phần mở đầu của cuốn sách Giới thiệu về tw sự học của Susana Onega và J. Trong phần mở dau này, Susana Onega và J. Garcia Landa đã luận giải những vấn đề cơ bản của tự sự học như: định nghĩa tự sự học, định nghĩa tác phẩm trần thuật, phân tích cấu trúc trần thuật, tổng quan về lịch sử phát triển của tự sự học. Những công cụ lý thuyết của tự sự học có ảnh hưởng quan trọng đến việc nghiên cứu các phương diện hình thức của tác phẩm văn học, đặc biệt là tiểu thuyết.
Trên thực tế, nhiều nhà nghiên cứu cũng cho rằng tự sự học ra đời trong sự tương tác với hệ thong lý thuyết nghiên cứu về thé loại tiểu thuyết, nhất là tiểu thuyết phương Tây. Ở Việt Nam, cùng với sự phổ biến của tự sự học, nhiều công trình van dụng các công cụ lý luận của trường phải nghiên cứu này cũng đã được ứng dụng trong việc nghiên cứu kĩ thuật tiêu thuyết. Đào Duy Hiệp với tập tiểu luận Phê bình văn hoc từ lý thuyết hiện đại cũng quan tâm nhiều đến các lý thuyết hiện đại và vận dụng chúng để soi sáng các hiện tượng văn học cụ thé. Phần lớn dung lượng của cuốn sách được dành đề đề cập đến những lý thuyết về tiểu thuyết (thời gian và tiêu thuyết; độ dài và cấu trúc của tiêu thuyết; phối cảnh và điểm nhìn trong văn bản nghệ thuật; các cấp độ thời gian trong truyện kể).
Đặc biệt, vấn đề thời gian trần thuật theo lý thuyết của G.Genette đã được tác giả giới thiệu và phân tích kỹ qua những dẫn chứng tác phẩm cụ thé như: Đi tìm thời gian đã mat (Marcel Proust), Chí Phèo (Nam Cao), Thân phận tình yêu (Bao Ninh),. Nhắc đến việc ứng dụng lý thuyết tự sự học trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam, công trình có ý nghĩa tiên phong và quan trọng nhất là Tw sự học - Một số van dé lý luận và lịch sử (2 tập) do Trần Dinh Sử chủ biên. Bên cạnh việc giới thiệu các bài nghiên cứu ứng dụng lý thuyết tự sự học vào khảo sát các khía cạnh cụ thé của tác phẩm văn học, các bài viết giới thiệu về các lý thuyết tự sự học nổi bật của các nhà nghiên cứu nước ngoài, những van đề tự sự học của tiểu thuyết cũng được đề cập đến rộng rãi qua nhiều bài viết. Trong bài viết Vận dụng lý thuyết tự sự học vào nghiên cứu các hình thái thể loại tiểu thuyết, Đỗ Văn Hiểu đã giới thiệu một số nét chính trong công trình nghiên cứu Hình thái thể loại tiểu thuyết Trung Quốc và phương Tây của nữ giáo sư Trung Quốc Dương Tinh Ánh.
Theo người viết, đây là một cuốn sách “trên cơ sở lý thuyết tự sự học, Dương Tinh Ánh đã khái quát bản chất của tiêu thuyết, chi ra hình thái đồng đại, hình thái bản thé, kết cau tương đối có định của nó. Từ van dé quan hệ giữa trần thuật và cốt truyện, không gian và thời gian có thé chi ra đặc trưng của tiểu thuyết” [230, tr. Cũng trong công trình này, Duong Tinh Anh đã khái quát mô hình trần thuật của tiểu thuyết một cách khá thuyết phục gồm: mô hình cốt truyện — tính cách, mô hình tâm lý — tinh than, mô hình cảm giác — ý tượng, mô hình ân ý — tượng trưng, mô hình thi tình —- ý cảnh. Bài viết trên của Đỗ Văn Hiểu đã có những gợi ý thú vi cho việc tim hiểu tiểu thuyết từ góc độ tự sự học.
Trần Huyền Sâm trong bài viết Kiểu tự thuật “đánh tráo” chủ thể tran thuật trong tiểu thuyết hậu hiện đại đã phân tích một hiện tượng độc đáo đánh dấu sự thay đôi của kỹ thuật trần thuật trong văn học thế giới là kiểu tự thuật “đánh tráo” chủ thé trần thuật. Theo tác giả, đặc tinh thú vị của kiểu trần thuật này là “tạo ra tính chất lưỡng phân, rất khó năm bắt giữa tính chất trần thuật chủ quan và khách quan trong cấu trúc văn bản” [230, tr. Trong phần kết luận, tác giả cho rang “lý thuyết tự sự học gắn với nhiều vấn đề quan trọng của bản chất văn chương, vì vậy nó có khả năng thích ứng với mọi thời đại” [230, tr.237], do đó, việc nghiên cứu tự sự học vẫn còn rất rộng mở ở Việt Nam. Hai tác giả Lê Lưu Oanh và Phan Hồng Hạnh hướng tới việc nghiên cứu vai trò của các yếu tố ngoài cốt truyện đối với việc “tạo nên một sinh mệnh thật sự” cho tiểu thuyết trong bài viết Thành phan xen trong cốt truyện và sự trường lực, đại kiến tạo của tiểu thuyết.
Theo các tác giả, “các yếu tô này dù là phần phụ nhưng không thể thiếu, bởi chúng làm nên hơi thở, không khí, linh hồn và sự sống cho chính tác phâm” [230, tr. Chức năng cơ bản của thành phần xen này đối với tiểu thuyết là: tạo nên sự trường lực và bề thé của tiểu thuyết; tạo ra các kết cầu lồng ghép giúp nâng tầm khái quát của thê loại; dựng lại môi trường, không khí thời đại và không gian văn hóa rộng lớn; giúp cho nhân vật trở nên trọn vẹn, đầy đặn, sinh động hơn; làm chậm lại nhịp kể. Phùng Văn Tửu trong tổng tập Tiểu thuyết trên đường đổi mới nghệ thuật đã ứng dụng nhiều lý thuyết tự sự học trong nghiên cứu tiểu thuyết phương Tây, đặc biệt là tiểu thuyết Pháp. Chang hạn như trong bài viết Người kề chuyện xưng “tôi” trong văn chương hiện dai, ông đã khảo sát sự biến hóa của các phương thức tran thuật trong một số tiều thuyết có sự xuất hiện của người kê chuyện xưng “tôi” như Chạy tron (J.G Le Clezio), Su mê hoặc cua diéu té hai (F.
Zeller), Rừng xanh lá đỏ (Mac Ngôn). Qua đó, tác giả nhận thay rang sự biểu hiện của những hình thức người kể chuyện xưng “tôi” có thé được triển khai rất đa dạng tùy theo định hướng và phong cách nghệ thuật của nhà tiểu thuyết [288, tr. Ngoài ra, trong các công trình khảo sát và nghiên cứu khác về tiểu thuyết Pháp của tác giả như: Tiểu thuyết Pháp hiện đại những tìm toi đổi mới, Tiểu thuyết Pháp bên thêm thé kỷ XXI, ông cũng đưa ra những kiến giải đáng lưu ý về những phương diện nghệ thuật tự sự đặc sắc trong những tiểu thuyết tiêu biéu của Pháp trong suốt thế kỉ 10 XX và những năm dau thé ki XXI. Những nghiên cứu của tác giả đã đưa lại những gợi ý quan trọng trong việc nhìn nhận, đánh giá về kĩ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới.
Nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào trong chuyên luận Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại cũng đã phác thảo được những đặc điểm cách tân quan trọng của nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết phương Tây thé ki XX trên nhiều bình diện như: đa dạng hóa các hình thức tổ chức thời gian trần thuật, xây dựng nhân vật từ sự di động điểm nhìn, sử dụng rộng rãi kĩ thuật độc thoại nội tâm và dòng tâm tư. Những kết quả nghiên cứu của tác giả đã giúp người đọc có được cái nhìn khá toàn diện về những yếu tố cau trúc của tác phẩm tự sự nói chung và tiểu thuyết nói riêng (nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ. Nguyễn Mạnh Quynh trong luận án tiến sĩ Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng nhìn từ lý thuyết thời gian tự sự của G. Genette đã nghiên cứu tiêu thuyết Vũ Trọng Phụng từ lý thuyết về thời gian trần thuật của G.
Genette và chỉ ra các mô hình thời gian trần thuật, các kĩ xảo xử lý thời gian, sự tác động qua lại giữa chúng trong cơ chế nghệ thuật của chúng nhằm thé hiện nội dung, tư tưởng của tác phẩm. Một công trình khác ứng dụng lý thuyết tự sự học vào nghiên cứu tiểu thuyết là Người ké chuyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương dai của Thái Phan Vang Anh. Trong công trình này, tác giả đã ứng dụng các lý thuyết về điểm nhìn trần thuật, thời gian trần thuật, diễn ngôn trần thuật của các nhà nghiên cứu tự sự học trong và ngoài nước dé nghiên cứu về các đặc điểm của người ké chuyện trong tiêu thuyết Việt Nam đương đại. Tác giả đặc biệt chú ý đến sự cách tân của nghệ thuật trần thuật trên phương diện người ké chuyện của các tiểu thuyết xuất hiện đầu thé ki XXI.
Nhìn chung, việc ứng dung các lý thuyết tự sự hoc trong nghiên cứu các phương diện nghệ thuật của tiểu thuyết trở nên phổ biến từ nhiều năm nay ở Việt Nam. Các tác giả không chỉ giới hạn việc nghiên cứu tiêu thuyết Việt Nam mà còn mở rộng sang việc nghiên cứu tiểu thuyết nước ngoài nhằm phát hiện thêm những kĩ thuật trần thuật mới, góp phần làm phong phú thêm cho đời sống học thuật nước nhà. Tình hình nghiên cứu về tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000 từ lý thuyết tự sự 2.1 Những ý kiến nhận xét, đánh giá về tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000 rất phong phú. Khi khảo sát về tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000, chúng tôi chạm đến một khối lượng tư liệu phong phú trên nhiều báo, tạp chí chuyên ngành, trên các các công trình in thành sách, các luận văn, luận án khác nhau.
Tuy nhiên, các ý kiến nhìn nhận sự thay đổi tích cực của tiêu thuyết giai đoạn này trên bình diện nghệ thuật trần thuật xuất hiện đông đảo và toàn diện từ khá sớm. Một trong những tác giả sớm quan tâm đến sự vận động và phát triển của tiêu thuyết giai đoạn này là Lại Nguyên Ân. Năm 1987, trong bài viết Đóng góp của văn học vào tiến trình ý thức xã hội, tác giả cho rằng sau Đại hội Đảng lần thứ VI một loạt các tiểu thuyết được viết theo một “lối mới” đã ra đời trên tinh thần nhận thức đời sống một cách toàn diện, cả số phận và vấn đề của cộng đồng dân tộc lẫn số phận và con đường của từng cá nhân. “Các sáng tác truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết của Lê Lựu và Dương Thu Hương, Nguyễn Kiên và Vũ Tú Nam, Ma Văn Kháng va Xuân Thiéu v.
có thể nói đều thuộc dòng chung như vậy, tuy sắc thái bao giờ cũng khác nhau” [6, tr. Dinh Xuân Dũng trong bài viết Thử nhận dạng những biến doi của văn học hôm nay (1989) nhận xét rằng văn học nước ta, từ giữa những năm 80 đã xuất hiện nhiều hiện tượng tiểu thuyết mới lạ, phong phú và phức tạp. Hiện tượng này xuất phát từ chính nhu cầu biến đổi của xã hội cũng như chính bản thân văn học.