Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Địa vị pháp lý của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh" do nghiên cứu sinh Huỳnh Thị Ngọc Hân thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Đình Nhã, thuộc chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự (mã số: 9.04), bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2021.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế. Hiến pháp năm 2013 tại Khoản 2 Điều 14 quy định quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Người bị buộc tội (NBBT) do bị nghi ngờ thực hiện tội phạm nên bị hạn chế một số quyền nhất định. Do đó, việc quy định rõ ràng địa vị pháp lý của NBBT là cơ sở để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng mà không bị các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (THTT) xâm phạm hay cản trở.
Về mặt nhận thức và lập pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã thể chế hóa quan điểm tôn trọng, bảo vệ quyền con người, đặt NBBT vào vị trí trung tâm của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật thời gian qua vẫn tồn tại hạn chế, vi phạm thủ tục tố tụng, tình trạng thiên về buộc tội, định kiến tiêu cực đối với NBBT và một số nơi để xảy ra án oan sai.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), địa phương tập trung số lượng luật sư đông nhất cả nước (chiếm 40% tổng số luật sư) và có số lượng tổ chức hành nghề luật sư lớn (chiếm 1/3 cả nước), mục tiêu của Ủy ban nhân dân Thành phố đến năm 2020 đạt trên 50% số vụ án hình sự do Tòa án xét xử có luật sư tham gia vẫn chưa hoàn thành. Một bộ phận luật sư còn hạn chế về kỹ năng, chưa chủ động cập nhật kiến thức, coi nhẹ chất lượng hành nghề.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Phần lớn các công trình trước đây chỉ phân tích quyền và nghĩa vụ của NBBT từ góc độ quy định pháp luật thực định hoặc quyền con người nói chung, chưa tiếp cận theo nguyên tắc biện chứng "quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia" để nghiên cứu sâu mối quan hệ giữa quyền của NBBT với nghĩa vụ tương ứng của cơ quan, người THTT; chưa làm rõ các phương thức và giới hạn thực hiện quyền gỡ tội và buộc tội; đồng thời thiếu một công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống gắn liền với thực tiễn áp dụng trên địa bàn TP.HCM giai đoạn áp dụng BLTTHS năm 2015.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở lý luận, thực trạng quy định và thực tiễn thi hành pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của NBBT, tiến hành đánh giá toàn diện việc thực hiện địa vị pháp lý của NBBT tại TP.HCM, qua đó đề xuất hệ thống giải pháp, cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người của NBBT trong tố tụng hình sự ở Việt Nam và trên địa bàn TP.HCM.
Nhiệm vụ nghiên cứu được tác giả xác định gồm 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Thứ nhất, phân tích, luận giải các vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của NBBT theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam; phân biệt địa vị pháp lý của từng loại NBBT với các chủ thể khác; làm rõ nội hàm, bản chất, chính sách hình sự, chức năng tố tụng, mô hình tố tụng và vai trò của người bào chữa.
- Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng chính sách, pháp luật hình sự và tố tụng hình sự đối với việc bảo đảm quyền của NBBT từ thực tiễn thi hành tại TP.HCM nhằm xác định nguyên nhân, hạn chế và bất cập.
- Thứ ba, xây dựng và hoàn thiện hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả, bảo vệ và bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của NBBT theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Địa vị pháp lý của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, tiếp cận ở ba phương diện: lý luận, pháp luật thực định, và thực tiễn thực hiện, áp dụng pháp luật đối với NBBT tại TP.HCM.
- Phạm vi không gian: Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Số liệu khảo sát, thống kê được tổng hợp, phân tích và so sánh trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2019.
- Phạm vi tư liệu và văn bản: Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hình sự, tố tụng hình sự (trọng tâm là BLTTHS 1988, BLTTHS 2003, BLTTHS 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành); các báo cáo tổng kết, thống kê nghiệp vụ của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp TP.HCM.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật, phân loại và đánh giá có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan trực tiếp đến đề tài:
Các hướng nghiên cứu trong nước
Tác giả chia các công trình trong nước thành các nhóm chuyên đề:
- Nhóm nghiên cứu về chính sách hình sự và quyền tư pháp: Công trình "Chính sách pháp luật" của GS.TS Võ Khánh Vinh (2020); đề tài cấp nhà nước "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về quyền tư pháp của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn 2011-2020" do PGS. Nguyễn Đức Minh làm chủ nhiệm; bài viết về trách nhiệm hình sự của pháp nhân của Trịnh Tiến Việt (2018); luận án tiến sĩ "Các yếu tố bảo đảm độc lập xét xử ở Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Hải Ninh (2013); luận án tiến sĩ "Thực hiện quyền tư pháp trong tố tụng hình sự Việt Nam" của Phạm Thị Như Quỳnh (2017); nghiên cứu về chính sách pháp luật tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi của Huỳnh Thị Kim Ánh (2020); luận án tiến sĩ "Xét xử sơ thẩm từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh" của Lê Thanh Phong (2017); luận án tiến sĩ "Pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các VAHS ở Việt Nam hiện nay" của Đào Văn Cường (2018).
- Nhóm nghiên cứu về chức năng và mô hình tố tụng: Bài viết "Phiên tòa sơ bộ - giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng trong tố tụng hình sự" của Lê Thanh Phong (2019); bài viết về thời hạn tạm giam theo BLTTHS 2015 của Hoàng Tám Phi (2019); nghiên cứu về thực hành quyền công tố giai đoạn giải quyết nguồn tin tội phạm của Vũ Thị Sao Mai (2019); nghiên cứu về hoạt động xét xử của Lê Nữ Ngọc Diệp (2016); các bài viết về nguyên tắc tranh tụng của Lê Tiến Châu (2003), Trần Văn Độ (2004), Nguyễn Thái Phúc (2008), Nguyễn Đức Mai (2009), luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Hiển (2011), luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thanh Tuấn (2017) và bài viết về mô hình tố tụng tranh tụng và thẩm vấn của Ngô Cường (2017).
- Nhóm nghiên cứu về quyền con người, quyền công dân và quyền bào chữa: Luận án tiến sĩ của Lại Văn Trình (2011) về quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; luận án tiến sĩ của Lương Thị Mỹ Quỳnh (2011) so sánh quyền có người bào chữa tại Việt Nam, Đức, Mỹ; luận án tiến sĩ của Trần Hưng Bình (2014) về bảo vệ quyền của người chưa thành niên; luận án tiến sĩ của Đinh Thị Mai (2014) về quyền của bị hại; luận án tiến sĩ của Nguyễn Hữu Hậu (2019) về bảo đảm quyền con người của NBBT trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát; luận án tiến sĩ của Trần Thị Ngọc Hiếu (2018) về chủ thể của tội phạm; luận án tiến sĩ của Nguyễn Hữu Thế Trạch (2014) và luận văn của Bùi Phương Nam (2017) về quyền bào chữa của người chưa thành niên; luận văn của Phạm Nguyễn Viết Cường về nguyên tắc suy đoán vô tội; luận văn của Nguyễn Thị Na về tranh tụng tại Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng; các bài viết về quyền bào chữa của pháp nhân thương mại của Lê Đăng Doanh - Lê Đăng Khoa (2019), về quyền có phiên tòa công bằng của Phạm Minh Tuyên (2015, 2019), về cơ chế bảo vệ quyền con người bằng Tòa án của Đinh Thế Hưng và Trần Xuân Thái (2011).
- Nhóm nghiên cứu tổng quan BLTTHS năm 2015: Sách chuyên khảo do PGS. Nguyễn Hòa Bình chủ biên (2016) và các bài viết của tác giả trên Tạp chí Tòa án nhân dân (2017, 2018); các bài viết về biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt của Nguyễn Quang Lộc (2017); nghiên cứu về trách nhiệm hình sự của pháp nhân của Phạm Thị Nhật Tài - Trịnh Tuấn Anh (2018), Nguyễn Thị Phương Hoa (2016), Nguyễn Ngọc Hòa (2016), Lưu Hải Yến (2016).
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Tác giả khảo cứu các tài liệu, công ước quốc tế và nghiên cứu so sánh:
- Nghiên cứu so sánh hệ thống tư pháp thẩm vấn và tranh tụng của Philip Reichel (1999).
- Giám sát lập pháp đối với Tòa án của Paul Gewirtz (2004).
- Nguồn gốc lịch sử về tố tụng công bằng trong Đạo luật 12 điều (The Law of the Twelve Tables) và Hiến chương Magna Carta.
- Khảo sát tư pháp hình sự 13 quốc gia của Craig M. Bradley (1999, tái bản 2007).
- Báo cáo kinh nghiệm đổi mới tố tụng hình sự của Pháp (Ariane Amson, 2014), của Ý (Marco Fabri, 2014), của Nga (William E. Butler; Ekaterina Mishina), của Trung Quốc (Vivienne Bath và Sarah Biddulph, 2010 - UNDP).
- Khung nguyên tắc bảo hộ người bị giam giữ hoặc phạt tù của Liên Hợp Quốc (Nghị quyết số 43/173 ngày 09/12/1988).
- Công ước Châu Âu về Nhân quyền (Điều 6) qua nghiên cứu của Stephanos Stavros (1993).
- Giáo trình "Criminal process and human rights" của Jeremy Gans, Terese Henning, Jill Hunter và Kate Warner (Úc, 2011).
- Khái quát về Tòa án vị thành niên của Kathleen Michon.
- Các quy định tại Điều 10, Điều 11 Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (UDHR 1948).
Khoảng trống luận án giải quyết
Qua tổng quan, tác giả nhận thấy các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam khi đề cập đến NBBT chủ yếu tập trung vào bị can, bị cáo, chưa làm rõ đầy đủ nội hàm NBBT theo BLTTHS năm 2015 (bao gồm cả người bị bắt, người bị tạm giữ và pháp nhân thương mại). Đa số công trình chưa nhìn nhận địa vị pháp lý trong mối tương quan ràng buộc giữa quyền của NBBT và nghĩa vụ của cơ quan THTT dưới góc độ phương thức thực hiện. Luận án chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách phân tích chuyên sâu khái niệm, phân loại NBBT, xác định cơ chế bảo đảm quyền và kiểm chứng thực tiễn áp dụng tại địa bàn TP.HCM.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Cơ sở phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức ("đạo đức là gốc, pháp luật là chuẩn"), về quyền con người trong mối quan hệ với quyền lực nhà nước, cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Khung tiếp cận nghiên cứu: Tiếp cận dựa trên quyền tố tụng và phương thức thực hiện quyền. Quyền tố tụng được xem là biện pháp pháp lý để thực hiện và bảo vệ quyền con người. Mối quan hệ giữa NBBT và cơ quan THTT được xem xét theo nguyên lý quan hệ phổ biến: quyền của chủ thể này là nghĩa vụ của chủ thể kia; quy định quyền cho NBBT phải đi đôi với quy định nghĩa vụ, trách nhiệm đáp ứng cụ thể của cơ quan, người THTT.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận đa ngành, liên ngành luật học cùng các phương pháp nghiên cứu định tính và phân tích thống kê:
- Phương pháp nghiên cứu trực tiếp: Khảo sát thực tế, trao đổi, tiếp xúc trực tiếp và tổ chức tọa đàm chuyên gia với các nhà khoa học pháp lý, cán bộ thực tiễn thuộc các cơ quan tư pháp và luật sư.
- Phương pháp nghiên cứu gián tiếp: Thu thập, tổng hợp, phân tích, xử lý tư liệu sơ cấp và thứ cấp từ các văn bản pháp luật, án văn và tài liệu khoa học.
- Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam qua các thời kỳ (BLTTHS 1988, 2003, 2015) và so sánh với chuẩn mực quốc tế, pháp luật của một số quốc gia.
- Phương pháp thống kê hình sự: Thu thập, tổng hợp, so sánh dữ liệu số liệu báo cáo nghiệp vụ trong giai đoạn 2009–2019 từ Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp TP.HCM.
- Phương pháp phân tích án điển hình (Case study): Chọn lọc và phân tích một số vụ án hình sự cụ thể xảy ra trên địa bàn TP.HCM nhằm đánh giá nhận thức và hành vi áp dụng pháp luật của người có thẩm quyền THTT.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về chính sách hình sự, quyền tư pháp, chức năng tố tụng, mô hình tố tụng, nguyên tắc tranh tụng, suy đoán vô tội, quyền bào chữa và bảo đảm quyền con người của NBBT.
Tác giả xác định các nội dung đã thống nhất cần kế thừa (như việc xem quyền tố tụng là công cụ bảo vệ quyền con người; tính tất yếu của việc mở rộng tranh tụng) và chỉ ra các vấn đề lý luận còn nhiều ý kiến tranh luận: cơ chế kiểm soát các biện pháp ngăn chặn (nên giao quyền cho Tòa án hay Viện kiểm sát phê chuẩn), giá trị chứng minh của lời nhận tội, việc xác định tư cách pháp nhân thương mại trong tố tụng hình sự và giới hạn can thiệp của cơ quan lập pháp đối với hoạt động xét xử.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của người bị buộc tội
Chương này tập trung xây dựng hệ thống khái niệm, phân tích đặc điểm và phân biệt địa vị pháp lý của NBBT:
- Khái niệm người bị buộc tội: Tác giả đưa ra định nghĩa: "NBBT là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại bị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có căn cứ nghi ngờ đã thực hiện hành vi có dấu hiệu là tội phạm và do đó họ có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS, hoặc các biện pháp TTHS khác để phục vụ hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử theo quy định của BLTTHS Việt Nam".
- Khái niệm địa vị pháp lý của NBBT: "Địa vị pháp lý của NBBT là vị trí của NBBT trong cơ chế TTHS thể hiện qua việc xác định quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ trong từng giai đoạn TTHS".
- Mối quan hệ biện chứng giữa quyền con người và quyền tố tụng: Khi NBBT bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế (bị hạn chế quyền con người, quyền công dân) thì đồng thời các quyền năng tố tụng của họ phải được mở rộng tương ứng để tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ.
Tác giả phân loại và làm rõ đặc điểm pháp lý của 4 nhóm chủ thể là NBBT theo quy định của BLTTHS năm 2015:
| Chủ thể NBBT |
Căn cứ xác định theo pháp luật tố tụng hình sự |
Đặc điểm địa vị pháp lý và giới hạn quyền |
Khái niệm do tác giả luận án xây dựng |
| Người bị bắt |
Bắt người phạm tội quả tang, người đang bị truy nã, bắt bị can/bị cáo để tạm giam (Điều 58 BLTTHS 2015; Điều 20 Hiến pháp 2013). |
Bị hạn chế quyền tự do thân thể tức thời; phát sinh quyền tố tụng để giới hạn quyền lực nhà nước, chống bức cung, nhục hình. |
Là cá nhân phạm tội quả tang hoặc cá nhân đang bị truy nã, bị can, bị cáo theo quyết định của người có thẩm quyền, hoặc phê chuẩn của VKSND để phục vụ cho hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử theo quy định của PLTTHS Việt Nam. |
| Người bị tạm giữ |
Giữ người trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc bị bắt theo quyết định truy nã (Điều 59 BLTTHS 2015). |
Bị cách ly tạm thời để phục vụ xác minh dấu hiệu tội phạm; chịu sự quản lý giam giữ nghiêm ngặt. |
Là cá nhân bị tạm giữ để xác minh dấu hiệu tội phạm trong hành vi của họ theo quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. |
| Bị can |
Có quyết định khởi tố bị can của CQĐT khi có đủ căn cứ xác định đã thực hiện tội phạm (Điều 60, Điều 179 BLTTHS 2015). |
Chủ thể chính thức bị truy cứu trách nhiệm hình sự; bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn dài ngày, hỏi cung; quyền tố tụng được mở rộng tối đa để chuẩn bị bào chữa. |
Là cá nhân hoặc người đại diện cho pháp nhân thương mại có đủ căn cứ pháp lý khách quan chứng minh có thể đã thực hiện hành vi phạm tội, bị khởi tố về hình sự theo quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. |
| Bị cáo |
Có quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án (Điều 61 BLTTHS 2015). |
Tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phúc thẩm; thực hiện quyền tranh tụng bình đẳng với bên buộc tội trước Tòa án độc lập. |
Là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử bằng một quyết định mang tính tố tụng trên cơ sở kết luận điều tra và cáo trạng truy tố. |
- Phân biệt với các chủ thể tham gia tố tụng khác: Luận án chia người tham gia tố tụng thành 3 nhóm: (1) Nhóm có quyền và lợi ích trong vụ án (NBBT, bị hại, nguyên đơn/bị đơn dân sự...); (2) Nhóm tham gia để bảo vệ quyền lợi người khác và công lý (người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi bị hại); (3) Nhóm tham gia theo nghĩa vụ pháp lý (người làm chứng, giám định, phiên dịch). NBBT là trung tâm của vụ án hình sự, nếu không có NBBT thì không phát sinh hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự.
Chương 3: Thực trạng quy định địa vị pháp lý của người bị buộc tội và thực tiễn thi hành tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 phân tích quy định của BLTTHS 2015 đối chiếu với thực tiễn áp dụng tại các cơ quan tư pháp trên địa bàn TP.HCM trong giai đoạn 2009–2019:
- Đánh giá quy định pháp luật: BLTTHS năm 2015 đã bổ sung nhiều nguyên tắc tiến bộ: nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13), tranh tụng trong xét xử (Điều 26), bảo đảm quyền bào chữa (Điều 16), quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội.
- Thực tiễn thi hành tại TP.HCM:
- Hoạt động của Luật sư và bảo đảm quyền bào chữa: Mặc dù TP.HCM tập trung 40% lực lượng luật sư cả nước và 1/3 tổ chức hành nghề, tỷ lệ vụ án hình sự có luật sư tham gia chưa đạt chỉ tiêu 50% theo đề án của UBND TP.HCM đến năm 2020. Việc tiếp cận hồ sơ vụ án, gặp gỡ người bị tạm giữ, bị can trong giai đoạn điều tra của luật sư còn gặp rào cản từ phía cơ quan điều tra.
- Thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn và tranh tụng: Tình trạng lạm dụng tạm giam, việc kéo dài thời hạn giải quyết do trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần giữa Tòa án và Viện kiểm sát làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do thân thể của NBBT. Tại phiên tòa, một số yêu cầu của luật sư về việc thu thập thêm chứng cứ hoặc triệu tập điều tra viên chưa được Hội đồng xét xử chấp nhận đầy đủ.
- Hạn chế và nguyên nhân:
- Hạn chế: Vẫn còn tình trạng vi phạm thủ tục tố tụng, chậm thông báo về việc bắt, giữ; việc tạo điều kiện cho NBBT thực hiện quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa có lúc chưa kịp thời; tâm lý định kiến tội phạm còn tồn tại ở một bộ phận cán bộ tiến hành tố tụng.
- Nguyên nhân: Nhận thức pháp luật chưa đồng đều; áp lực chỉ tiêu nghiệp vụ và phòng chống tội phạm; cơ sở vật chất phục vụ giam giữ, ghi âm ghi hình hỏi cung còn thiếu thốn; trách nhiệm nghề nghiệp và kỹ năng của một số luật sư chưa đáp ứng yêu cầu.
Chương 4: Yêu cầu và giải pháp bảo đảm địa vị pháp lý của người bị buộc tội
Chương 4 xác định các định hướng và nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm địa vị pháp lý của NBBT:
- Các yêu cầu bảo đảm: Bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật; quán triệt nguyên tắc suy đoán vô tội; bảo đảm sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội trong tranh tụng; tăng cường tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân khi xét xử.
- Hệ thống giải pháp:
- Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự: Bổ sung quy định chi tiết về nghĩa vụ, trách nhiệm cụ thể của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong việc chủ động giải thích và tạo điều kiện để NBBT thực hiện quyền; quy định rõ thủ tục tố tụng đối với pháp nhân thương mại bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nghiên cứu áp dụng chế định "phiên tòa sơ bộ" nhằm giải quyết các chứng cứ và khiếu nại tố tụng trước khi mở phiên tòa xét xử chính thức; hoàn thiện quy định về thời hạn tạm giam và căn cứ trả hồ sơ điều tra bổ sung.
- Giải pháp về tổ chức thực hiện và cơ chế tư pháp: Đổi mới hoạt động xét xử theo hướng lấy tranh tụng tại phiên tòa làm trọng tâm; nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp; tăng cường kiểm tra, thanh tra nội bộ và giám sát của cơ quan dân cử (HĐND, Quốc hội) theo hướng giám sát chính sách, không can thiệp vào việc xử lý vụ án cụ thể.
- Nâng cao năng lực đội ngũ và điều kiện cơ sở vật chất: Bồi dưỡng đạo đức công vụ, bản lĩnh chính trị và kỹ năng nghiệp vụ cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán; đầu tư đồng bộ trang thiết bị ghi âm, ghi hình có âm thanh khi hỏi cung bị can; nâng cao chất lượng đào tạo luật sư, phát huy vai trò của Đoàn Luật sư TP.HCM trong việc giám sát đạo đức nghề nghiệp và hỗ trợ pháp lý cho NBBT.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án đã xây dựng và chuẩn hóa định nghĩa khoa học về "Người bị buộc tội" và "Địa vị pháp lý của người bị buộc tội", phân định rõ ranh giới pháp lý và đặc điểm tố tụng của 4 nhóm chủ thể: người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
- Luận giải sâu sắc bản chất địa vị pháp lý của NBBT dưới góc độ tiếp cận quyền con người và nguyên tắc đối ứng quyền - nghĩa vụ giữa NBBT và các cơ quan THTT.
- Khẳng định quy luật mở rộng dần của quyền tố tụng: khi các quyền tự do công dân của NBBT bị hạn chế nghiêm khắc hơn theo các giai đoạn tố tụng thì quyền năng tố tụng của họ phải được nới rộng tương ứng để bảo đảm khả năng tự bảo vệ.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Khảo sát, đánh giá toàn diện bức tranh thực tiễn thi hành pháp luật tố tụng hình sự về quyền của NBBT tại địa bàn đặc thù là TP.HCM giai đoạn 2009–2019.
- Chỉ ra các điểm nghẽn thực tế cản trở hoạt động bào chữa của luật sư và việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng, suy đoán vô tội tại các cơ quan tiến hành tố tụng TP.HCM.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp lập pháp và tổ chức thi hành mang tính khả thi nhằm hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người trong tư pháp hình sự.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tiếp cận chủ yếu dựa trên các tư liệu, báo cáo thực tiễn tại địa bàn TP.HCM trong khung thời gian 2009–2019. Do rào cản ngôn ngữ và địa lý, việc tiếp cận nguồn tài liệu sơ cấp từ hệ thống tư pháp một số quốc gia còn có những giới hạn nhất định.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh thực tiễn bảo đảm địa vị pháp lý của NBBT trên các địa bàn kinh tế - xã hội khác trong cả nước; nghiên cứu sâu về cơ chế bảo đảm quyền của người bị buộc tội là pháp nhân thương mại trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số trong hoạt động tư pháp.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan lập pháp và các nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của BLTTHS liên quan đến chế định người tham gia tố tụng, biện pháp ngăn chặn và bảo đảm tranh tụng.
- Đối với cơ quan tiến hành tố tụng (CQĐT, VKS, TAND): Làm tài liệu tham khảo nghiệp vụ trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử nhằm nhận diện đúng nghĩa vụ đáp ứng quyền của NBBT, hạn chế vi phạm tố tụng và oan sai.
- Đối với đội ngũ Luật sư và tổ chức hành nghề luật sư: Cung cấp các luận cứ pháp lý và nhận diện rào cản thực tiễn để nâng cao kỹ năng bào chữa, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng.
- Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên luật: Là nguồn tài liệu chuyên khảo có hệ thống phục vụ nghiên cứu, giảng dạy chuyên đề Luật tố tụng hình sự và Quyền con người trong tư pháp hình sự.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa "Người bị buộc tội" như thế nào?
Trả lời: Luận án định nghĩa: "NBBT là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại bị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có căn cứ nghi ngờ đã thực hiện hành vi có dấu hiệu là tội phạm và do đó họ có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS, hoặc các biện pháp TTHS khác để phục vụ hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử theo quy định của BLTTHS Việt Nam".
2. Địa vị pháp lý của người bị buộc tội thay đổi như thế nào qua các giai đoạn tố tụng?
Trả lời: Địa vị pháp lý của NBBT thay đổi theo từng giai đoạn và có xu hướng mở rộng dần quyền năng tố tụng. Khi NBBT chuyển từ tư cách người bị bắt, người bị tạm giữ sang bị can, bị cáo, mức độ hạn chế quyền con người, quyền công dân tăng lên (thời hạn tạm giam dài hơn, bị hỏi cung, kê biên tài sản), đồng thời quyền tố tụng của họ cũng được pháp luật mở rộng tương ứng (quyền đọc, sao chụp tài liệu hồ sơ, quyền đưa ra chứng cứ, quyền nhờ người bào chữa, quyền tranh luận tại phiên tòa) để tự bảo vệ.
3. Thực trạng tham gia của luật sư trong các vụ án hình sự tại TP.HCM được luận án chỉ ra ra sao?
Trả lời: Luận án nêu rõ TP.HCM có số lượng luật sư chiếm 40% cả nước và số tổ chức hành nghề chiếm 1/3 cả nước. Tuy nhiên, mục tiêu của UBND TP.HCM đến năm 2020 đạt trên 50% số vụ án hình sự do Tòa xét xử có luật sư tham gia vẫn chưa đạt được; một bộ phận luật sư còn hạn chế về kỹ năng, chưa chủ động và coi nhẹ chất lượng hành nghề.
4. Khung tiếp cận về mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ trong luận án là gì?
Trả lời: Luận án tiếp cận theo nguyên tắc biện chứng: quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Việc pháp luật quy định quyền cho NBBT phải đi kèm với việc quy định nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý bắt buộc của cơ quan và người tiến hành tố tụng phải đáp ứng, tạo điều kiện để NBBT thực hiện quyền đó trong thực tế.
5. Luận án đề xuất giải pháp gì mới về mặt thủ tục tiền xét xử?
Trả lời: Tác giả đề xuất bổ sung quy định về "phiên tòa sơ bộ" vào Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm giải quyết sớm các yêu cầu về chứng cứ, tính hợp pháp của các hành vi tố tụng và xem xét trả hồ sơ điều tra bổ sung trước khi mở phiên tòa chính thức, tạo thêm cơ hội bảo vệ quyền cho NBBT.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Huỳnh Thị Ngọc Hân là công trình khoa học pháp lý nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về địa vị pháp lý của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn TP.HCM. Bằng việc kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng với cách tiếp cận dựa trên quyền và nguyên tắc đối ứng quyền - nghĩa vụ, tác giả đã làm rõ nội hàm lý luận của các khái niệm NBBT, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và pháp nhân thương mại. Luận án đã đánh giá khách quan thực trạng áp dụng pháp luật tại TP.HCM giai đoạn 2009–2019, chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong việc bảo đảm quyền bào chữa và tranh tụng. Hệ thống các giải pháp được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực cho tiến trình cải cách tư pháp và hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.