phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, hình, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các công trình nghiên cứu đã công bố của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo, và phụ lục, Luận án đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng nhƣ sau: - C ƣơn 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề của luận án. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về FDI từ TNCs vào ngành công nghiệp ô tô Việt Nam. Thực trạng FDI của các TNCs vào ngành công nghiệp tô Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2019.
Một số giải pháp chủ yếu thu hút FDI của TNCs vào ngành công nghiệp ô tô Việt Nam thời gian tới. 5 n C ƣơn 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ CỦA LUẬN ÁN 1. Các côn trìn n i n cứu li n quan đến đầu tƣ trực tiếp của các côn t xu n quốc ia v o Việt Nam 1. Các công trình nghiên cứu trong nước - Trong cuốn “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay”, tác giả Trần Quang Lâm (2006) [39] cho rằng, trong xu thế hội nhập quốc tế và cách mạng khoa học - công nghệ diễn ra mạnh mẽ, sự di chuyển các nguồn lực, trong đó có FDI, giữa các quốc gia ngày càng có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mọi quốc gia, đặc biệt đối với ở các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam.
Quốc gia nào thu hút đƣợc nhiều nguồn vốn quốc tế và sử dụng có hiệu quả thì có cơ hội tăng trƣởng kinh tế, phát triển đất nƣớc. Qua gần 20 năm (từ năm 1988, khi Luật đầu tƣ nƣớc ngoài có hiệu lực) đến nay kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đã khẳng định đƣợc vị trí của mình trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta. Khu vực kinh tế này đã có những đóng góp quan trọng cho tăng trƣởng GDP, cho đầu tƣ phát triển xã hội, cho kim ngạch xuất khẩu, tổng giá trị sản xuất công nghiệp và tạo thêm việc làm. Tuy vậy, theo tác giả, mặc dù Đảng và Nhà nƣớc ta luôn chủ trƣơng “Tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài phát triển thuận lợi”, song ngoài một số TNCs từ Nhật Bản, Hàn Quốc và Đông Nam Á với số vốn không lớn, các TNCs từ Mỹ và EU còn rất hạn chế.
Do đó, các doanh nghiệp FDI chƣa thực sự có sức lan toả mạnh mẽ về công nghệ, nên chƣa giúp các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam tham gia sâu đƣợc vào chuỗi giá trị toàn cầu. Để khắc phục tình trạng đó, từ kinh nghiệm thu hút FDI của một số nƣớc nhƣ Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, và xuất phát từ các vấn đề thực tế của của đất nƣớc, tác giả Trần Quang Lâm cho rằng, cần thiết phải “cải thiện môi trƣờng kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, nhất là đầu tƣ từ các TNCs lớn và mạnh”. 6 n - Trong báo cáo tổng kết “20 năm đầu tư nước ngoài: Nhìn lại và hướng tới”, Cục đầu tƣ nƣớc ngoài (2008) [19] khẳng định, việc xây dựng và ban hành Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài năm 1987 đã tạo ra một bƣớc ngoặt lớn về tƣ tƣởng kinh tế trong lịch sử Việt Nam thời hiện đại, vì nó tạo ra nền tảng pháp lý cho việc hợp tác làm ăn với nƣớc ngoài, một vấn đề còn quá mới mẻ vào thời điểm đó. Kể từ đó, dòng vốn FDI bắt đầu chảy vào Việt Nam, trở thành một động lực quan trọng, không thể thiếu cho công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế đất nƣớc trong bối cảnh hội nhập sâu rộng với thế giới.
Báo cáo đã có những đánh giá tổng quát về hoạt động thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, báo cáo đã rút ra một số bài học quý giá cho quá trình hội nhập, trong đó bài học lớn nhất là phải mở cửa để thu hút FDI, đặc biệt là FDI của các TNCs lớn, để vừa nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam, vừa đƣa các doanh nghiệp và các ngành công nghiệp Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. - Hoàng Thị Bích Loan, trong công trình “Thu hút đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia vào Việt Nam” (2008) [47], cho rằng, trong quá trình TCH và HNQT sâu rộng, TNCs có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thế giới, đặc biệt đối với quá trình công nghiệp hóa của các nƣớc đang phát triển và hiện nay TNCs đã thâm nhập vào hầu hết các quốc gia, là lực lƣợng chính phân phối các nguồn lực, chuyển giao công nghệ và lƣu chuyển hàng hoá,… từ khu vực này đến khu vực khác trên phạm vi toàn cầu. Sự phát triển của các quốc gia luôn chịu sự chi phối ở mức độ khác nhau bởi TNCs, mà đặc biệt là ở sự gia tăng lƣợng FDI.
Đối với Việt Nam, để đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nƣớc thì vai trò của nguồn vốn FDI từ TNCs càng trở nên có ý nghĩa quan trọng và cần thiết. Tuy vậy, FDI của TNCs không chỉ tạo ra cơ hội mà cả những thách thức với tất cả các nƣớc đang phát triển cũng nhƣ đối với Việt Nam. Trên cơ sở trình bày vai trò của TNCs trong lƣu chuyển FDI toàn cầu và chiến lƣợc FDI của TNCs, công trình đã phác họa đƣợc toàn cảnh thực trạng FDI của TNCs vào Việt Nam gần 20 năm (đến năm 2005-06), đặc biệt là giai đoạn từ sau 7 n khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á (1997) để rút ra những mặt tích cực và hạn chế trong việc thu hút FDI từ TNCs vào Việt Nam vào đầu thế kỷ XXI. Từ đó, tác giả đã dự báo triển vọng thu hút FDI của TNCs vào Việt Nam đến năm 2020, xác định phƣơng hƣớng, đề xuất một số giải pháp giúp Việt Nam thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI của TNCs.
- Trong cuốn sách “Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam: Lý luận và thực tiễn”, tác giả Phùng Xuân Nhạ (2013) [57] đã hệ thống hóa và cập nhật các vấn đề lý luận và thực tiễn về FDI ở Việt Nam trong bối cảnh HNKTQT, đặc biệt giai đoạn từ khi ban hành Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài đến đầu những năm 2010. Theo tác giả, do kiến thức và kinh nghiệm của Việt Nam về FDI còn hạn chế nên nhiều quy định của Luật chƣa phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn đất nƣớc, nên không thể cạnh tranh đƣợc với chiến lƣợc thu hút nguồn vốn này cho phát triển kinh tế của các quốc gia khác trong khu vực. Do đó, để có thể hoạch định đƣợc các chiến lƣợc thu hút hiệu quả các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, theo tác giả cần làm rõ các luận cứ khoa học của các chính sách cũng nhƣ thực trạng hoạt động FDI ở Việt Nam trong hơn 20 năm (đến năm 2010). Thực tế, các chính sách thu hút FDI của Việt Nam còn thiên về lƣợng hơn là chất, hầu nhƣ chƣa chú trọng nhiều đến sự phát triển bền vững.
Điều đó đƣợc thể hiện khá rõ ở việc giá trị gia tăng trong các sản phẩm của FDI ở Việt Nam còn thấp, ít sự liên kết giữa khu vực có vốn FDI với các doanh nghiệp nội địa, phần lớn công nghệ đƣợc chuyển giao còn ở trình độ trung bình và thấp so với thế giới và ít thân thiện với môi trƣờng. Do đó, theo tác giả, để thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI, trong quá trình điều chỉnh chính sách, biện pháp cần có sự hợp tác chặt chẽ với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, giữa các bộ, ngành trong việc đƣa ra những kế hoạch hành động cụ thể và việc điều chỉnh và thực thi chính sách cần phải căn cứ vào các thông tin đáng tin cậy, cập nhật, các phân tích khách quan, khoa học, và có tính thực tiễn cao. - Trong đề tài “Nghiên cứu điều chỉnh chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam đến năm 2020”, Nguyễn Thị Tuệ Anh và các tác giả (2014) [3] đã phân tích thực trạng FDI và đánh giá chính sách FDI giai đoạn từ 1988 8 n - 2013 ở các khía cạnh nhƣ chính sách thu hút, sử dụng và tổ chức thực hiện FDI. Xuất phát từ cơ sở lý luận liên quan đến điều chỉnh chính sách FDI đối với các nƣớc đang phát triển, đề tài cũng phân tích những kinh nghiệm quốc tế trong điều chỉnh chính sách ở các quốc gia Malaysia, Trung Quốc và Hàn Quốc và cho thấy, các quốc gia này đều rất chủ động trong thu hút và sử dụng FDI, nhất là của các TNCs.
Từ đó, các tác giả đã tập trung đánh giá thực trạng chính sách FDI của Việt Nam, trên cơ sở đó, chỉ ra những mặt đƣợc và chƣa đƣợc trong hệ thống chính sách hiện hành đối với thu hút và sử dụng vốn FDI. Thông qua các mô hình phân tích định lƣợng, đề tài cho thấy, doanh nghiệp trong nƣớc ít nhận đƣợc những tác động tích cực từ FDI, nhƣng lại nhận đƣợc tác động tiêu cực (âm) do cạnh tranh. Một nguyên nhân quan trọng hạn chế tác động tích cực đó là bản thân các doanh nghiệp trong nƣớc có mối liên kết sản xuất yếu với doanh nghiệp FDI và FDI của các TNCs vào Việt Nam còn ít và quy mô nhỏ. Từ những kiến giải đó, các tác giả cho rằng: Việc thu hút FDI cần theo hƣớng chọn lọc các dự án có chất lƣợng, sử dụng công nghệ cao và thân thiện với môi trƣờng, muốn vậy phải tập trung thu hút các TNCs lớn có tầm ảnh hƣởng sâu rộng; Tăng cƣờng các dự án thúc đẩy đƣợc doanh nghiệp trong nƣớc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu; Thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài phải phù hợp với lợi thế của từng vùng; Khung điều chỉnh chính sách đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài cần gắn với thúc đẩy các doanh nghiệp trong nƣớc; Việc điều chỉnh chính sách phải có những quy định cụ thể các lĩnh vực khuyến khích đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, đề xuất lộ trình và các điều kiện để thực hiện các đề xuất chính sách đó.
- Trong công trình Chuỗi giá trị toàn cầu của các tập đoàn xuyên quốc gia - Những tiếp cận thực tiễn từ Trung Quốc (2014), tác giả Nguyễn Việt Khôi [37] cho rằng ngày nay, khái niệm chuỗi giá trị trở nên phổ biến đối với mọi tầng lớp, không chỉ giới tƣ vấn, nghiên cứu, mà ngay cả trong cộng đồng xã hội.