Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.Tình hình nghiên cứu trong nước 1. Nhóm các công trình liên quan đến cơ sở lý luận của đề tài 1. Liên quan đến chính sách hình sự - Quyễn sách “Chính sách pháp luật” của GS.TS Võ Khánh Vinh, xuất bản năm 2020, đây là một công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện và đầy đủ về chính sách pháp luật, vì vậy có thể sử dụng làm cẩm nang, giáo trình đào tạo những người chuyên nghiệp có trình độ cao cho xây dựng và áp dụng pháp luật, trong đó có đề cập đến chính sách hình sự là một loại chính sách pháp luật, một loại chính sách xã hội, một loại chính sách công, một loại chính sách đối nội. Chính sách pháp luật hình sự bao gồm các bộ phận hay các yếu tố cấu thành sau đây: chính sách pháp luật hình sự, chính sách pháp luật TTHS, chính sách pháp luật điều tra hình sự, chính sách pháp luật thi hành án hình sự, chính sách phòng ngừa tình hình tội phạm.
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về các tiêu chuẩn mang tính toàn cầu của độc lập xét xử và thẩm phán ở Việt Nam “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về quyền tư pháp của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn 2011-2020” của Viện Nhà nước và pháp luật do PGS. Nguyễn Đức Minh làm chủ nhiệm đã đề cập trực tiếp khá toàn diện các vấn đề về quyền tư pháp và thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam, trong đó có lĩnh vực TTHS. Tuy không trục tiếp nghiên cứu về quyền của NBBT trong TTHS, song rất nhiều luận điểm về bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp và trách nhiệm tương ứng của các cơ quan tư pháp là những nội dung mà tác giả luận án cần tham khảo. - Bài viết “Mối liên hệ giữa quy định pháp nhân phạm tội với quy định thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân và một số vấn đề cần lưu ý” của tác giả Trịnh Tiến Việt, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7/2018 có nêu nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân phạm tội trong Bộ luật Hình sự là cơ sở của các quy 10 định về: trách nhiệm xử lý pháp nhân phạm tội trong BLTTHS; khởi tố VAHS, khởi tố bị can; xác định chủ thể và địa vị chủ thể tham gia tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân; áp dụng các biện pháp cưỡng chế về TTHS trong thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự; xác định đối tượng chứng minh khi THTT đối với pháp nhân bị buộc tội; giải quyết những vấn đề khác liên quan đến thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân của BLTTHS.
Qua đó, tác giả có kiến nghị cần làm sáng tỏ các quan hệ pháp luật hình sự và quan hệ PLTTHS, chủ thể của tội phạm là pháp nhân có đúng là pháp nhân thực hiện tội phạm hay không; trách nhiệm hình sự của cá nhân các thành viên pháp nhân trong vụ án đó. - Luận án tiến sĩ luật học “Các yếu tố bảo đảm độc lập xét xử ở Việt Nam hiện nay”, năm 2013 của tác giả Nguyễn Hải Ninh đã phân tích, so sánh đối chiếu bản chất của độc lập xét xử với các tiêu chuẩn chung của Liên hiệp quốc về xét xử qua đó chỉ ra các nét đặc thù của Việt Nam. Tuân thủ nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” nhằm đảm cho xét xử công bằng, nghiêm minh, đúng người đúng tội, không làm oan sai NBBT. - Luận án tiến sĩ luật học “Thực hiện quyền tư pháp trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Như Quỳnh, Học viện Khoa học xã hội năm 2017 đã nghiên cứu một cách có hệ thống lịch sử hình thành và phát triển về quyền tư pháp trong TTHS Việt Nam từ năm 1945 đến nay, phân tích những kết quả đạt được cũng như những bất cập hạn chế của pháp luật về tổ chức thực hiện quyền tư pháp trong TTHS trên các phương diện xét xử VAHS.
Bên cạnh đó, luận án phân tích thực tiễn hoạt động giám sát trong quá trình TTHS giữa các cơ quan THTT và cơ chế giám sát của các cơ quan dân cử, xã hội và báo chí. Tác giả hoàn toàn thống nhất với nội dung “quyền tư pháp là khả năng và năng lực riêng có của các cơ quan tư pháp trong đó Tòa án chiếm vị trí đặc biệt, tuy nhiên không nên đồng nhất với quyền xét xử và không nên quy quyền tư pháp về một loại hoạt động xét xử nào đó của Tòa án [120]. Như vậy, có thể nói quyền tư pháp rộng hơn quyền xét xử và quyền của NBBT không chỉ liên quan đến hoạt 11 động xét xử mà còn liên quan đến hoạt động theo chức năng của các cơ quan tư pháp hình sự khác như CQĐT, cơ quan Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án hình sự. - Bài viết “Bàn về nội dung và phương hướng hoàn thiện chính sách pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội” của tác giả Huỳnh Thị Kim Ánh, Tạp chí An ninh nhân dân, số 96 tháng 5/2020, đưa ra khái niệm chính sách PLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một loại của chính sách PLTTHS nhằm xác định phương hướng cơ bản, có tính chất chỉ đạo, chiến lược của Nhà nước trong hoạt động lập pháp và áp dụng PLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, tăng cường việc bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm - Luận án tiến sĩ luật học “Xét xử sơ thẩm từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Lê Thanh Phong, Học viện Khoa học xã hội năm 2017, luận án đã khái quát và xác định xét xử sơ thẩm hình sự là giai đoạn TTHS độc lập, đồng thời phân tích các quy định, thực trạng áp dụng, những vướng mắc bất cập, đề xuất hai nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật TTHS về xét xử sơ thẩm để nâng cao hiệu quả công tác xét xử trong TTHS.
Tác giả đã làm rõ những nội dung cơ bản của phiên tòa hình sự sơ thẩm, nhất là việc tuân thủ các nguyên tắc quy định trong BLTTHS 2015 như nguyên tắc tranh tụng (Điều 26), Thẩm phán và Hội thẩm độc lập khi xét xử (Điều 23), nguyên tắc xét xử trực tiếp, liên tục, khách quan (Điều 25), đồng thời làm rõ vấn đề giới hạn xét xử, vấn đề trả hồ sơ điều tra bổ sung. Những nội dung theo kết quả nghiên cứu có ảnh hưởng rất lớn đến địa vị pháp lý của NBBT là bị can (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử), bị cáo. - Luận án tiến sĩ luật học “Pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các VAHS ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Đào Văn Cường, Học viện Khoa học xã hội năm 2018, đã nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về thủ tục xét xử sơ thẩm hình sự các VAHS, đặc biệt khái quát lịch sử PLTTHS Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLTTHS 2015 về thủ tục xét xử sơ thẩm hình sự 12 các VAHS, nêu cụ thể từng quy định và hướng hoàn thiện các quy định, nêu giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về thủ tục xét xử sơ thẩm hình sự các VAHS. Tác giả sẽ sử dụng một số kết quả nghiên cứu từ luận án này để phân tích, đánh giá cụ thể về địa vị pháp lý của NBBT tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, nhất là giai đoạn mà BLTTHS 2015 đã có hiệu lực thi hành.
Ngoài ra, trên cơ sở ứng dụng các kết quả nghiên cứu đã có và các quy định của pháp luật về quyền của NBBT thì cần làm rõ hơn những nội dung về nghĩa vụ, trách nhiệm cụ thể của tổ chức, cá nhân phải đáp ứng quyền mà pháp luật đã quy định cho NBBT, tác giả sẽ nghiên cứu chuyên sâu về địa vị pháp lý của NBBT thông qua hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền THTT, người có thẩm quyền tố tụng. Liên quan đến chức năng tố tụng - Bài viết “Phiên tòa sơ bộ - giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 12/2019, của tác giả Lê Thanh Phong. Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của PLTTHS của các quốc gia, xuất phát từ những quy định mới của BLTTHS 2015 và thực tiễn quá trình điều tra, truy tố, xét xử tác giả bài viết đã kiến nghị cần bổ sung quy định về phiên tòa sơ bộ vào BLTTHS. Dựa trên kết quả nghiên cứu và đề xuất này, tác giả tiếp tục kiến nghị giải pháp hoàn thiện cơ chế thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong giai đoạn tiền xét xử, tạo thêm cơ hội cho NBBT bảo vệ các quyền trong cả quá trình TTHS.
- Bài viết “Một số kiến nghị hoàn thiện quy định về thời hạn tạm giam trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015” của tác giả Hoàng Tám Phi, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6/2019 có nêu tạm giam là biện pháp nghiêm khắc nhất tước đi quyền tự do thân thể và một số QCD của NBBT và thời hạn áp dụng biện pháp tạm giam được quy định ở nhiều điều luật khác nhau trong BLTTHS 2015 tương ứng với từng giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Đồng thời tác giả bài viết cũng chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quy định về thời hạn tạm giam của BLTTHS 2015.