CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ CHÍNH SÁCH ASXH ðỐI VỚI NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ðẤT ðỂ PHÁT TRIỂN CÁC KCN 1. Công nghiệp hoá, ñô thị hoá và vấn ñề nông dân mất ñất sản xuất Chuyển ñổi mục ñích sử dụng ñất là một tất yếu khách quan trong quá trình CNH- HðH. Khi nghiên cứu quy luật phổ biến về tích luỹ tư bản chủ nghĩa, ñặc biệt nghiên cứu về bí mật của tích luỹ nguyên thuỷ, về sự tước ñoạt nông dân, ñạo quân trù bị công nghiệp ngày càng sản sinh nhiều hơn… Các Mác ñã chỉ ra tính tất yếu phải thu hồi và chuyển ñổi mục ñích sử dụng ñất ñai trong quá trình CNH và hoàn thành các ñô thị khai sinh ra chủ nghĩa tư bản. Ở Việt Nam chúng ta, trong vài chục năm lại ñây (kể từ cuối thế kỷ 20), việc thu hồi và chuyển mục ñích sử dụng ñất ñai diễn ra với quy mô ngày càng rộng.
Trong văn bản và sách báo thường sử dụng cụm từ ñể mô tả quá trình này là cụm từ “Giải phóng mặt bằng” cụm từ này mô tả quá trình tạo mặt bằng ñể xây dựng các công trình kinh tế xã hội… Cụm từ trên chưa thể hiện ñúng thực chất của việc chuyển ñổi mục ñích sử dụng ñất. Nếu tiếp cận từ nội dung công việc thì chuyển ñổi mục ñích sử dụng ñất bao gồm các công việc sau: Thu hồi ñất ñai ñể giao cho các doanh nghiệp, thực hiện các dự án ñã ñược duyệt, bồi thường cho các ñối tượng có ñất bị thu hồi, giải toả các công trình trên ñất thu hồi, di chuyển các hộ dân và tái ñịnh cư cho họ, tạo việc làm, thu nhập và ổn ñịnh cuộc sống cho các hộ dân có ñất phải thu hồi. Nếu tiếp cận từ tiêu chí mục ñích, thì quá trình thu hồi và chuyển ñổi mục ñích sử dụng ñất ñai nhằm tạo ñiều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế xã hội. Ở thời ñiểm khai sinh của chủ nghĩa tư bản, quá trình thu hồi và 16 chuyển mục ñích sử dụng ñất ñai ñã tạo ra những vùng ñồng cỏ ñể chăn cừu rộng lớn, cơ sở ñể phát triển ngành công nghiệp dệt… Việc thu hồi và chuyển mục ñích sử dụng ñất ñai là nhằm phát triển các KCN, hay nói cách khác việc phát triển công nghiệp ñòi hỏi phải thu hồi và chuyển mục ñích sử dụng một số lượng lớn ñất nông nghiệp.
Thật vậy, xây dựng các nhà máy công nghiệp cần phải có mặt bằng với diện tích yêu cầu theo công nghệ sản xuất, tương tự như vậy ñể xây dựng các khu ñô thị cũng phải có mặt bằng ñể xây dựng các khu nhà ở, khu công trình công cộng, công viên cây xanh… Muốn kinh tế phát triển phải xây dựng các khu công nghiệp, mà muốn xây dựng các khu công nghiệp thì phải thu hồi ñất mà chủ yếu là ñất nông nghiệp. Việc thu hồi và chuyển mục ñích sử dụng ñất sẽ kéo theo việc người nông dân mất ñất sản xuất (mất tư liệu sản xuất nông nghiệp). Quá trình công nghiệp hoá, ñô thị hoá ñiều tất yếu xảy ra là người nông dân sẽ bị thu hồi ñất nông nghiệp, tư liệu chính ñể sản xuất ra của cải vật chất bảo ñảm cuộc sống hàng ngày của họ. Khi tư liệu sản xuất nông nghiệp không còn buộc họ phải chuyển ñổi nghề mới (phi nông nghiệp) cho bản thân và các thành viên trong gia ñình.
An sinh xã hội với người nông dân bị thu hồi ñất ñể xây dựng các KCN 1. Tổng quan về an sinh xã hội * Theo tổ chức Lao ñộng quốc tế (ILO): An sinh xã hội là một sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp ñược áp dụng rộng rãi ñể ñương ñầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất việc hoặc suy giảm nghiêm trọng nguồn thu nhập do ốm ñau thai sản, thương tật do lao ñộng, mất sức lao ñộng hay tử vong. An sinh xã hội cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia ñình nạn nhân có trẻ em [45. * Theo cơ quan phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP): 17 UNDP không ñưa ra khái niệm về ASXH, trong báo cáo “Khuôn khổ xây dựng hệ thống an sinh xã hội tổng thể ở Việt Nam” do các chuyên gia của UNDP ñưa ra tại Hội thảo khoa học 2005 ở Việt Nam thì ASXH gồm 3 thành tố quan trọng, ñó là: - Bảo hiểm xã hội ñể bảo ñảm an toàn trước các rủi ro về thu nhập và mức sống khi về già hoặc bị các tai nạn lao ñộng, bệnh nghề nghiệp và thường là các chương trình phải ñóng góp về tài chính, người lao ñộng phải ñóng góp một phần thu nhập trong quá trình lao ñộng vào quỹ BHXH và khi họ về hưu hoặc bị tai nạn lao ñộng họ ñược hưởng lương hưu hoặc trợ cấp BHXH.
- Trợ giúp xã hội: dựa vào xác ñịnh tiềm lực tài chính của người có thu nhập thấp hoặc không có thu nhập do tàn tật, mồ côi, già cả.gọi chung là ñối tượng xã hội; Nhà nước hoặc cộng ñồng có chính sách hoặc biện pháp trợ giúp ñảm bảo cuộc sống. Trợ cấp dưới hình thức chuyển khoản cho từng người, nhóm người cụ thể như người sống ñộc thân, người tàn tật, trẻ em cần sự bảo trợ. gọi chung là ñối tượng bảo trợ xã hội. - Trợ cấp dưới hình thức chuyển khoản cho từng người, thông thường là hỗ trợ cho từng nhóm người, cụ thể như: người già sống ñộc thân, người tàn tật nặng, trẻ em cần sự bảo vệ ñặc biệt, người nuôi con nhỏ… gọi chung là trợ cấp cho ñối tượng bảo trợ xã hội [45.
* Theo Ngân hàng thế giới (WB): Ngân hàng thế giới không ñưa ra khái niệm cụ thể, ASXH ñược ñề cập ñến các khía cạnh trợ giúp người nghèo nhiều hơn. Trong khuôn khổ phát triển mạng lưới ASXH mà WB ñề xuất có ñề cập tới 4 vấn ñề: - Chính sách trợ cấp người nghèo, người dễ bị tổn thương. - Tạo ñiều kiện cho người nghèo tham gia thị trường nông sản, thị trường lao ñộng. - Bảo vệ trẻ em và vị thành niên.
- Các giải pháp trợ giúp ñột xuất. 18 * Theo tài liệu của Nhật bản: Trong cuốn sách: “Kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc xây dựng hệ thống phúc lợi xã hội năm 2005” do Tiến sỹ ðỗ Thiên Kính dịch thuật. Hệ thống An sinh xã hội của Nhật Bản gồm những thành phần chính là: - Bảo hiểm xã hội. - Chăm sóc sức khoẻ cho người già, chăm sóc y tế và sức khoẻ cho cộng ñồng.
- Phúc lợi xã hội. - Trợ giúp cộng ñồng. Bảo hiểm xã hội là thành phần lớn nhất bao gồm: các khoản trợ cấp, bảo hiểm sức khoẻ, bảo hiểm việc làm và bảo hiểm bồi thường tai nạn lao ñộng. Bên cạnh khái niệm về ASXH, giới học giả Nhật Bản còn sử dụng thuật ngữ ñảm bảo xã hội, phúc lợi xã hội và ñang còn sự tranh luận.
Trường phái thứ nhất cho rằng: ðảm bảo xã hội trong ñó có ASXH và phúc lợi xã hội. Ngược lại, trường phái thứ hai cho rằng: phúc lợi xã hội trong ñó ñã bao gồm cả ñảm bảo xã hội và ASXH; trường phái thứ ba dung hoà, cho rằng cả 3 thuật ngữ trên có nội hàm như nhau. * Theo Hiệp hội An sinh thế giới (ISSA): Trong Cuốn sách “TOWARD NEW FOUND COFIDENCE” xuất bản năm 2005 (tạm dịch: Tin tưởng hướng tới những phát hiện mới) của Hiệp hội An sinh thế giới cho rằng: ASXH là sự kết hợp các thành tố (hợp phần) của chính sách công; có thể ñiều chỉnh ñáp ứng nhu cầu của những người công nhân; các công dân trong bối cảnh toàn cầu với sự thay ñổi về kinh tế, xã hội, nhân khẩu học chưa từng xảy ra. Theo các phát hiện mới này thì ASXH là các thành tố của hệ thống chính sách công liên quan ñến sự bảo ñảm an toàn cho tất cả các thành viên xã hội chứ không chỉ có công nhân.
Những ưu thế mà Hiệp hội An sinh thế giới quan tâm nhiều là: chăm sóc 19 sức khoẻ thông qua BHYT, hệ thống lương hưu và chăm sóc tuổi già, phòng chống tai nạn lao ñộng, bệnh nghề nghiệp và trợ giúp xã hội. * Theo các tài liệu của Mỹ về ASXH: Phạm vi hệ thống ASXH rộng hơn, bao gồm các thành viên trong xã hội, nguồn quỹ ñược sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, trong hệ thống của Hoa Kỳ, ASXH không bao gồm BHYT mà BHYT là hệ thống bảo hiểm tư nhân, nhưng lại mang tính chất bắt buộc ñối với các bộ phận dân cư. Nhà nước có hai chương trình ñặc biệt dành cho hai ñối tượng, ñó là: Madicare dành cho người già và Madiaid dành cho người tàn tật; ñây là hai nhóm ñối tượng ñược coi là không có khả năng tự chủ về tài chính nên ñược Nhà nước bao cấp về chăm sóc sức khoẻ.
Như vậy, khái niệm ASXH bao gồm các chính sách nhằm chống lại sự rủi ro ñối với các ñối tượng xã hội, bao gồm Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế và các chế ñộ trợ giúp xã hội. * Theo các chuyên gia Việt Nam: Theo các tài liệu hiện có thì các chuyên gia Việt Nam có 2 khái niệm về ASXH; các quan niệm này ñều có chung một cách tiếp cận là dựa vào khái niệm chính thống của ILO và tình hình thực tiễn ở Việt Nam. Quan niệm thứ nhất cho rằng: ASXH có cấu trúc gồm 3 hợp phần cơ bản. Quan niệm này cho rằng ASXH chính là An ninh xã hội vì theo nguyên gốc tiếng anh là “Social Security” và như vậy nó sẽ làm rõ hơn tầm quan trọng của chính sách này và nó ñược thiết kế theo nguyên tắc: - Phòng ngừa rủi ro.
- Giảm thiểu rủi ro. - Trợ giúp người gặp rủi ro. - Bảo vệ người gặp rủi ro. Hệ thống ASXH theo quan niệm này gồm ba hợp phần chính là: 20 - Hệ thống chính sách và các chương trình về thị trường lao ñộng, trợ giúp các ñối tượng yếu thế tham gia vào thị trường lao ñộng, ñây ñược coi là tầng phòng ngừa trong toàn bộ hệ thống ASXH.
- Hệ thống chính sách BHXH ñược coi là xương sống của toàn bộ hệ thống ASXH quốc gia; vì ñây là cấu phần mà “chi” dựa trên cơ sở “thu”. Hệ thống BHXH tạo cơ sở cho sự ổn ñịnh lâu dài của hệ thống An sinh quốc gia. - Hệ thống chính sách và chương trình trợ giúp xã hội; các chương trình trợ giúp này bao gồm của cả Nhà nước và xã hội.