Đặt vấn đề Ké từ khi Khu công nghiệp (KCN) đầu tiên ở Việt Nam là Khu chế xuất (KCX) Tân Thuận! được hình thành năm 1991, gần 3 thập kỷ qua, Việt Nam đã dần hình thành và phát triển các KCN trên địa bàn hầu hết các tỉnh trong cả nước. Tính đến tháng 8 năm 2016, đã có 318 KCN được hình thành, trong đó có 216 KCN đã di vào hoạt động [26, 44]. Cho đến nay, có đến trên 50% giá trị công nghiệp, 53% giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam được hình thành từ các KCN va sẽ còn tiếp tục tăng trong các năm tiếp theo [43]. Trong tương lai gần, số lượng KCN vẫn sẽ tiếp tục tăng nhanh theo quy hoạch phát triển đã được phê duyệt.
Hiệu quả về kinh tế - xã hội của các KCN là không thể phủ nhận. Nhưng bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm môi trường do chất thải phát sinh từ KCN, đặc biệt là nước thải KCN, cũng nhận được sự quan tâm của không chỉ cơ quan nhà nước về bảo vệ môi trường mà còn của đông đảo tầng lớp nhân dân trong xã hội [55, 42]. Pháp luật về bảo vệ môi trường của Việt Nam có quy định cụ thể đối với bảo vệ môi trường KCN như sau: (1) Nước thải KCN phải được xử lý 02 cấp. Sau khi được xử lý cục bộ tại tram xử lý của từng nhà máy, nước thải sẽ được dau nối vào mạng lưới thu gom chung của KCN và được tiếp tục xử lý tại trạm xử lý nước thải tập trung (XLNTTT) trước khi thải ra môi trường [5, 12].
Pháp luật về bảo vệ môi trường cũng yêu cầu trong nội dung báo cáo DTM phải có dự kiến/dự báo quy mô, công suất của trạm XLNTTT và quy mô, công suất này có tính pháp lý, bắt buộc chủ dự án phải thực hiện khi triển khai xây dựng KCN. Chủ đầu tư KCN sẽ bị xử phạt nếu không xây dựng đúng quy mô, công suất ' Khu chế xuất về bản chất là khu công nghiệp, chỉ khác là 100% sản phẩm được xuất khẩu. ? DTM là công cụ dự báo. Theo định nghĩa tại Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 thi DTM là “việc phân tích, dự bdo tác động dén môi trường của dự án đâu tư cụ thê dé đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường khi triên khai dự án đó ”.
trạm XLNTTT đã được phê duyệt. Như vậy, quy mô, công suất trạm XLNTTT được dự báo trong báo cáo DTM là căn cứ pháp lý dé triển khai thực tế của KCN. Kết quả dự báo lượng nước thải trong báo cáo ĐTM có ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn công suất và diện tích xây dựng của trạm XLNTTT của KCN. Nếu dự báo không chính xác sẽ dẫn đến gây hậu quả như sau: - Nếu khối lượng nước thải dự báo thấp hơn thực tế sẽ vượt quá công suất xử lý của trạm XLNTTT, không đảm bảo cho quá trình xử lý nước thải, gây ô nhiễm môi trường; - Nếu khối lượng nước thải dự báo cao hơn thực tế sẽ lãng phí trong đầu tư xây dựng, quản lý va vận hành trạm XLNT TT.
Trong trường hợp trạm xử ly nước thải có công suất quá lớn so với nước thải đầu vào thực tế, trạm xử lý cũng không thé vận hành hiệu quả vì lý do kỹ thuật. Trên thực tế, trong thời gian khoảng 05 năm trở lại đây, tình trạng KCN đã xây dựng xong hệ thong XLNTTT nhưng lại không có đủ nước thải dé vận hành ôn định diễn ra khá phổ biến. Nguyên nhân của van dé này liệu có thé được xác định là do phương pháp dự báo lượng nước thải KCN được áp dụng trong các báo cáo ĐTM dự án xây dựng cơ sở hạ tầng KCN ở Việt Nam còn thiếu chính xác và không phù hợp với thực tế? Theo định hướng phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong các năm tới đây, việc hình thành và phát triển các khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, trong đó có loại hình KCN vẫn là xu hướng chủ đạo. Do đó, việc nghiên cứu, đề xuất phương pháp dự báo nước thải KCN có tính chính xác cao là yêu cầu cấp thiết dé bảo vệ môi trường.
Vì vậy, dé tài luận án “Cơ sở du báo lượng nước thải phục vụ đánh giá tác động môi trường dự án dau tư xây dựng cơ sở hạ tang khu công nghiệp trong điều kiện Việt Nam” được thực hiện sẽ góp phần dự báo khối lượng nước thai KCN phát sinh trong tương lai, giúp tiết kiệm chi phí xây dựng và vận hành trạm XLNT TT. Mục tiêu nghiên cứu của luận án - Xác định hiệu quả của các phương pháp dự báo lượng nước thải đang được áp dụng trong các báo cáo ĐTM dự án xây dựng cơ sở hạ tầng KCN tại Việt Nam. - Xác định cơ sở khoa hoc dự báo lượng nước thai KCN phục vụ công tac đánh giá tác động môi trường dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tang KCN phù hop với điều kiện Việt Nam. Nội dung nghiên cứu - Đánh giá các phương pháp dự báo lượng nước thải KCN đang được áp dụng trong các báo cáo ĐTM ở Việt Nam, so sánh kết quả nước thải KCN dự báo và thực tế dé kiểm chứng sai số khi du báo lượng nước thải KCN trong bao cáo DTM; - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát sinh nước thải để xác định cơ sở dự báo lượng nước thải KCN; - Xây dựng phương pháp dự báo lượng nước thải KCN phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường dự án đầu tư xây dung co sở hạ tang KCN phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Phương pháp dự báo lượng nước thải KCN đã và đang được áp dụng trong các báo cáo DTM dự án dau tư xây dựng cơ sở hạ tang KCN của Việt Nam. - 195 KCN đang hoạt động trên phạm vi cả nước đã được phê duyệt báo cáo DTM dé phân tích số liệu về phát sinh nước thải của toàn KCN. - 114 KCN (trên tổng số 195 KCN đã hoạt động trên phạm vi cả nước nói trên) có tỷ lệ lấp đầy từ 80% trở lên để nghiên cứu và đánh giá tính chính xác của các phương pháp dự báo lượng nước thải đã được áp dụng trong DTM dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tang KCN; - 11 KCN thuộc tỉnh Đồng Nai có day đủ số liệu trong khoảng thời gian 05 năm (2012 - 2016) để xây dựng phương pháp dự báo lượng nước thải KCN; - 02 KCN Long Thanh và Nhơn Trạch HI GĐÐ2 thuộc tỉnh Đồng Nai được lựa chọn là 02 KCN đề khảo sát, đo đạc lượng nước thải phát sinh thực tế của từng nhà máy đê tính toán cân băng nước và xác định các yêu tô ảnh hưởng đên việc phát 11 sinh nước thai KCN. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp tổng quan và thu thập số liệu; - Phương pháp điều tra, phỏng vấn; - Phương pháp khảo sát và đo đạc thực tế; - Phương pháp tính toán cân bằng nước; - Phương pháp xử lý số liệu thống kê với sự hỗ trợ của phần mềm máy tính.
Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và điểm mới của luận án 6. Ý nghĩa khoa học Kết quả luận án sẽ cung cấp cơ sở và công cụ khoa học cho việc dự báo lượng nước thải KCN trong ĐTM dự án xây dựng cơ sở hạ tầng KCN nói riêng và cho khoa học DTM nói chung. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần dự báo chính xác khối lượng nước thải phát sinh trong KCN ngay từ giai đoạn phê duyệt đầu tư dự án. Điều này một mặt sẽ tránh lãng phí trong đầu tư xây dựng và vận hành hệ thống XLNTTT của KCN, mặt khác nâng cao hiệu quả hoạt động và xử lý của các trạm XLNTTT của KCN, qua đó làm giảm khả năng gây ô nhiễm môi trường do nước thải KCN.
Ngoài ra, kêt quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phân giúp cho các cơ quan quan ly nhà nước về bảo vệ môi trường trong thâm định, phê duyệt báo cáo DTM va điều chỉnh chính sách liên quan đến quản lý nước thải KCN. Diém mới của luận án - Tổng hợp các phương pháp dự báo lượng nước thải phát sinh tại KCN đang được áp dụng trong các báo cáo ĐTM dự án xây dựng cơ sở hạ tầng KCN tại Việt Nam. - Xây dựng và kiểm chứng các phương pháp và hệ số dự báo lượng nước thải phát sinh tại KCN cho các ngành công nghiệp chủ yếu dé định hướng phục vụ cho DTM dự án dau tư xây dựng cơ sở hạ tang KCN trong điều kiện Việt Nam. KCN và nước thai KCN ở Việt Nam 1.
Thực trạng dau tư và phát triển các KCN ở Việt Nam Như đã đề cập, khái niệm về KCN tại Việt Nam đã được hình thành từ năm 1991 với KCN đầu tiên của Việt Nam là KCX Tân Thuận. Kẻ từ thời điểm đó, nhận thức về KCN đã dần được hình thành và phát triển rõ ràng hơn. Theo văn bản pháp quy mới nhất về KCN là Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ, được sửa đôi, bổ sung tại Nghị định số 164/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013, KCN được định nghĩa là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định pháp luật. KCX được định nghĩa là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho san xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu [11].
Bên cạnh đó, Việt Nam còn có loại hình cụm công nghiệp, là một dạng KCN ở quy mô nhỏ (thường dưới 70 ha) và không có hệ thống hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh như KCN. Trong các quy định của pháp luật và các tài liệu, nghiên cứu có liên quan khác, trừ khi được chỉ rõ, thuật ngữ “khu công nghiệp” và “khu chế xuất” thường được gọi chung là KCN. Trong luận án này, thuật ngữ KCN cũng được sử dụng chung cho KCN và KCX, không bao gồm loại hình cụm công nghiệp. Phân loại KCN ở Việt Nam KCN ở Việt Nam chia thành 4 loại như sau: (1) Các KCN được thành lập trên khu vực đã có một số doanh nghiệp công nghiệp đang hoạt động như KCN Biên Hòa 1 (Đồng Nai); KCN Tân Bình, KCN Bình Chiều (thành phố Hồ Chí Minh).