1991) là một nỗ lực để mở rộng lý thuyết hành động có lý do (TRA) bao gồm các hành vi mà không phải là hoàn toàn dưới sự kiểm soát của ý chí, ví dụ như bỏ hút thuốc hoặc sử dụng bao cao su.

Để thích ứng với những hành vi như vậy, Ajzen thêm một biến gọi là nhận thức kiểm soát hành vi. Điều này nói đến sự dễ dàng nhận biết và khó khăn trong việc thực hiện các hành vi, và được giả định để phản ánh kinh nghiệm quá khứ cũng như những trở ngại dự đoán. Nhận thức kiểm soát hành vi được cho là có ảnh hưởng trực tiếp đến ý định. Đối với hành vi mong muốn, nhận thức kiểm soát hành vi lớn hơn, nên dẫn đến ý định mạnh hơn.

Các thành phần lý thuyết hành vi lập kế hoạch (TPB) nhấn mạnh ý định hành vi là kết quả của một sự kết hợp của nhiều niềm tin.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ