Luận án tiến sĩ: Hành vi đi lễ chùa của sinh viên trên địa bàn Hà Nội

Luận án tiến sĩ phân tích hành vi đi lễ chùa của sinh viên tại Hà Nội, khám phá các yếu tố văn hóa và tâm linh ảnh hưởng đến sinh viên.

Chuyên ngành

Tâm Lý Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2021

251
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI ĐI LỄ CHÙA CỦA SINH VIÊN

0.1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

0.1.2. Nghiên cứu về hành vi

0.1.3. Nghiên cứu về hành vi tôn giáo

0.1.4. Hành vi và hành vi đi lễ chùa

0.1.5. Hành vi đi lễ chùa

0.1.6. Hành vi đi lễ chùa của sinh viên

0.1.7. Khái niệm sinh viên

0.1.8. Khái niệm về hành vi đi lễ chùa của sinh viên

0.1.9. Biểu hiện của hành vi đi lễ chùa của sinh viên

0.1.10. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đi lễ chùa của sinh viên

0.1.10.1. Định hướng giá trị
0.1.10.2. Cảm xúc với Phật giáo
0.1.10.3. Các cơ chế tâm lý xã hội
0.1.10.4. Truyền thống văn hóa dân tộc
0.1.10.5. Điều kiện kinh tế
0.1.10.6. Đặc điểm của ngôi chùa

0.1.11. Tiểu kết chương 1

1. TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. Tổ chức nghiên cứu

1.2. Địa bàn nghiên cứu

1.3. Đặc điểm chùa trên địa bàn Hà Nội

1.4. Khách thể nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu

1.5.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

1.5.3. Phương pháp phỏng vấn sâu

1.5.4. Phương pháp quan sát

1.5.5. Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình

1.5.6. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

1.5.7. Phương pháp chuyên gia

1.5.8. Tiêu chí đánh giá thang đo

1.6. Tiểu kết chương 2

2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ HÀNH VI ĐI LỄ CHÙA CỦA SINH VIÊN TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

2.1. Thực trạng hành vi đi lễ chùa của sinh viên trên địa bàn Hà Nội

2.1.1. Khái quát chung về mức độ đi lễ chùa của sinh viên

2.1.2. Khái quát chung về biểu hiện hành vi đi lễ chùa của sinh viên

2.1.3. Các biểu hiện cụ thể của hành vi đi lễ chùa của sinh viên

2.1.4. So sánh hành vi đi lễ chùa của sinh viên theo các biến số

2.2. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đi lễ chùa của sinh viên

2.2.1. Đánh giá chung về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đi lễ chùa của sinh viên

2.2.2. Đánh giá từng yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đi lễ chùa của sinh viên

2.2.3. Tương quan giữa các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đi lễ chùa của sinh viên

2.3. Kết quả nghiên cứu các trường hợp điển hình

2.3.1. Người có mức độ đi lễ chùa thường xuyên

2.3.2. Người có mức độ đi lễ chùa thỉnh thoảng

2.3.3. Người đi lễ chùa ở mức độ hiếm khi

2.4. Giải pháp định hướng hành vi cho sinh viên

2.5. Tiểu kết chương 3

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hành vi đi lễ chùa của sinh viên Hà Nội

Hành vi đi lễ chùa của sinh viên trên địa bàn Hà Nội đã trở thành một hiện tượng văn hóa tâm linh phổ biến. Nghiên cứu này nhằm làm rõ các khía cạnh của hành vi này, từ động cơ đến biểu hiện cụ thể. Hành vi đi lễ chùa không chỉ phản ánh tín ngưỡng mà còn thể hiện các giá trị văn hóa, tâm lý và xã hội của sinh viên. Việc tìm hiểu hành vi này giúp nhận diện các yếu tố ảnh hưởng và định hướng hành vi tích cực cho sinh viên.

1.1. Khái niệm hành vi đi lễ chùa của sinh viên

Hành vi đi lễ chùa của sinh viên được hiểu là những hoạt động, hành động mà sinh viên thực hiện khi tham gia vào các nghi lễ tại chùa. Điều này bao gồm việc cầu nguyện, dâng hương, và tham gia vào các hoạt động tâm linh khác. Hành vi này không chỉ mang tính chất tôn giáo mà còn thể hiện sự kết nối với văn hóa dân tộc.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu hành vi đi lễ chùa

Nghiên cứu hành vi đi lễ chùa của sinh viên có ý nghĩa quan trọng trong việc hiểu rõ hơn về tâm lý và thói quen của thế hệ trẻ. Điều này giúp các nhà giáo dục và quản lý có thể đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm định hướng hành vi tích cực, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống.

II. Vấn đề và thách thức trong hành vi đi lễ chùa của sinh viên

Mặc dù hành vi đi lễ chùa mang nhiều ý nghĩa tích cực, nhưng cũng tồn tại nhiều vấn đề và thách thức. Một số sinh viên có thể đi lễ chùa với động cơ không trong sáng, dẫn đến những hành vi phản cảm. Việc thiếu hiểu biết về văn hóa và tôn giáo có thể làm giảm giá trị của các nghi lễ này.

2.1. Các biểu hiện tiêu cực trong hành vi đi lễ chùa

Một số sinh viên có thể tham gia lễ chùa chỉ để thể hiện bản thân hoặc theo trào lưu, không xuất phát từ lòng thành kính. Điều này dẫn đến những hành vi như ăn mặc không phù hợp, giao tiếp thiếu chuẩn mực, gây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của lễ hội.

2.2. Tác động của xã hội đến hành vi đi lễ chùa

Sự tác động của xã hội, đặc biệt là từ bạn bè và mạng xã hội, có thể làm thay đổi động cơ và hành vi đi lễ chùa của sinh viên. Nhiều sinh viên có thể cảm thấy áp lực phải tham gia để không bị lạc lõng trong nhóm, dẫn đến những hành vi không đúng mực.

III. Phương pháp nghiên cứu hành vi đi lễ chùa của sinh viên

Để nghiên cứu hành vi đi lễ chùa của sinh viên, nhiều phương pháp đã được áp dụng. Các phương pháp này giúp thu thập dữ liệu chính xác và đáng tin cậy về hành vi và động cơ của sinh viên khi tham gia lễ chùa.

3.1. Phương pháp khảo sát và phỏng vấn

Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi được sử dụng để thu thập ý kiến của sinh viên về hành vi đi lễ chùa. Bên cạnh đó, phỏng vấn sâu cũng được thực hiện để hiểu rõ hơn về động cơ và cảm xúc của sinh viên khi tham gia lễ chùa.

3.2. Phương pháp quan sát thực địa

Phương pháp quan sát thực địa giúp ghi nhận các hành vi cụ thể của sinh viên tại các ngôi chùa. Qua đó, có thể đánh giá được mức độ tham gia và các biểu hiện hành vi của sinh viên trong môi trường thực tế.

IV. Kết quả nghiên cứu thực tiễn về hành vi đi lễ chùa

Kết quả nghiên cứu cho thấy hành vi đi lễ chùa của sinh viên có sự đa dạng về động cơ và biểu hiện. Nhiều sinh viên tham gia lễ chùa với mong muốn tìm kiếm sự bình an, trong khi một số khác lại có động cơ xã hội hoặc tâm lý.

4.1. Mức độ tham gia lễ chùa của sinh viên

Nghiên cứu cho thấy có khoảng 60% sinh viên tham gia lễ chùa ít nhất một lần trong năm. Mức độ tham gia này có sự khác biệt giữa các nhóm sinh viên khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như gia đình, bạn bè và môi trường học tập.

4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đi lễ chùa

Các yếu tố như định hướng giá trị, cảm xúc với Phật giáo, và truyền thống văn hóa dân tộc có ảnh hưởng lớn đến hành vi đi lễ chùa của sinh viên. Những yếu tố này không chỉ thúc đẩy hành vi mà còn định hình cách thức tham gia của sinh viên.

V. Giải pháp định hướng hành vi đi lễ chùa cho sinh viên

Để cải thiện hành vi đi lễ chùa của sinh viên, cần có các giải pháp định hướng rõ ràng. Các giải pháp này không chỉ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về giá trị của lễ chùa mà còn khuyến khích họ tham gia một cách tích cực và có ý thức.

5.1. Giáo dục về văn hóa và tôn giáo

Cần đưa giáo dục về văn hóa và tôn giáo vào chương trình học tại các trường đại học. Điều này giúp sinh viên có cái nhìn sâu sắc hơn về ý nghĩa của lễ chùa và các giá trị văn hóa liên quan.

5.2. Tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực tế

Tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực tế tại các ngôi chùa sẽ giúp sinh viên có cơ hội tìm hiểu và tham gia vào các nghi lễ một cách chân thành và ý thức hơn. Những hoạt động này cũng giúp nâng cao nhận thức về văn hóa tâm linh.

VI. Kết luận và triển vọng nghiên cứu hành vi đi lễ chùa

Nghiên cứu hành vi đi lễ chùa của sinh viên trên địa bàn Hà Nội đã chỉ ra nhiều khía cạnh quan trọng. Kết quả nghiên cứu không chỉ giúp hiểu rõ hơn về hành vi này mà còn mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực tâm lý học và văn hóa.

6.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy hành vi đi lễ chùa của sinh viên có sự đa dạng về động cơ và biểu hiện. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi này cần được xem xét kỹ lưỡng để có những giải pháp phù hợp.

6.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về hành vi đi lễ chùa của sinh viên, đặc biệt là trong bối cảnh xã hội hiện đại. Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc phát triển các chương trình giáo dục và hoạt động trải nghiệm nhằm nâng cao nhận thức và hành vi tích cực của sinh viên.

24/07/2025
Luận án tiến sĩ file word hành vi đi lễ chùa của sinh viên trên địa bàn hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI ĐI LỄ CHÙA CỦA SINH VIÊN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Với các cách tiếp cận khác nhau, các trường phái, các nhà Tâm lý học khác nhau đã có những quan điểm khác nhau khi nghiên cứu về hành vi. Nghiên cứu về hành vi 1. Tiếp cận lý thuyết học tập Lý thuyết học tập nghiên cứu về hành vi có nền tảng từ lý thuyết điều kiện hóa cổ điển trong nghiên cứu của nhà Tâm lý học, nhà Sinh lý học.

Lý thuyết này cho rằng tất cả các dạng thức học tập đều là kết quả của những liên tưởng hình thành từ quá trình điều kiện hóa, củng cố và trừng phạt. Lý thuyết học tập là hình thức điều hòa cổ điển, trong đó thái độ đối với kích thích được coi là sản phẩm của các quá trình suy nghĩ và hành vi của con người. Nhà Tâm lý học Saavedra and Silveman (2002) trong bài nghiên cứu Disgust and a specific phobia of buttons (sợ hãi và sự ám ảnh cụ thể về nút), về nối ám ảnh, tác giả rút ra kết luận cảm xúc và nhận thức liên quan đến sự sợ hãi, ghê tởm rất quan trong trong việc hình thành các phản ứng liên quan đến các nỗi ám sợ và phơi nhiễm tưởng tượng (imagery exposure) có tác dụng hiệu quả trong việc giảm sự căng thẳng liên quan đến nối ám sợ nhất định. Với cách tiếp cận này, tác giả tin rằng các hành vi bất thường như ám ảnh cũng có thể được học và không được học theo cùng một cách như bất kỳ hành vi nào [142, tr.1376-1379] Việc bắt chước hành vi được thể hiện rõ nhất trong các nghiên cứu được thực hiện bởi nhà Tâm lý học Bandura và cộng sự (1963) Transmission of aggression through imitation of aggressive models (truyền sự hung hăng thông qua việc bắt chước hành vi hung hăng).

Tác giả cho rằng, trẻ em quan sát hình mẫu những hành 9 vi gây hấn sẽ thực hiện các phản ứng nhiều hơn so với nhóm kiểm soát. Bé gái có hình mẫu gây hấn cung cho thấy nhiều phản ứng gây hấn vật lý nếu hình mẫu gây hấn là nam nhưng sẽ nhiều phản ứng gân hấn bằng lời nói hơn nếu như các hình mẫu là nữ. Bé trai có nhiều khả năng bắt chước cùng giới hơn bé gái. Bé trai bắt chước các hành vi gây hấn vật lý hơn bé gái và sự khác nhau trong việc gây hấn bằng lời nói giữa bé trai và bé gái là không nhiều [107, tr.

Dựa trên ý tưởng, động vật cũng có khả năng giao tiếp và bộc lộ hành vi, nhà Tâm lý học Pepperberg (1987) Acquisition of the same/different concept by an African Grey parrot (Psittacus erithacus): learning with respect to categories of color, shape, and materia (Vẹt xám Châu Phi: tiếp thu khái niệm giống/khác nhau: học về các loại màu sắc, hình dạng và chất liệu), nghiên cứu học vẹt trên đối tượng là con Vẹt xám Alex Châu phi, đã chứng minh một số loài vật không phải là người cũng có khả năng nhận thức để hiểu một cách khái quát một số vấn đề. Con Vẹt có khả năng thể hiện rằng chúng hiểu khái niệm “giống” “khác, màu sắc, hình khối và chúng có thể học được cách trả lời các câu hỏi và có thể dùng giọng nói của chúng để phân biệt một số đồ vật. Điều này cho thầy, các tình huống quen thuộc có thể ảnh hưởng nhiều đến hành vi [137, tr.423-432] Các nghiên cứu trên cho thấy, sự sợ hãi có liên quan đến nhận thức và được biểu hiện qua hành động, tiếp xúc là liệu pháp cho sự giảm các cảm xúc căng thẳng. Hành vi của con người có thể được bắt chước, giữa nam và nữ khả năng bắt chước và mức độ biểu hiện có sự khác nhau.

Những tình huống quen thuộc có thể làm ảnh hưởng đến mức độ biểu hiện của hành vi. Tiếp cận lý thuyết học tập trong nghiên cứu “Hành vi đi lễ chùa của TNSV”, gợi ý cách kiểm soát các hành vi của thanh niên tr0ng quá trình đi lễ chùa bằng việc khuyến khích hành vi phù hợp, làm mẫu, hoặc đưa ra các quy định để điều chỉnh các hành vi. Tiếp cận lý thuyết nhận thức Nhận thức quá trình tác động mạnh, quyết định đến hành vi của con người. 10 Nhận thức có vai trò quan trọng đặc biệt trong việc điều chỉnh các chức năng tâm lí làm thay đổi (tăng hay giảm) một hành vi nào đó.

Quá trình nhận thức đóng vai trò là nhân tố cốt lõi cho việc thúc đẩy hành vi của con người Phản ứng đối với kích thích là những phản ứng tự kích hoạt. Lý thuyết nhận thức được nghiên cứu bằng thực nghiệm, mô phỏng bằng máy tính và khoa học thần kinh về nhận thức. Nghiên cứu của nhà Tâm lý học Andrade (doodling) What does doodling do (2010) (vẽ nghệch ngoạc làm gì), tác giả đã tìm hiểu và phát hiện khi đối diện với một nhiệm vụ nhàm chán, con người thường có xu hướng mơ mộng. Khi thực hiện hai nhiệm vụ cùng một lúc, sự chú ý bị phân phối.

Vẽ nguệch ngoạc ngăn chặn sự mất tập trung trước một nhiệm vụ nhàm chán. Vẽ nguệch ngoạc được áp dụng thực tế giúp con người kiểm soát tâm trí tăng khả năng tập trung chú ý [106, tr. Điều này giúp chúng tôi khi nghiên cứu đưa ra các giải pháp điều chỉnh hành vi bằng phương pháp tìm một hành vi thay thế. Tác giả Baron-Cohen cùng cộng sự (2001), với nghiên cứu Eyes test The "Reading the Mind in the Eyes" Test revised version: a study with normal adults, and adults with Asperger syndrome or high-functioning autism (bài kiểm tra "Đọc tâm trí trong mắt" phiên bản sửa đổi: một nghiên cứu với người lớn bình thường và người lớn mắc hội chứng Asperger hoặc tự kỷ chức năng cao đọc suy nghĩ thông qua đối mắt), ông xem đây là thước đo về nhận thức xã hội.

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng: “Nữ giới thấu hiểu cảm xúc tốt hơn nam giới” [108, tr.49-72] Nhà Tâm lý học Laney cùng cộng sự với nghiên cứu False memory – trí nhớ sai Asparagus, a love story: Healthier eating could be just a false memory away (Măng tây, câu chuyện về sở thích: ăn uống lành mạnh hơn có thể chỉ từ những ký ức sai lầm). Nghiên cứu được tiến hành khi cấy ghép trí nhớ giả với việc thích ăn măng tây của con người để thay đổi sở thích ăn uống và sự sẵn sàng chi trả tiền cho món măng tây của họ. Từ nghiên cứu chúng ta thấy trí nhớ sai tích cực điều này ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của con người [128, tr. 291-300] 11 Năm 2007, Davis và Loftus trong nghiên cứu của mình Internal and external sources of misinformation in adult witness memory, cho rằng, sự hồi ức của con người có thể không đáng tin cậy, nếu câu hỏi chỉ dẫn được đặt lên hàng đầu.

Tuy nhiên nếu các cuộc phỏng vấn, nhận thức mang tính diễn đạt trung lập, tính chính xác của ghi nhận hồi ức sẽ được tăng lên [116, tr. 195-237] Tiếp cận lý thuyết nhận thức cho biết, trước những việc làm nhàm chán con người sẽ mơ mộng, mất tập trung, nhưng chúng ta có thể điều khiển tâm trí bằng làm một hành động cụ thể nào đó. Con người có khả năng nhận thức về nhau qua nhìn vào mắt và nữ giới có khả năng này tốt hơn nam giới. Trí nhớ sai có thể ảnh hưởng đến hành vi của con người.

Từ những kiến thức này, có thể lý giải một phần về động cơ đi lễ chùa của thanh niên. Giải thích được về xu hướng của các hành động khi thanh niên lễ chùa. Ngoài ra giúp đưa ra kiến nghị trong việc cấy ký ức tích cực để điều chỉnh hoặc giáo dục hành vi của sinh viên khi lễ chùa. Tiếp cận lý thuyết xã hội Lý thuyết xã hội nghiên cứu về ảnh hưởng của các quá trình xã hội và nhận thức lên cách mỗi cá nhân tiếp nhận, ảnh hưởng và tương tác hay nói cách khác là bộc lộ hành vi với những người xung quanh.

Đây là cách bộc lộ nhận thức, cảm xúc, thái độ và hành động của chính chúng ta đối với thế giới. Nhà Tâm lý học Leon Festinger (1919 – 1989) trong cuốn A Theory of Cognitive Dissonance (lý thuyết về sự bất hòa nhận thức) tác giả cho rằng các tin đồn có chức năng làm giảm sự không nhất quán trong cảm giác sợ hãi của mọi người mặc dù không trực tiếp trải qua các tác động của trận động đất bằng cách cho mọi người một lý do để sợ hãi Giảm sự hỗn loạn có thể đạt được bằng cách thay đổi nhận thức bằng cách thay đổi hành động, hoặc tiếp thu có chọn lọc thông tin hoặc ý kiến mới [122, tr. 236-239] Năm 1963, Stanley Milgram, nhà Tâm lý học nổi tiếng của trường đại học Yale tại Mỹ, đã tiến hành thí nghiệm về “Sự tuân thủ” Behavioural Study of obedience 12 (nghiên cứu hành vi về sự vâng lời), nghiên cứu cho thấy bất chấp các yếu tố tác động, phần lớn con người sẽ luân tuân thủ đến cũng mệnh lệnh của người cấp trên. Milgram cho thấy rằng, ngay cả những người tưởng chừng rất bình thường đều có khẳ năng thực hiện những hành động “xấu xa” đơn giản chỉ vì họ tin mình phải tuân thủ theo mệnh lệnh của một người cấp trên.

Nghiên cứu này làm nổi bật tầm quan trọng của yếu tố hoàn cảnh trong việc ảnh hưởng của việc chúng ta tuân thỉ như thế nào đối với nhân vật có thẩm quyền. Có một số cá nhân chống lại nhân vật có thẩm quyền thì điều này nhấn mạnh cá tính có ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ [132, tr. 371-378] Piliavin và cộng sự (1969) nghiên cứu về hành vi của con người trong một khung cảnh tự nhiên ở tàu điện ngầm, bài viết Good Samaritanism: An undergroud phenomonon? ( người Samari nhân hậu: Một hiện tượng hiếm?). Nghiên cứu chỉ ra rằng, trong những tình huống cụ thể khiến những người ngoài cuộc có những hành vi tương ứng ở đây là hành vi giúp đỡ.

Trong những tình huống không thể bỏ qua, cùng giới hoặc cùng chúng tộc con người có hành vi giúp đỡ cao hơn. Hoặc người có mong muốn được người khác giúp đỡ thì có khả năng cao hơn sẽ được giúp đỡ. Năm 2012, nhà Tâm lý học Yamamoto cùng cộng sự cũng nghiên cứu về sự trợ giúp nhưng là nghiên cứu trên con tinh tinh Chimpanzees’ flexible targeted helping based on an understanding of conspecifics’ goals (Trợ giúp nhằm vào mục tiêu linh hoạt của tinh tinh dựa trên sự hiểu biết về các mục tiêu cụ thể). Kết quả cho thấy hầu hết các con tinh tinh thể hiện các mô hình hành vi tương tự trong các tình huống xã hội, chúng đưa các công cụ cho những người có nhu cầu giúp đỡ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ