Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu Chương 2. Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài tại Toà án Việt Nam Chương 3. Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài Chương 4.
Pháp luật áp dụng đối với việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài tại Toà án Việt Nam 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Việc GQTC KDTM có YTNN bằng TA là vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của TPQT. Khi nghiên cứu về vấn đề này, có thể thấy các công trình nghiên cứu ở VN và ở nước ngoài thường bắt đầu bằng việc nghiên cứu những vấn đề thuộc nội dung của TPQT nói chung và những vấn đề về GQTC KDTM có YTNN nói riêng. Tiếp theo là những công trình nghiên cứu cụ thể và chuyên sâu phân tích những vấn đề liên quan đến việc GQTC KDTM có YTNN tại TA, như: Những nghiên cứu về tranh chấp KDTM, về tranh chấp KDTM có YTNN, về XĐPL, về các quy định của pháp luật về thẩm quyền của TA đối với tranh chấp KDTM có YTNN phát sinh từ HĐ, thẩm quyền của TA đối với tranh chấp KDTM có YTNN phát sinh ngoài HĐ, về luật áp dụng để giải quyết loại hình tranh chấp này… Vì vậy, để có cái nhìn tổng quan về tình hình nghiên cứu của những vấn đề thuộc đề tài của Luận án, Phần 1.
này sẽ tổng hợp tình hình nghiên cứu ở VN và ở nước ngoài theo 3 nhóm vấn đề. Đó là những nghiên cứu chung về TPQT và GQTC KDTM có YTNN; những nghiên cứu cụ thể về thẩm quyền của TA đối với tranh chấp KDTM có YTNN phát sinh từ HĐ và ngoài HĐ; và vấn đề về luật áp dụng để giải quyết loại hình tranh chấp này. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Trong bối cảnh tự do hóa TM và hội nhập quốc tế hiện nay, hoạt động KDTM có YTNN ngày càng trở nên sôi động, đa dạng và phức tạp, làm phát sinh nhiều tranh chấp và cũng là đề tài nóng bỏng của các công trình nghiên cứu. Ngoài các giáo trình của các cơ sở đào tạo luật của Trường Đại học Luật Tp.HCM, Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội và các sách chuyên khảo về TPQT, về Luật TMQT, về Luật Phá sản và Giải quyết tranh chấp TM…, ở VN cũng có nhiều tác giả công bố các công trình nghiên cứu có liên quan đến cơ chế GQTC trong TPQT nói chung và việc GQTC KDTM có YTNN nói riêng.
Tiêu biểu trong số đó có: 1. Các công trình nghiên cứu chung về TPQT và GQTC KDTM có YTNN Năm 2013, luận án tiến sĩ của tác giả Đồng Thị Kim Thoa với đề tài “Cơ chế giải quyết tranh chấp trong tư pháp quốc tế và thực tiễn Việt Nam”7 đã phân tích cụ thể về cơ chế GQTC trong TPQT. Đây là một công trình có phạm vi nghiên cứu rất rộng, bao gồm tất cả các tranh chấp trong lĩnh vực “dân sự” có YTNN với mục tiêu luận giải các vấn đề lý luận về cơ chế GQTC trong TPQT như: Khái niệm, nội hàm, các bộ phận cấu 7 Luận án được bảo vệ năm 2013 tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội. 10 thành và mối liên hệ giữa các bộ phận đó trong cơ chế GQTC trong TPQT và đề xuất giải pháp về việc xây dựng một cơ chế GQTC trong TPQT VN nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, vấn đề về GQTC KDTM có YTNN bằng TA chưa được đề cập trong Luận án này. Đề tài NCKH cấp bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng luật tư pháp quốc tế” do tác giả Nguyễn Khánh Ngọc8 làm chủ nhiệm (nghiệm thu năm 2015) nghiên cứu về XĐPL và hai vấn đề của tố tụng DS có YTNN thường gặp nhất TPQT là xung đột về thẩm quyền, việc công nhận và cho thi hành phán quyết của cơ quan tài phán của nước ngoài. Trong công trình này, các tác giả đã xây dựng được cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hình thành luật TPQT tại VN trên cơ sở nghiên cứu, so sánh với các mô hình TPQT của các nước như Anh, Úc, Đức, Pháp, Bỉ, Nga, Thụy Sĩ, Trung Quốc, Nhật Bản. Tuy nhiên, vấn đề GQTC KDTM có YTNN bằng TA chưa được nghiên cứu một cách cụ thể.
Tuy vậy, các cơ sở lý luận của TPQT về xác định thẩm quyền và xác định pháp luật áp dụng từ công trình nghiên cứu này sẽ là cơ sở lý luận quan trọng được NCS sử dụng trong Luận án. Đề tài NCKH cấp bộ “Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật tư pháp quốc tế ở Việt Nam” (do tác giả Lê Thị Nam Giang làm chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2017) đã nghiên cứu tổng quát các vấn đề về lý luận và thực tiễn áp dụng của các quy định trong lĩnh vực TPQT tại VN. Trên cơ sở so sánh với TPQT của EU, Bỉ, Pháp, Thuỵ Sĩ, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan và Singapore nhiều kiến nghị về hoàn thiện pháp luật VN trong lĩnh vực TPQT đã được các tác giả đưa ra khá chi tiết, phù hợp yêu cầu thực tiễn của quá trình GQTC tại VN, đáp ứng xu hướng hài hoà hoá pháp luật giữa các nước. Do công trình được nghiên cứu trong khoảng thời gian đang lấy ý kiến về dự thảo BLDS 2015 và BLTTDS 2015 cho nên khi hai bộ luật này được thông qua thì một số giải pháp đã không còn mang tính thời sự.
Ngoài ra, công trình này cũng không dành thời lượng đáng kể cho việc GQTC KDTM có YTNN bằng TA tại VN. Tuy nhiên, những vấn đề lý luận chung của TPQT, một số kiến nghị, giải pháp từ công trình này cũng mang tính gợi mở cho NCS trong việc xây dựng hệ thống các kiến nghị và giải pháp cụ thể trong Luận án liên quan đến vấn đề hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về GQTC KDTM có YTNN tại TA VN. Đề tài NCKH cấp trường của Trường Đại học Luật Tp.HCM có tên gọi“Bảo vệ quyền con người trong tư pháp quốc tế Hoa Kỳ và tư pháp quốc tế Việt Nam” của tác giả Lê Thị Nam Giang và Ngô Kim Hoàng Nguyên (nghiệm thu năm 2014) đã nghiên cứu có so sánh các quy định của pháp luật Hoa Kỳ và VN theo hai nội dung chính là căn cứ xác định thẩm quyền và giải quyết XĐPL theo hướng bảo vệ quyền con người trong các QHDS có YTNN. Một số giải pháp liên quan đến quyền lựa chọn TA hay 8 Hiện đang là Thứ trưởng Bộ Tư pháp của Việt Nam.
11 việc xây dựng Bộ luật TPQT VN đã được nêu ra nhưng chưa phân tích về GQTC KDTM có YTNN bằng TA ở Hoa Kỳ và ở VN. Do đó, những nội dung còn bỏ ngỏ này sẽ được NCS nghiên cứu và giải quyết chi tiết hơn trong Luận án. Cuốn sách có tên gọi“Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Trung Tín (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội năm 2009) phân tích một số vấn đề lý luận về GQTC KDTM có YTNN bằng thương lượng, hòa giải, trọng tài, TA và một số kinh nghiệm GQTC KDTM có YTNN ở một số quốc gia bằng trọng tài trong giai đoạn này. Tuy nhiên, công trình này chưa phân tích các vấn đề về thực tiễn GQTC KDTM có YTNN bằng TA ở VN, đặc biệt là chưa phân tích vấn đề về thẩm quyền của TA cũng như quyền lựa chọn pháp luật áp dụng đối với tranh chấp KDTM ngoài HĐ.
Ngoài ra, do công trình nghiên cứu đề cập nhiều đến pháp luật nội dung điều chỉnh trực tiếp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hợp đồng thuê tàu và hợp đồng Li-xăng, do đó, những nội dung mà NCS có thể tham khảo và phát triển vấn đề nghiên cứu chủ yếu liên quan đến ván đề xác định luật áp dụng cho hoạt động GQTC. Sách chuyên khảo “Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại quốc tế” của tác giả Nguyễn Ngọc Lâm (NXB Chính trị Quốc gia năm 2010) nghiên cứu những khía cạnh pháp lý liên quan đến nội dung HĐ KDTM quốc tế, những nguy cơ tranh chấp tiềm ẩn trong một HĐ KDTM quốc tế qua từng điều khoản cụ thể như: Chủ thể HĐ; đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết HĐ; các điều khoản về số lượng, chất lượng, giá cả, hình thức thanh toán, thời gian và địa điểm giao hàng; luật áp dụng đối với HĐ… Đồng thời, đưa ra các biện pháp nhằm phòng ngừa và GQTC đã xảy ra. Tuy nhiên, công trình này không phân tích những vấn đề liên quan đến GQTC KDTM có YTNN bằng TA tại VN. Tuy vậy, một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM quốc tế của tác giả này sẽ được NCS sử dụng và phân tích trong tương quan so sánh với một số quan điểm khác về vấn đề này trong Luận án.
Luận án tiến sĩ với đề tài “Giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam” của tác giả Trần Thị Thuý (bảo vệ năm 2015 tại Học viện Khoa học Xã hội) đề cập đến một số vấn đề lý luận và thực tiễn của các phương thức GQTC TM có YTNN, bao gồm tất cả các phương thức GQTC bằng TA, bằng trọng tài, các phương thức thương lượng, trung gian và hoà giải. Luận án này cũng có sự nghiên cứu so sánh với một số nước ở một số vấn đề liên quan nhưng vì phạm vi nghiên cứu quá rộng nên những vấn đề về GQTC KDTM có YTNN bằng TA tại VN chỉ chiếm hàm lượng khiêm tốn. Tuy nhiên, một số nội dung liên quan đến hoạt động GQTC KDTM có YTNN tại TA VN từ công trình này, cụ thể là vấn đề xác định thẩm quyền của TA VN và pháp luật áp dụng sẽ gợi mở cho NCS nhằm nghiên cứu và phân tích chuyên sâu hơn về các nội dung này trong Luận án.