CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về KN LVN và giáo dục KN LVN cho trẻ mẫu giáo KN làm việc nhóm “là một trong những kĩ năng xã hội cần thiết với mỗi chúng ta trong thời kỳ hội nhập.
Người Việt Nam được coi trọng bởi sự thông minh và cần cù. Tuy nhiên, lại chưa thật sự thành công bởi lẽ chúng ta thiếu đi sự hợp tác nhóm, chưa biết làm việc theo tinh thần êkip” [37], [38]. Xu thế hội nhập toàn cầu, buộc chúng ta phải thay đổi cách nhìn nhận về vấn đề hình thành kĩ năng. “Kĩ năng là chất lượng cuộc sống của cá nhân ở dạng hiện thực và ở dạng tiềm năng đảm bảo cho cuộc sống của cá nhân luôn phát triển và không ngừng hoàn thiện trong quan hệ với cộng đồng” [54].
Từ xa xưa con người sống thành bầy đàn là sơ khai nhất của hình thức làm việc nhóm. “Không ai có thể làm gì một mình. Mỗi chúng ta sinh ra trong một nhóm và không thể sống còn nếu không có nhóm” [37, tr. 7] Đã có rất nhiều công trình trên thế giới nghiên cứu xoay quanh hoặc liên quan đến vấn đề làm việc nhóm.
Việc dạy học nhóm khá phổ biến ở các nước tư bản J. Bell “đã triển khai dạy học nhóm ngay sau Cách Mạng công nghiệp lần thứ nhất cuối thế kỷ XVIII”. Dewey “đã tăng cường sử dụng dạy học nhóm như một phương pháp dạy học của mình”[20]. Dewey cho rằng: “con người có bản chất sống hợp tác, trẻ cần được dạy biết cảm thông, tôn trọng quyền của người khác, làm việc cùng nhau để giải quyết các vấn đề theo lẽ phải và trẻ phải trải nghiệm quá trình sống hợp tác ngay từ trong nhà trường”.
Johnson đã đưa ra một số ích lợi của làm việc nhóm: “tăng cường khả năng nhận thức và phát triển tư duy ở mức độ cao hơn, hiểu thấu các khái niệm và lưu giữ các kiến thức bền lâu hơn, sự yêu mến, tôn trọng và liên kết nhau sẽ được nâng cao” [70] Cũng theo R. Johnson thì “sự phát triển mạnh mẽ của nền công nghiệp Nhật Bản sau thế chiến thứ hai không phải là do công nhân Nhật Bản có trình độ cao mà là họ có năng lực cộng tác, hợp tác tốt hơn”. Causinet Roger cho rằng “làm việc nhóm nghĩa là các thành viên trong TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 9 nhóm phải đóng góp công sức của mình cho công việc chung của nhóm. Nhờ đó tiềm năng của các thành viên được phát huy” [42] Hai tác giả Kate Exley and Reg Dennick “đã chứng minh vì sao phải làm việc nhóm, những điều kiện để làm việc nhóm thành công, hình thành một số kĩ năng quan trọng như kĩ năng đặt câu hỏi, kĩ năng giải quyết vấn đề, phương thức hợp tác giữa các thành viên trong nhóm”… [69].
Murray F, năm 1986 “đã tổng hợp bốn lý thuyết làm cơ sở cho quá trình làm việc nhóm” [72, Tr. Thứ nhất: Thuyết học tập xã hội: “Lý thuyết này được xây dựng trên nguyên tắc phổ biến. Trẻ nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ sẽ được khen thưởng, nếu không hoàn thành nhiệm vụ thì sẽ không được khen thưởng hoặc bị chê. Tư tưởng chính của thuyết này là khi các cá nhân cùng làm việc với nhau để hướng tới mục tiêu chung thì sự phụ thuộc lẫn nhau thúc đẩy trẻ hoạt động tích cực hơn, để giúp nhóm và bản thân trẻ thành công”.
Thứ hai: Thuyết Piagiet về giải quyết mâu thuẫn: “Làm việc nhóm việc thường nảy sinh mâu thuẫn nhưng không phải mọi mâu thuẫn đều có hại. Mâu thuẫn có thể khơi dậy những ý tưởng mới, tạo ra sự sáng tạo và sẽ thúc đẩy sự phát triển của trẻ” [73] Thứ ba: Thuyết hợp tác nhóm của Vưgotxky: Theo Vưgotxky “mọi chức năng tâm lý cấp cao đều có nguồn gốc xã hội và xuất hiện trước hết ở cấp độ liên cá nhân trước khi nó chuyển vào bên trong và tồn tại ở cấp độ nội cá nhân. Trong sự phát triển của trẻ mọi chức năng tâm lý cấp cao đều xuất hiện hai lần: lần thứ nhất như là một hoạt động tập thể, một hoạt động xã hội – nghĩa là như một chức năng liên tâm lý. Lần thứ hai là một hoạt động cá nhân như một chức năng tâm lý bên trong”.
Vưgotxky với lý thuyết “vùng phát triển gần nhất”, “Điều trẻ em làm cùng với nhau hôm nay, chúng sẽ tự làm được vào ngày mai” [80] Thứ tư: Thuyết nhận thức mới – dạy lẫn nhau: “Mọi thành viên nhóm đều tham gia giải quyết nhiệm vụ nhóm. Mỗi thành viên có thể được luân phiên, thay đổi vị thế trong nhóm từ đó học hỏi, tích lũy được những kinh nghiệm, vốn sống phong phú, đa dạng”. Johnson nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình làm việc nhóm, các ông chỉ ra yếu tố cốt lõi của làm việc nhóm - “Sự phụ thuộc tích cực lẫn nhau: Trong quá trình làm việc theo nhóm, TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 10 trẻ nhận ra “cùng chìm cùng nổi”, trẻ phải hoàn thành và giúp các thành viên khác hoàn thành nhiệm vụ. Vì vậy, các thành viên trong nhóm phải gắn kết chặt chẽ với nhau”.
- “Sự tương tác mặt đối mặt: Làm việc cùng nhau đòi hỏi có sự trao đổi qua lại tích cực giữa các thành viên độc lập trong nhóm. Sự tương tác đối mặt có tác động tích cực đối với trẻ như: tăng cường động cơ học tập, nảy sinh những hứng thú mới, kích thích sự giao tiếp, chia sẻ tư tưởng, tình cảm, giải quyết các vấn đề, tăng cường các kĩ năng xã hội, biết bày tỏ thái độ”, - “Trách nhiệm cá nhân cao: Mỗi thành viên thực hiện một vai trò, công việc nhất định. Muốn nhóm đạt hiệu quả đòi hỏi mỗi thành viên phải có trách nhiệm cao, các vai trò trong nhóm được luân phiên trong các nội dung hoạt động khác nhau”. - “Kĩ năng hợp tác nhóm nhỏ: Trẻ biết tham gia vào các hoạt động nhóm, không rời bỏ nhóm, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xây dựng niềm tin, giúp đỡ và sẵn sàng giúp đỡ người khác.
Kĩ năng giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn như kiềm chế, không xúc phạm người khác…nếu trẻ làm tốt được những kĩ năng trên thì sự hợp tác trong nhóm nhỏ đạt hiệu quả cao”. - Nhận xét nhóm: “Yếu tố này giúp cho bản thân mỗi trẻ biết tự đánh giá bản thân mình và đánh giá người khác”. [71], [76] Hayes Andrew đã bàn tới cách tổ chức nhóm, vai trò cá nhân của mỗi thành viên. Những khám phá về tính cách cá nhân của các thành viên trong nhóm tác động đến cấu trúc nhóm, công việc, sự hợp tác, củng cố cái nhìn sâu sắc về cách tố chức nhóm.
Cũng đồng quan điểm với Hayes Andrew, Floyd Allport nói: tính cách luôn ảnh hưởng tới những chủ đề của nhóm. Cuối cùng các ông khẳng định: “Thành công thường phụ thuộc vào thành tích của nhóm hơn là nỗ lực của cá nhân riêng lẻ” và “sự liên kết các thành viên trong nhóm giải quyết các mối quan hệ trong nhóm và liên kết các cá nhân với nhau”. 84 – 220] Đối với Dick McCann và Charles Margerison đã chỉ ra chín yếu tố cấu thành sự thành công của quá trình làm việc nhóm và được tóm tắt bằng sơ đồ sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 11 Cũng giống như Dick Mc. Cann và Charles Margerison, Randy Y.
Hirokawa cũng có câu hỏi tại sao có nhóm thành công còn nhóm thì không. Tuy nhiên, Hirokawa đã đưa ra cách giải thích khác, đó là những yếu tố quyết định sự giao tiếp và quyết định hiệu quả làm việc nhóm. Đầu tiên, ông nói đến khối lượng và sự chính xác của thông tin. Thứ hai là sự nỗ lực đi đến cùng của mỗi thành viên trong nhóm và yếu tố thứ ba là khả năng tư duy của các thành viên trong nhóm.
Những lưu ý về các điều kiện để làm việc nhóm có hiệu quả: - Sự hợp tác: là “keo dán” để liên kết các thành viên lại và đó cũng là nguyên nhân để nhóm tồn tại. - Quy tắc nhóm: “Sự căng thẳng, giận dữ và cuối cùng là mâu thuẫn, xung đột rất dễ diễn ra nếu không có quy tắc nhóm”. - Sự căng thẳng: “xuất hiện khi những nhu cầu cá nhân không được thỏa mãn. Mặt khác, làm việc nhóm sẽ là nơi chúng ta có trách nhiệm chia sẻ, an ủi những người khác và giảm sự căng thẳng điều này sẽ giúp thúc đẩy giải quyết vấn đề.
Có 2 cách để kiểm soát dc cảm xúc một là hiểu được mỗi người có trạng thái khác nhau, hai là cảm xúc phải rõ ràng”. - Mâu thuẫn: “Nếu mâu thuẫn không được giải quyết nó sẽ theo suốt cuộc thảo luận và cản trở việc hoàn thành mục tiêu của nhóm”.Erbert “đưa ra một vài yêu cầu để giải quyết mâu thuẫn: giáo dục cách giải quyết mâu thuẫn, kiểm soát tâm trạng, thúc đẩy sự giao tiếp, tôn trọng sự khác biệt. “Giải quyết mâu thuẫn như là nhiệm vụ của quá trình làm việc nhóm” [76], [65]. Vấn đề nảy sinh khi làm việc nhóm là “phải cùng nhau thống nhất ý tưởng để xây dựng kế hoạch và phải phân công được với nhau” [18, tr.
Ngoài ra, Judee K. Burgoon đã đưa ra hai kiểu giao tiếp trong khi làm việc nhóm: sử dụng lời nói và sử dụng ký hiệu (cử chỉ, điệu bộ, nét mặt…) và ông khẳng định khi làm việc nhóm người ta sử dụng ký hiệu nhiều hơn là lời nói. Trong giao tiếp giữa các thành viên trong nhóm, tác giả chú trọng đến "sự luân phiên, lần lượt giữa người nói và người nghe, điều này làm giảm đi sự căng thẳng trong nhóm. Khi giao tiếp, Judee K.
Burgoon đã làm rõ “không gian giao tiếp, sự thoải mái, thông tin, vị thế, sự tương tác lẫn nhau, mối liên hệ giữa các cá nhân” [65, tr. Tiberius - tác giả của cuốn sách Small group teaching- A trouble- shooting guide đã đi sâu phân tích sự tương tác trong nhóm và động cơ, tình cảm trong nhóm. Theo đó, tác giả đưa ra “những lời khuyên cho giáo viên nhằm giải TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 12 quyết những vấn đề hay gặp phải khi tổ chức làm việc nhóm” [75] Nguyễn Thị Oanh cũng đưa ra một số ưu điểm và nhược điểm của giải quyết mâu thuẫn. * Ưu điểm: + Làm việc nhóm đưa lại nhiều thông tin đa dạng.
+ Nhiều thành viên với nhiều kinh nghiệm khác nhau sẽ đem lại nhiều giải pháp khác nhau.