Luận án tiến sĩ: Đánh giá hiệu quả liệu pháp thư giãn trong điều trị RLLLT

Luận án tiến sĩ phân tích hiệu quả của liệu pháp thư giãn luyện tập trong điều trị rối loạn lo âu lan tỏa, cung cấp cái nhìn sâu sắc và ứng dụng thực tiễn.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Tâm thần

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

177
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. TỔNG QUAN RỐI LOẠN LO ÂU LAN TỎA

1.2. Khái niệm rối loạn lo âu lan tỏa

1.3. Dịch tễ RLLALT

1.4. Bệnh nguyên, bệnh sinh RLLALT

1.5. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG RLLALT

1.6. LIỆU PHÁP THƯ GIÃN - LUYỆN TẬP TRONG ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LO ÂU LAN TỎA

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3. Thiết kế nghiên cứu

2.4. QUI TRÌNH NGHIÊN CỨU. Mô tả đặc điểm lâm sàng RLLALT

2.5. Điều trị bằng liệu pháp thư giãn - luyện tập

2.6. Theo dõi tại các thời điểm điều trị

2.7. ĐO LƯỜNG SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU

2.8. CÁC BIẾN SỐ, CHỈ SỐ VÀ PHƯƠNG PHÁP THU THẬP

2.9. NHẬP VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU

2.10. VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU. Tính tự nguyện

2.11. Tính bảo mật

2.12. Tính minh bạch

2.13. Đạo đức của nhà nghiên cứu

2.14. HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU, SAI SỐ VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

2.15. Hạn chế của nghiên cứu

2.16. Biện pháp khắc phục

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG RLLALT

3.3. Đặc điểm tiền sử, bệnh sử bệnh nhân nghiên cứu

3.4. Đặc điểm lâm sàng RLLALT theo ICD 10

3.5. HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BẰNG LIỆU PHÁP THƯ GIÃN LUYỆN TẬP

3.5.1. Hiệu quả điều trị triệu chứng lo âu tại các thời điểm điều trị

3.5.2. Hiệu quả điều trị các triệu chứng khác tại các thời điểm

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

4.1.1. Đặc điểm tuổi của bệnh nhân nghiên cứu

4.1.2. Đặc điểm giới của bệnh nhân nghiên cứu

4.1.3. Đặc điểm trình độ học vấn của bệnh nhân nghiên cứu

4.1.4. Đặc điểm tình trạng hôn nhân của bệnh nhân nghiên cứu

4.1.5. Đặc điểm nghề nghiệp của bệnh nhân nghiên cứu

4.1.6. Đặc điểm địa dư và dân tộc của bệnh nhân nghiên cứu

4.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG RLLALT

4.2.1. Đặc điểm tiền sử, bệnh sử bệnh nhân nghiên cứu

4.2.2. Đặc điểm lâm sàng RLLALT theo ICD 10

4.3. HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BẰNG LIỆU PHÁP THƯ GIÃN LUYỆN TẬP

4.3.1. Hiệu quả điều trị triệu chứng lo âu tại các thời điểm điều trị

4.3.2. Hiệu quả điều trị các triệu chứng cơ thể và tâm thần của RLLALT tại các thời điểm

4.3.3. Một số kết quả khác trong nghiên cứu

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về rối loạn lo âu lan tỏa và liệu pháp thư giãn

Rối loạn lo âu lan tỏa (RLLALT) là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến, đặc trưng bởi tình trạng lo âu kéo dài và không kiểm soát được. Theo nghiên cứu, RLLALT có thể gây ra nhiều triệu chứng khác nhau, từ tâm lý đến thể chất. Liệu pháp thư giãn luyện tập đã được chứng minh là một phương pháp hiệu quả trong việc điều trị RLLALT. Nghiên cứu này sẽ đánh giá hiệu quả của liệu pháp này trong việc giảm triệu chứng lo âu.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của rối loạn lo âu lan tỏa

RLLALT được định nghĩa là tình trạng lo âu kéo dài, không khu trú vào một tình huống cụ thể nào. Các triệu chứng của RLLALT bao gồm lo âu, căng thẳng, và các triệu chứng thể chất như đau đầu, mệt mỏi. Theo ICD-10, RLLALT có mã bệnh F41.1 và có thể gây ra nhiều khó khăn trong việc chẩn đoán và điều trị.

1.2. Tác động của rối loạn lo âu lan tỏa đến cuộc sống

RLLALT không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý mà còn tác động đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng người mắc RLLALT thường gặp khó khăn trong công việc, học tập và các mối quan hệ xã hội. Việc điều trị kịp thời và hiệu quả là rất cần thiết để cải thiện tình trạng này.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị rối loạn lo âu lan tỏa

Mặc dù có nhiều phương pháp điều trị cho RLLALT, nhưng việc lựa chọn phương pháp phù hợp vẫn là một thách thức lớn. Các liệu pháp hóa dược thường có tác dụng phụ, trong khi liệu pháp tâm lý cần thời gian dài để phát huy hiệu quả. Điều này đặt ra yêu cầu cần thiết cho việc tìm kiếm các phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả hơn.

2.1. Những khó khăn trong việc chẩn đoán RLLALT

Chẩn đoán RLLALT thường gặp khó khăn do triệu chứng đa dạng và dễ nhầm lẫn với các rối loạn khác. Nhiều bệnh nhân đến khám vì các triệu chứng thể chất mà không nhận ra rằng họ đang mắc RLLALT. Việc này dẫn đến chẩn đoán muộn và điều trị không hiệu quả.

2.2. Tác động của liệu pháp hóa dược và tâm lý

Liệu pháp hóa dược có thể giúp giảm triệu chứng nhanh chóng nhưng thường đi kèm với tác dụng phụ. Ngược lại, liệu pháp tâm lý cần thời gian dài để phát huy hiệu quả. Sự kết hợp giữa hai phương pháp này có thể mang lại kết quả tốt hơn, nhưng vẫn cần nghiên cứu thêm để xác định phương pháp tối ưu.

III. Phương pháp liệu pháp thư giãn luyện tập trong điều trị RLLALT

Liệu pháp thư giãn luyện tập đã được áp dụng rộng rãi trong điều trị RLLALT. Phương pháp này không chỉ giúp giảm triệu chứng lo âu mà còn cải thiện sức khỏe tâm lý tổng thể. Nghiên cứu cho thấy rằng liệu pháp này có thể giúp bệnh nhân cảm thấy thoải mái hơn và giảm căng thẳng hiệu quả.

3.1. Các kỹ thuật thư giãn hiệu quả

Có nhiều kỹ thuật thư giãn khác nhau như thiền, yoga, và thở sâu. Những kỹ thuật này giúp bệnh nhân kiểm soát cảm xúc và giảm lo âu. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc thực hành thường xuyên các kỹ thuật này có thể cải thiện đáng kể triệu chứng RLLALT.

3.2. Tác động của liệu pháp thư giãn đến sức khỏe tâm lý

Liệu pháp thư giãn không chỉ giúp giảm triệu chứng lo âu mà còn cải thiện chất lượng giấc ngủ và tăng cường sức khỏe tâm lý. Nghiên cứu cho thấy rằng bệnh nhân thực hiện liệu pháp thư giãn thường xuyên có cảm giác hạnh phúc hơn và ít bị căng thẳng hơn.

IV. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả điều trị RLLALT bằng liệu pháp thư giãn

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng liệu pháp thư giãn luyện tập có hiệu quả trong việc giảm triệu chứng lo âu ở bệnh nhân RLLALT. Kết quả cho thấy rằng bệnh nhân tham gia liệu pháp này có sự cải thiện rõ rệt về tâm lý và thể chất. Điều này mở ra hướng đi mới trong điều trị RLLALT.

4.1. Đánh giá hiệu quả điều trị qua các chỉ số tâm lý

Các chỉ số tâm lý như thang đo lo âu Hamilton (HAM-A) cho thấy sự giảm đáng kể triệu chứng lo âu sau khi áp dụng liệu pháp thư giãn. Nghiên cứu cho thấy rằng 70% bệnh nhân có sự cải thiện rõ rệt sau 8 tuần điều trị.

4.2. Ứng dụng thực tiễn của liệu pháp thư giãn

Liệu pháp thư giãn luyện tập có thể được áp dụng rộng rãi trong các cơ sở y tế và trung tâm tâm lý. Việc đào tạo kỹ thuật thư giãn cho bệnh nhân có thể giúp họ tự quản lý triệu chứng lo âu hiệu quả hơn.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu về RLLALT

Nghiên cứu về RLLALT và liệu pháp thư giãn luyện tập mở ra nhiều triển vọng trong điều trị rối loạn lo âu. Cần tiếp tục nghiên cứu để xác định các phương pháp điều trị hiệu quả hơn và phù hợp với từng bệnh nhân. Việc áp dụng liệu pháp thư giãn có thể là một bước tiến quan trọng trong việc cải thiện sức khỏe tâm lý cho bệnh nhân RLLALT.

5.1. Tương lai của liệu pháp thư giãn trong điều trị RLLALT

Liệu pháp thư giãn có tiềm năng lớn trong việc điều trị RLLALT. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định hiệu quả lâu dài của phương pháp này và cách thức áp dụng trong thực tế.

5.2. Khuyến nghị cho nghiên cứu tiếp theo

Cần có các nghiên cứu sâu hơn về tác động của liệu pháp thư giãn đối với các triệu chứng khác của RLLALT. Việc kết hợp liệu pháp thư giãn với các phương pháp điều trị khác có thể mang lại hiệu quả tốt hơn cho bệnh nhân.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ đánh giá hiệu quả điều trị rối loạn lo âu lan tỏa bằng liệu pháp thư giãn luyện tập

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN RỐI LOẠN LO ÂU LAN TỎA 1. Khái niệm rối loạn lo âu lan tỏa RLLALT được xếp vào nhóm rối loạn lo âu có mã bệnh F41.1 thuộc chương “Các rối loạn bệnh tâm căn có liên quan đến stress và dạng cơ thể” trong Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn Tâm thần và hành vi. Nét chính của RLLALT là lo âu quá mức, không kiểm soát được sự lo lắng, lan tỏa nhiều chủ đề nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày, không khư trú vào tình huống cụ thể và kéo dài dai dẳng ít nhất 6 tháng.

Kèm theo triệu chứng lo âu là nhiều triệu chứng cơ thể và tâm thần như các triệu chứng tim mạch, thần kinh, tiêu hóa, căng thẳng tâm thần, rối loạn giấc ngủ [2]. Dịch tễ RLLALT 1. Tỉ lệ mắc RLLALT Nghiên cứu dịch tễ về RLLALT cho các tỉ lệ khác nhau khi sử dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán khác nhau (DSM và ICD). Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM-III [6] Nghiên cứu dịch tễ RLLALT của Blazer tại Mỹ cho tỉ lệ mắc RLLALT trong 1 năm là 3,8%, mắc suốt cuộc đời dao động từ 4,1% đến 6,6% [7], [8],[9].

Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM-III-R [10] Nghiên cứu dịch tễ RLLALT của Kessler tại Mỹ cho thấy tỉ lệ mắc RLLALT trong 12 tháng là 3,1% và trong suốt cuộc đời là 5,1% [11]. Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM-IV [12] Năm 2000, một nghiên cứu dịch tễ các rối loạn tâm thần ở 6 quốc gia Châu Âu cho thấy tỉ lệ mắc RLLALT trong 12 tháng là 1% và trong suốt cuộc đời là 2,8% [13]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của ICD – 10[14] Nghiên cứu dịch tễ RLLALT của Connell tại bắc Ai Len cho tỉ lệ mắc RLLALT trong 1 tháng là 0,2%, trong 1 năm là 0,2% [15]. Như vậy, các nghiên cứu tiến hành ở các vùng địa lý khác nhau, sử dụng bảng phỏng vấn đánh giá, tiêu chuẩn chẩn đoán khác nhau, cho các tỉ lệ RLLALT khác nhau.

Nhìn chung, các nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mắc RLLALT cao trong cộng đồng. Tuổi mắc RLLALT Nghiên cứu dịch tễ RLLALT tại 130 địa điểm ở Đức theo tiêu chuẩn chẩn đoán của ICD – 10 cho thấy tỉ lệ mắc RLLALT theo tuổi: 18-24 tuổi (1,0%), 25-34 tuổi (0,7%), 35-44 tuổi (1,5%), 45-54 tuổi (2,0%), ≥ 55 tuổi (2,2%) [16]. Nghiên cứu khảo sát sức khỏe Tâm thần ở Úc trên 10641 người với công cụ phỏng vấn CIDI theo tiêu chuẩn chẩn đoán của ICD – 10 cho kết quả tỉ lệ mắc RLLALT: 18-24 tuổi (3,0%), 25-34 tuổi (3,9%), 35- 44 tuổi (4,5%), 45-54 tuổi (4,9%), 55-64 tuổi (3,0%), ≥ 65 tuổi (1,6%) [17]. Bệnh lý đồng mắc của RLLALT Trong cuộc điều tra dịch tễ ở Mỹ, phát hiện 66,3% người RLLALT có ít nhất một đồng mắc [18].

Nghiên cứu của Robin M. Carter và cộng sự (2001) cũng cho thấy RLLALT thường đi kèm với các rối loạn khác: nghiện rượu (6,4%), nghiện thuốc lá (14%), nghiện ma túy (1,4%), giai đoạn trầm cảm (59%), trầm cảm tái diễn (36,2%), các rối loạn lo âu khác (55,9%), rối loạn hoảng sợ (21,5%), ám ảnh sợ khoảng trống (11,3%), ám ảnh sợ xã hội (28,9%), ám ảnh sợ đặc hiệu (29,3%) [16]. Bệnh nguyên, bệnh sinh RLLALT 1. Bệnh nguyên RLLALT Các yếu tố quan trọng là nguyên nhân gây ra các bệnh lý tâm căn nói chung và RLLALT nói riêng bao gồm sang chấn tâm lý, nhân cách (khả năng chống đỡ của nhân cách), môi trường và cơ thể [19].

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 * Yếu tố sang chấn tâm lý Sang chấn tâm lý được hiểu là những sự kiện, hoàn cảnh hoặc những yếu tố kích thích tác động vào tâm thần gây ra những cảm xúc mạnh, phần lớn là tiêu cực như căng thẳng, lo lắng, buồn chán. Sang chấn tâm lý có thể là nguyên nhân trực tiếp hoặc là nhân tố thúc đẩy gây ra RLLALT. Nghiên cứu của Blazer và cộng sự nhận thấy sự xuất hiện của một hoặc nhiều sự kiện, tình huống bất lợi làm tăng nguy cơ xuất hiện RLLALT [20]. Theo Brantley, nguyên nhân khởi phát và duy trì tình trạng mạn tính RLLALT là do sự gia tăng các yếu tố gây căng thẳng trong cuộc sống như các vấn đề gia đình, nhà ở, tài chính, công việc, học tập, bệnh tật và sức khỏe [21].

* Yếu tố nhân cách Sang chấn tâm lý có gây ra RLLALT hay không, phụ thuộc chủ yếu vào nhân cách. Nhân cách bao gồm nhiều thành phần khác nhau (xu hướng, khí chất, tính cách, năng lực) trong đó thành phần khí chất có ý nghĩa đặc biệt trong việc hình thành RLLALT. Khí chất là loại hình hoạt động thần kinh tương đối bền vững của cá nhân [19]. Theo Eysenck có hai yếu tố chính trong cấu trúc nhân cách là loại hình thần kinh ổn định (neuroticism) – không ổn định và tính cách hướng ngoại – hướng nội [22].

Một số tác giả cho biết RLLALT thường xuất hiện ở những người có loại hình thần kinh không ổn định [23], [24]. Trong các rối loạn lo âu, đặc biệt RLLALT, nhân cách đóng vai trò quan trọng hơn sang chấn tâm lý. Loại hình thần kinh không ổn định hay loại hình thần kinh yếu, dễ tổn thương được coi là thành tố tiên quyết trong sức chịu đựng đối với những tác động của các sự kiện, tình huống gây sang chấn tâm lý. Khả năng phản ứng chống đỡ với sang chấn tâm lý của nhân cách liên quan mật thiết đến sự nhận thức đối với sang chấn tâm lý.

Nếu nhận thức LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 tình huống không nguy hiểm và có thể chống đỡ được thì sẽ có một phản ứng thích hợp, bình thường. Nhưng nếu nhận thức tình huống là nguy hiểm và mình không thể chống đối được, thì sẽ xuất hiện một phản ứng bệnh lý. RLLALT có liên quan đến sự bất thường trong nhận thức của bệnh nhân về các mối nguy hiểm và giảm khả năng kiểm soát các tình huống. Vỏ não trước trán đảm nhiệm chức năng liên quan đến nhận thức, chú ý, hoạt động và cảm xúc.

Theo Siddiqui, vỏ não trước trán đóng một vai trò quan trọng trong việc nhận thông tin, mã hóa thông tin, lập kế hoạch, ra quyết định và dự đoán kết quả [25]. Vùng bụng vỏ não trước trán (ventromedial prefrontal cortex) có chức năng phân tích, phán đoán về các mối nguy hiểm, ức chế phản ứng cảm xúc và tự kiểm soát. Giảm hoạt động vùng bụng vỏ não trước trán dẫn đến khó khăn trong việc phân biệt giữa thông tin nguy hiểm và an toàn [26]. Nhiều báo cáo từ nghiên cứu chụp cộng hưởng từ chức năng (fMRI) cho biết có hiện tượng giảm tín hiệu vùng bụng vỏ não trước trán ở những bệnh nhân RLLALT [27],[28],[29],[30].

Nghiên cứu của Palm và cộng sự trên 15 bệnh nhân nữ được chẩn đoán RLLALT phát hiện có sự suy giảm tín hiệu BOLD tại vùng bụng vỏ não trước trán [27]. Nghiên cứu của Jiook Cha (2014) cũng phát hiện có hiện tượng giảm tín hiệu BOLD trên 32 bệnh nhân được chẩn đoán RLLALT [30]. Theo Duval 2015, sự suy giảm tín hiệu vùng vỏ não trước trán trước những “sợ hãi bình thường” dẫn tới thiếu hụt khả năng ức chế của vỏ não trước trán với các vùng não cảm xúc. Bệnh nhân ít có khả năng phán đoán giữa thông tin về mối nguy hiểm và sự an toàn [29].

Tức là, giảm khả năng nhận thức đối với các “kích thích an toàn” từ các tình huống, vấn đề bình thường trong cuộc sống hàng ngày [29],[30], [31]. Sự suy giảm khả năng kiểm soát của vỏ não trước trán có thể là nguyên nhân xuất hiện và duy trì RLLALT [29],[32]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 * Yếu tố môi trường Yếu tố môi trường cũng góp phần quan trọng trong nguyên nhân khởi phát và duy trì RLLALT. Các nhân cách hoạt động trong môi trường tác động qua lại cảm ứng lẫn nhau rất mật thiết.

Trong cùng một môi trường, khi cảm ứng những nét tiêu cực, có thể gây ra một trạng thái bệnh lí tập thể. Nhưng khi cảm ứng những nét tích cực thì mỗi nhân cách trong tập thể lại được tăng thêm sức mạnh chống lại sang chấn tâm lý [19]. Theo một số nghiên cứu, nguy cơ mắc RLLALT tăng cao ở những môi trường gia đình mà cha mẹ, họ hàng có các vấn đề lo lắng, các bệnh lý như RLLALT, trầm cảm hoặc môi trường bố mẹ sử dụng rượu và lạm dụng chất gây nghiện, bất hòa, ly hôn, không chăm sóc con, trẻ bị ngược đãi, bị bạo hành, gia đình mất bố, mẹ mất sớm [33], [34]. * Yếu tố cơ thể Cơ thể khỏe mạnh là một nhân tố tốt cho nhân cách chống đỡ với sang chấn tâm lý.

Trong những điều kiện cơ thể suy yếu do chấn thương, nhiễm khuẩn, nhiễm độc, thiếu dinh dưỡng lâu ngày, làm việc quá sức, thiếu ngủ, bệnh cơ thể nặng, có thai, sinh đẻ, nghiện rượu thì một sang chấn tâm lý nhẹ cũng có thể là nguyên nhân gây ra RLLALT [19]. Ngoài ra, nhiều bằng chứng cho thấy RLLALT có yếu tố di truyền. Nghiên cứu phả hệ trên từng cá nhân trong gia đình và trên các cặp sinh đôi cho tỉ lệ di truyền RLLALT lần lượt là 19,5 và 30% [35]. Nghiên cứu của Amin và cộng sự trên 2657 người ở Tây Nam Hà Lan phát hiện vị trí các gen quy định tính thần kinh không ổn định nằm trên các nhiễm sắc thể 19q13, 21q22 và 22q11 [36].

Một nghiên cứu phân tích gộp từ tám nghiên cứu phát hiện vị trí các gen quy định loại hình thần kinh không ổn định nằm trên các nhiễm sắc thể số 9, 11, 12 và 14 [37]. Bên cạnh đó, nghiên cứu di truyền đa nhân tố đã làm sáng tỏ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 tương đối đầy đủ về các khía cạnh của di truyền trong RLLALT. Di truyền đa nhân tố được biết đến là sự tương tác giữa gen với gen và giữa gen với môi trường để tạo ra tính trạng của cá thể hay những triệu chứng của bệnh. Một gen di truyền không thể gây ra bệnh nhưng nhiều gen cùng tác động một hướng và chịu sự tác động của môi trường có thể gây ra bệnh.

Dựa trên nghiên cứu liên kết toàn bộ gen (GWAS), Gottschalk đã tìm ra được các gen của RLLALT nhạy cảm với những trải nghiệm thời thơ ấu, các sự kiện tiêu cực trong cuộc sống hoặc những sự kiện gây căng thẳng bao gồm: 5-HTT, NPSR1, COMT, MAOA, CRHR1, RGS2. Đồng thời, tìm ra được các gen nhạy cảm với hệ thống Serotonergic và Catecholaminergic bao gồm 5-HTT, 5-HTT1A, MAOA [38].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ