Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Nông nghiệp, nông thôn là lĩnh vực quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới, chính vì vậy đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu, khảo sát của nhiều tổ chức và cá nhân trên thế giới. Tác giả chỉ rõ: trong phát triển KTNN sinh thái ở vùng nhiệt đới, có nhiều kiến thức chúng ta cần tìm hiểu sâu để sản xuất đạt năng suất và chất lượng, hiệu quả cao hơn, như: đất đai, nguồn nước, các loài sâu bệnh gây hại và dịch bệnh xuất hiện, tác động của việc lạm dụng hóa chất đến quy trình sản xuất nông nghiệp, phát triển nông nghiệp sinh thái bền vững… Tác giả khẳng định: “việc canh tác nông nghiệp theo đúng quy luật của tự nhiên sẽ giúp nhanh chóng khôi phục độ phì nhiêu của đất và cân bằng sinh thái, từ đó dẫn đến năng suất tăng lên và bền vững” [99.
Shimpei Murakami đã chia sẻ những kinh nghiệm thực tiễn trong thực hành sản xuất nông nghiệp sinh thái ở vùng nhiệt đới Bangladesh. Trên cơ sở đó, đề xuất các biện pháp thực hành nông nghiệp sinh thái và phát triển KTNN hữu cơ bền vững, như: cách thức sử dụng các loại phân bón và bảo tồn đất, xây dựng và phát triển hệ thống canh tác, quản lý dịch bệnh, tự sản xuất hạt giống… Ngô Quý Tùng (2000), Kinh tế tri thức - xu thế mới của xã hội thế kỷ XXI (La Phong dịch) [88. Tác giả khẳng định toàn cầu hoá kinh tế là xu thế không thể đảo ngược, kinh tế tri thức (Knowledge economy) ngày càng có vai trò trọng yếu quyết định đến sự phát triển. Trong điều kiện đó, các ngành kinh tế truyền thống, trong đó có ngành nông nghiệp cần phải làm gì để có thể tiếp tục phát triển, gia tăng mạnh mẽ giá trị hàng hóa và xuất khẩu.
Từ nghiên cứu n 12 thực tiễn và xu thế phát triển của ngành nông nghiệp ở Trung Quốc thời kỳ hội nhập, tác giả khẳng định xu hướng: “kỹ thuật canh tác nông nghiệp bằng máy móc sẽ thay thế kỹ thuật canh tác nông nghiệp truyền thống” [88.112], đồng thời đề xuất một số giải pháp về phát triển KTNN ứng dụng công nghệ cao, như: phát triển công nghệ sinh học trong nông nghiệp, đặc biệt là sử dụng công nghệ gen vào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng; đẩy mạnh cơ giới hóa, hiện đại hóa nông nghiệp; tổ chức quản lý và sản xuất trên quy mô lớn, hiện đại theo hướng sản xuất hàng hóa, tham gia vào chuỗi cung ứng giá trị nông sản toàn cầu… G. Tác giả đã khẳng định vai trò quan trọng của hợp tác hóa trong phát triển KTNN, đồng thời chỉ rõ: “hợp tác hóa nông nghiệp cần phải trở thành xu hướng chủ yếu trong sự phát triển của khu vực nông nghiệp” [44.12] của các quốc gia trên thế giới trong giai đoạn hiện nay. Với kinh nghiệm của nước Nga - “một trong những nước hàng đầu trên thế giới về phát triển hợp tác xã nông nghiệp” [44.2], tác giả đã phân chia ra các loại hình hợp tác và đề cập đến các khía cạnh của phát triển KTNN như: thành lập các nông trại siêu lớn, hợp tác xã tín dụng, nguồn vốn, sự giúp đỡ của Nhà nước… Trên cơ sở đó, Pavlova đã đưa ra một số giải pháp về mặt tổ chức, quản lý để thúc đẩy hợp tác hóa nông nghiệp: xây dựng cơ sở pháp luật và cơ sở thuế, dự kiến, hoạch định các điều kiện chính sách về nguồn vốn, thành lập quỹ tín dụng, mở rộng đào tạo, đào tạo lại cho các nhà lãnh đạo và chuyên gia của các hợp tác xã… Bành Kiến Cường (2012), “Ra sức phát triển nông nghiệp hiện đại trên con đường hiện đại hóa nông nghiệp đặc sắc Trung Quốc” đăng trong cuốn sách Xây dựng nông thôn mới những vấn đề lý luận và thực tiễn do Vũ Văn Phúc chủ biên [93. Trên cơ sở quan niệm về nền nông nghiệp hiện đại là “nền nông nghiệp phát triển hiệu quả cao, lấy trụ cột là các biện pháp khoa n 13 học kỹ thuật hiện đại, phương thức quản lý kinh doanh hiện đại, đầu tư các yếu tố hiện đại” [93.311], bài viết đã soi chiếu vào các đặc điểm nổi bật của thực trạng phát triển nông nghiệp Trung quốc hiện nay.
Từ đó, tác giả đã đưa ra một số biện pháp để nông nghiệp Trung Quốc tiếp tục phát triển có hiệu quả trên con đường hiện đại hóa, như: tăng cường đầu tư, trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cho nền nông nghiệp; ứng dụng phổ biến, có hiệu quả khoa học - công nghệ hiện đại vào sản xuất; đẩy mạnh phát triển thương mại, dịch vụ phục vụ nông nghiệp; đào tạo nông dân kiểu mới và nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển nông nghiệp… Masanobu Fukuoka (2015), Cuộc cách mạng Một - Cọng - Rơm (Phương Huyên dịch) [80.], đã đề cập đến sự phát triển KTNN của Nhật Bản và trên thế giới trong sự tương tác hài hòa với môi trường tự nhiên. Tác giả đã khái quát những triết lý về phát triển KTNN bền vững như: “Trong làm nông không có con đường nào khôn ngoan hơn con đường cải thiện đất một cách tổng thể” [80.39], “Trồng trọt, nuôi cá, chăn nuôi động vật, thức ăn thực tế hằng ngày, quần áo để mặc, mái nhà trên đầu, cuộc sống tinh thần - tất cả mọi thứ - phải tạo thành một thể thống nhất với tự nhiên” [80.72]… Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra quan điểm của mình về thực phẩm, nghệ thuật ẩm thực và cuộc sống. Đây sẽ là những định hướng có giá trị trong phát triển nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (2015), Kỷ yếu chia sẻ kinh nghiệm phát triển kinh tế nông nghiệp của các nước Đông Nam Á trong thời kỳ hội nhập hiện nay [201.
Kỷ yếu là tổng hợp các bài viết, các báo cáo, tham luận tại Hội thảo quốc tế về đẩy mạnh phát triển nông thôn tiểu vùng Mê-Kông dựa trên nông nghiệp công nghệ cao và du lịch bền vững được tổ chức tại Lâm Đồng, Việt Nam. Trong đó có bài viết của Chou Chadary về “Tăng cường chính sách phát triển nông nghiệp ở Campuchia” và Bounthong Bouahom về “Một số chính sách và biện pháp thúc đẩy phát triển nông thôn n 14 dựa vào nông nghiệp công nghệ cao ở Lào”. Trên cơ sở khẳng định vị trí, vai trò trọng yếu của nông nghiệp đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời sống, củng cố quốc phòng, an ninh và xuất khẩu của hai quốc gia Lào và Campuchia, các tác giả đã chỉ ra hướng đi cho phát triển KTNN trong thời gian tới. Trong đó, cần tập trung đổi mới chính sách khuyến nông, phát huy thế mạnh của từng khu vực và địa phương trong quá trình sản xuất, tăng cường các chính sách và biện pháp về công nghệ và kỹ thuật, coi đó là “con đường duy nhất để hiện đại hóa, tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và giá trị nông sản” [201.114] trong giai đoạn hiện nay.Siegel (2016), Con đường thoát hạn [98.], đã làm rõ những khắc nghiệt của thiên nhiên khu vực Trung Đông nói chung và đất nước Israel nói riêng với hơn 60% diện tích là hoang mạc, nắng nóng và khan hiếm nguồn nước.
Tuy nhiên, bằng sự sáng tạo và “liều lĩnh” của mình, họ đã tự sản xuất ra nước từ nước biển, nước lợ, nước thải sinh hoạt với cách xử lý tinh vi để phục vụ cho tưới tiêu, ứng dụng công nghệ cao trong phát triển sản xuất nông nghiệp để giảm tối đa phụ thuộc vào thiên nhiên, đặc biệt là công nghệ tưới nhỏ giọt để “hạn chế sự bay hơi và đưa nước đến cho cây ngay tại rễ của nó” [98.72], đồng thời, xuất khẩu nước sạch sang các nước láng giềng, bảo đảm an sinh xã hội và an ninh lương thực, trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu về nông nghiệp. Daniel Walker (2017), “Phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Australia và một số đề xuất cho Việt Nam” đăng trong Kỷ yếu diễn đàn kinh tế Việt Nam 2017 về phát triển nông nghiệp chất lượng, hiệu quả tại Việt Nam của Ban Kinh tế Trung ương [10. Tác giả khẳng định xu thế tất yếu hiện nay là phải áp dụng sáng tạo công nghệ, các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, tự động hóa … để xây dựng nền nông nghiệp hiện đại theo hướng sản xuất hàng hóa lớn và hội nhập, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tác giả đã nhấn mạnh và chia sẻ những kinh nghiệm của Australia trong việc hình thành và phát triển nền “nông nghiệp n 15 kỹ thuật số” [10.208] và những điều kiện, tiêu chuẩn để áp dụng vào phát triển KTNN ở Việt Nam.
Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất phải tăng cường xây dựng tinh thần hợp tác, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học - công nghệ trên lĩnh vực nông nghiệp giữa hai nước, tham gia vào chuỗi cung ứng các giá trị nông sản toàn cầu trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Các nghiên cứu ở Việt Nam 1. Các nghiên cứu chung về kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên phạm vi cả nước Nguyễn Đình Hợi (1997), Kinh tế nông nghiệp [69. Đây là cuốn sách cung cấp hệ thống những kiến thức cơ bản về phát triển KTNN, trong đó, tác giả đã tập trung nghiên cứu, làm rõ nhiều vấn đề, như: vị trí, vai trò, cơ cấu của KTNN trong hệ thống kinh tế quốc dân; việc tổ chức, quản lý, sử dụng và phát huy các nguồn lực để phát triển KTNN; cơ cấu, cách thức tổ chức các loại hình sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp… Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh về vai trò quản lý của Nhà nước trong phát triển KTNN và xây dựng nông thôn ở tầm vĩ mô.
Những nội dung này đến nay vẫn còn nguyên giá trị, tiếp tục định hướng cho quá trình phát triển KTNN và xây dựng nông thôn mới có hiệu quả ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Chu Hữu Quý, Nguyễn Kế Tuấn (Đồng chủ biên, 2001), Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn [96. Các tác giả đã chỉ rõ định hướng phát triển đến năm 2020: “chính công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn sẽ tạo ra những điều kiện, tiền đề có tính chất trọng yếu về kinh tế - xã hội cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [96.