Toàn văn Luận án TS: Trí tuệ cảm xúc của Điều tra viên An ninh Điều tra

Luận án tiến sĩ nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của điều tra viên tại cục an ninh điều tra thuộc bộ công an, góp phần nâng cao hiệu quả công tác điều tra.

Trường đại học

Không có thông tin

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2017-2021

195
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra

Trí tuệ cảm xúc (EQ) là một khái niệm quan trọng trong tâm lý học, đặc biệt trong lĩnh vực điều tra hình sự. Nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an không chỉ giúp hiểu rõ hơn về vai trò của EQ trong công việc điều tra mà còn mở ra hướng đi mới cho việc phát triển năng lực này. Điều tra viên là những người trực tiếp tiếp xúc với đối tượng phạm tội, do đó, khả năng kiểm soát cảm xúc và thấu hiểu cảm xúc của người khác là rất cần thiết.

1.1. Khái niệm và vai trò của trí tuệ cảm xúc trong điều tra

Trí tuệ cảm xúc được định nghĩa là khả năng nhận biết, hiểu và quản lý cảm xúc của bản thân và người khác. Trong công việc điều tra, trí tuệ cảm xúc giúp điều tra viên xử lý tình huống căng thẳng, tạo dựng mối quan hệ tốt với nhân chứng và đối tượng điều tra.

1.2. Tình hình nghiên cứu trí tuệ cảm xúc ở Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, nhưng chưa có nhiều công trình tập trung vào điều tra viên. Điều này tạo ra một khoảng trống cần được lấp đầy để nâng cao hiệu quả công tác điều tra.

II. Vấn đề và thách thức trong việc phát triển trí tuệ cảm xúc của điều tra viên

Mặc dù trí tuệ cảm xúc có vai trò quan trọng, nhưng nhiều điều tra viên vẫn gặp khó khăn trong việc phát triển năng lực này. Các vấn đề như áp lực công việc, thiếu đào tạo và nhận thức chưa đầy đủ về EQ là những thách thức lớn.

2.1. Áp lực công việc và ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc

Điều tra viên thường phải làm việc trong môi trường áp lực cao, điều này có thể dẫn đến việc kiểm soát cảm xúc kém. Nghiên cứu cho thấy, áp lực công việc có thể làm giảm khả năng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên.

2.2. Thiếu đào tạo về trí tuệ cảm xúc

Nhiều điều tra viên chưa được đào tạo bài bản về trí tuệ cảm xúc, dẫn đến việc họ không nhận thức được tầm quan trọng của EQ trong công việc. Việc thiếu kiến thức và kỹ năng cần thiết có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả điều tra.

III. Phương pháp nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của điều tra viên

Để nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của điều tra viên, cần áp dụng các phương pháp khoa học phù hợp. Các phương pháp này bao gồm khảo sát, phỏng vấn và phân tích số liệu để đánh giá thực trạng EQ của điều tra viên.

3.1. Khảo sát và phỏng vấn điều tra viên

Khảo sát và phỏng vấn là hai phương pháp chính để thu thập dữ liệu về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Qua đó, có thể đánh giá được mức độ EQ và các yếu tố ảnh hưởng đến nó.

3.2. Phân tích số liệu và kết quả nghiên cứu

Sử dụng phần mềm thống kê để phân tích số liệu thu thập được từ khảo sát, giúp xác định mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên.

IV. Ứng dụng trí tuệ cảm xúc trong công tác điều tra

Việc ứng dụng trí tuệ cảm xúc trong công tác điều tra có thể nâng cao hiệu quả làm việc của điều tra viên. Các kỹ năng như giao tiếp, thuyết phục và quản lý cảm xúc sẽ giúp điều tra viên đạt được kết quả tốt hơn trong công việc.

4.1. Kỹ năng giao tiếp và thuyết phục

Kỹ năng giao tiếp tốt giúp điều tra viên tạo dựng mối quan hệ tin cậy với nhân chứng và đối tượng điều tra. Trí tuệ cảm xúc đóng vai trò quan trọng trong việc thuyết phục và lắng nghe ý kiến của người khác.

4.2. Quản lý cảm xúc trong tình huống căng thẳng

Điều tra viên cần biết cách quản lý cảm xúc của bản thân trong các tình huống căng thẳng. Việc này không chỉ giúp họ duy trì sự bình tĩnh mà còn tạo ra bầu không khí tích cực cho cuộc điều tra.

V. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra có sự khác biệt rõ rệt giữa các cá nhân. Việc áp dụng các biện pháp phát triển EQ có thể nâng cao hiệu quả công tác điều tra.

5.1. Thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên

Nghiên cứu chỉ ra rằng, nhiều điều tra viên có trí tuệ cảm xúc ở mức cao nhưng không đồng đều. Cần có các biện pháp cụ thể để phát triển EQ cho từng cá nhân.

5.2. Đề xuất biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc

Đề xuất các biện pháp như tổ chức các khóa đào tạo về trí tuệ cảm xúc, tạo điều kiện cho điều tra viên thực hành và áp dụng EQ trong công việc hàng ngày.

VI. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra là một lĩnh vực mới mẻ và cần thiết. Việc phát triển EQ không chỉ giúp nâng cao hiệu quả công tác điều tra mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của lực lượng công an.

6.1. Tầm quan trọng của trí tuệ cảm xúc trong tương lai

Trong bối cảnh xã hội ngày càng phức tạp, trí tuệ cảm xúc sẽ trở thành yếu tố quyết định trong việc nâng cao hiệu quả công tác điều tra và xây dựng hình ảnh đẹp cho lực lượng công an.

6.2. Định hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về trí tuệ cảm xúc trong các lĩnh vực khác của lực lượng công an, từ đó xây dựng các chương trình đào tạo phù hợp nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ.

24/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến trí tuệ cảm xúc 1. Hướng nghiên cứu về cấu trúc, biểu hiện của trí tuệ cảm xúc C.Izard (1992), Những cảm xúc của con người [37] đưa ra thuyết các cảm xúc phân hoá và cho rằng cảm xúc có cấu trúc tầng bậc, gồm những cảm xúc nền tảng và những cảm xúc phức hợp. Mỗi cảm xúc trọn vẹn phải được tạo thành bởi ba yếu tố, đó là: cơ chất thần kinh chuyên biệt bị chế ước bên trong, những phức hợp biểu cảm nét mặt đặc trưng và sự thể hiện chủ quan khác biệt.

Hay nói cách khác thì cảm xúc chính là sự thống nhất giữa các biểu hiện bên ngoài và cảm xúc bên trong. Theo đó, cấp bậc thứ nhất gồm mười cảm xúc nền tảng là (1) Hứng thú, (2) Vui sướng, (3) Ngạc nhiên, (4) Đau khổ, (5) Căm giận, (6) Ghê tởm, (7) Khinh bỉ, (8) Khiếp sợ, (9) Xấu hổ, (10) Tội lỗi. Cấp bậc thứ hai là các phức hợp cảm xúc được tạo nên từ “những tổ hợp có biến thiên của các cảm xúc nền tảng và các quá trình xúc động” [37, tr. Như vậy, với quan điểm này đã cho thấy, ở cá nhân tồn tại những trạng thái xúc cảm khác nhau, những xúc cảm này được nhận biết rõ qua các phương tiện biểu cảm.

Peter Salovey & David J.Sluyter (1997), Phát triển trí tuệ và trí tuệ cảm xúc [95] công bố một tài liệu về đóng góp chung của cảm xúc và tính đa cảm (emotion & emotionality) vào nhân cách và đưa ra cấu trúc của trí tuệ cảm xúc bao gồm: (a) Nhận thức và đánh giá chính xác cảm xúc của bản thân, (b) Biểu lộ tình cảm, cảm xúc với những người khác một cách đúng đắn, phù hợp, (c) Nhận biết tốt về cảm xúc của người khác và từ đó có những hành vi phù hợp, (d) Điều chỉnh cảm xúc của bản thân và người khác một cách hiệu có hiệu quả để đạt đến mục đích hành động cụ thể (ví dụ: để cải thiện tâm trạng của chính mình và của người khác) và (e) Sử dụng 16 những cảm xúc của mình để giải quyết vấn đề bằng những hành vi phù hợp hoàn cảnh. Bất kỳ quá trình giao tiếp nào cũng cần phải có sự tương tác giữa chủ thể và đối tượng giao tiếp. Sự tương tác đó không chỉ dừng lại ở trong quá trình trao đổi thông tin mà nó còn là sư trao đổi về mặt tinh thần. Do đó, hiểu được cảm xúc của bản thân và của người khác, cũng như sử dụng nó hợp lý mới đạt được mục đích đề ra [95, tr.

Ông đưa ra nhận định cho rằng những họ chính của cảm xúc là: sợ hãi, giận dữ, buồn rầu, thoả mãn, xấu hổ. Mỗi họ này có một một hạt nhân cảm xúc căn bản làm trung tâm, các cảm xúc có họ hàng với nó thì nằm xung quanh như những làn sóng nối tiếp nhau của vô số những biến đổi. Ở ngoại vi có những tâm trạng (hemeurs) mà xét về mặt kỹ thuật, chúng ít sinh động hơn và kéo dài lâu hơn nhưng cảm xúc đích thực. Sau các tâm trạng đến các tính khí (tempérament), một thiên hướng gây ra một cảm xúc hay một tâm trạng nào đó, khiến người ta trở thành u buồn, nhút nhát hay vui vẻ.

Sau đó là những rối nhiễu tâm lý (troubles) thật sự, như sự trầm cảm lâm sàng hay sự lo hãi mãn tính [13, tr. Schulze Ralf, Roberts D.Richard (EDS) (2005), Trí tuệ cảm xúc [102] đã đề cập đến nghiên cứu của Carroll với việc tổng kết và kết hợp hơn 400 nghiên cứu theo phương pháp phân tích nhân tố truyền thống. Ông đưa ra một mô hình 3 tầng bậc: Tầng bậc đầu tiên bao gồm các năng lực tinh thần chủ yếu; tầng thứ hai bao gồm sự phong phú của miền rộng lớn các năng lực nhận thức; tầng thứ ba gồm các thành tố trí tuệ chung Tầm quan trọng của khái niệm do Carroll đã ảnh hưởng lớn đến sự tác động của giáo dục, chính sách xã hội trong đánh giá, và những vấn đề xã hội [Dẫn theo 102]. Quan điểm này cũng định hướng cho những lý thuyết và những nghiên cứu về sự khác biệt cá nhân trong một số yếu tố dữ liệu, về một lĩnh vực kiến thức hành vi, lĩnh vực 17 này tương đối độc lập với cấu trúc tầng thứ hai.

Ông cũng gợi ý rằng lĩnh vực này đòi hỏi những nghiên cứu cẩn thận và hệ thống hơn là cách thức tiến hành cho đến thời điểm của ông. Ciarrochi Joseph, Forgas P. Bar-On xem xét những đặc điểm nhân cách được cho là quyết định sự thành công trong cuộc sống nằm ngoài trí tuệ nhận thức và xác định được 5 khía cạnh rộng lớn. Ông coi những khía cạnh này như những nhân tố chủ chốt của trí tuệ cảm xúc, được chia thành 15 nhân tố: 1.

Kỹ năng về bản thân: Tự đánh giá bản thân; Sự quả quyết; Tự hiện thực hoá; Tính độc lập. Kỹ năng tương tác với những người khác: Sự thấu cảm; Có trách nhiệm xã hội; Mối quan hệ tương tác với những người khác. Khả năng thích nghi: Giải quyết vấn đề; Kiểm tra thực; Tính linh hoạt. Kiểm soát stress: Chịu được stress; Kiểm soát kích động.

Tâm trạng ổn định: Hạnh phúc; Lạc quan. Bar - On giới thiệu khái niệm EI đã chỉnh sửa và gọi là mô hình trí tuệ cảm xúc - xã hội, bao gồm 10 nhân tố lấy từ cấu trúc 15 nhân tố ban đầu là “Tự đánh giá bản thân; Tự nhận biết cảm xúc bản thân; Sự quả quyết; Sự thấu cảm; Mối quan hệ tương tác với những người khác; Chịu được Stress; Kiểm soát kích động; Kiểm tra thực tế; Tính linh hoạt và Giải quyết vấn đề. Năm nhân tố còn lại của mô hình ban đầu được coi là những nhân tố tạo điều kiện hơn là những nhân tố tạo thành trí tuệ xã hội - cảm xúc gồm: Tự hiện thực hoá, Tính độc lập, Có trách nhiệm xã hội, Hạnh phúc và Lạc quan” [94, tr. Petrides và Furnham đưa ra một cấu trúc EI gồm bốn nhân tố (1) Hạnh phúc, (2) Tự kiểm soát, (3) Tính nhạy cảm, (4) Tự hoà đồng với 15 biểu hiện.

Với góc độ tiếp cận này, EI được đặt trong hệ thống nhân cách và được các tác giả đánh giá là “hợp nhất được các kết quả nghiên cứu lẻ 18 tẻ trước đây vào một khung lý thuyết toàn diện, được đặt tên là “EI đặc điểm” hay còn gọi là “Tự hiệu quả về cảm xúc, trong nỗ lực nhằm nhấn mạnh cách tiếp cận hướng đến đặc điểm nhân cách hơn là các năng lực nhận thức” [Dẫn theo 94, tr. Luận án tiến sĩ Tâm lý học do Nguyễn Thị Dung thực hiện (2008), Trí tuệ cảm xúc của giáo viên chủ nhiệm lớp trường trung học cơ sở và con đường nâng cao trí tuệ này [6] cũng đã phân tích về trí tuệ cảm xúc, cấu trúc trí tuệ cảm xúc của một nhóm khách thể ở một nghề nghiệp cụ thể. Theo đó, trí tuệ cảm xúc gồm: khả năng nhận ra cảm xúc thật sự của bản thân, của người khác; khả năng biết hoà mình vào cảm xúc của những người cùng tham gia với mình trong giáo dục học sinh, không để cảm xúc trở thành tiêu cực; khả năng điều khiển, điều chỉnh cảm xúc theo hướng tích cực. Nhận ra cảm xúc của bản thân và người khác có nghĩa là cá nhân biết mình hay người khác đang có cảm xúc gì; vì sao lại xuất hiện cảm xúc đó và khi bản thân cá nhân đó có cảm xúc như vậy thì sẽ như thế nào? Cần phải làm gì để có thể loại bỏ những cảm xúc mang tính chất tiêu cực [6].

Luận án tiến sĩ Tâm lý học do Dương Thị Hoàng Yến thực hiện (2010), Trí tuệ cảm xúc của giáo viên tiểu học [92] cho rằng trí tuệ cảm xúc bao gồm 4 thành tố: (1) Năng lực nhận thức, đánh giá và biểu hiện cảm xúc: năng lực hiểu được cảm xúc của bản thân; năng lực hiểu và đồng cảm với những khó khăn tâm lý; (2) Năng lực sử dụng cảm xúc để tạo điều kiện thúc đẩy tư duy: năng lực tạo môi trường thuận lợi, năng lực sử dụng các tác động sư phạm một cách nhạy bén, năng lực xem xét sự việc một cách đa chiều, năng lực giải quyết tình huống sư phạm một cách kịp thời, (3) Năng lực sử dụng tri thức về cảm xúc: năng lực sử dụng phương tiện ngôn ngữ, phi ngôn ngữ; (4) Năng lực nhận biết sự chuyển đổi cảm xúc; năng lực sử dụng tri thức để thấu hiểu được cảm xúc phức hợp [92, tr. 19 Julia Wood, Ann Schweitzer (2016), Cuộc gặp gỡ hàng ngày - Giới thiệu về giao tiếp giữa các cá nhân [113] trong nghiên cứu của mình đã dẫn ra tuyên bố của Theodore Kemper khi cho rằng chỉ có bốn cảm xúc được di truyền qua con đường sinh học là: sợ hãi, giận dữ, buồn rầu, thoả mãn. Ông tin rằng cá nhân nào cũng đều trải qua bốn cảm xúc này bởi con người bị chi phối về mặt sinh học để thực hiện điều đó. Đây cũng chính là bốn cảm xúc giữ vai trò nền tảng của trí tuệ cảm xúc của cá nhân [113, tr.

Có rất nhiều công trình nghiên cứu về cấu trúc và biểu hiện trí tuệ cảm xúc. Mỗi một công trình lại chỉ ra một khía cạnh khác nhau của vấn đề này, nhưng chưa có công trình nào đề cập đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Tuy nhiên đây là những cơ sở để chúng tôi xác định cấu trúc cũng như biểu hiện của trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Theo đó, chúng tôi đồng thuận theo mô hình của tác giả Peter Salovey & David J.Sluyter (1997), Trí tuệ cảm xúc trong cuộc sống hàng ngày [95] cho rằng trí tuệ cảm xúc bao gồm: (a) Nhận thức và đánh giá chính xác cảm xúc của bản thân, (b) Biểu lộ tình cảm, cảm xúc với những người khác một cách đúng đắn, phù hợp, (c) Nhận biết tốt về cảm xúc của người khác và từ đó có những hành vi phù hợp, (d) Điều chỉnh cảm xúc của bản thân và người khác một cách hiệu có hiệu quả để đạt đến mục đích hành động cụ thể (ví dụ: để cải thiện tâm trạng của chính mình và của người khác) và (e) Sử dụng những cảm xúc của mình để giải quyết vấn đề bằng những hành vi phù hợp hoàn cảnh [95, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ