phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận án được trình bày trong 4 chương 11 tiết. 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. THÀNH QUẢ NGHIÊN CỨU NGOÀI NƢỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến chức năng của cán bộ quản lý nhà nƣớc về kinh tế Có nhiều quan niệm khác nhau về chức năng của CB QLNN về KT.
Nhánh tiếp cận về quản lý, quản trị chú trọng công việc mà CB quản lý phải làm. Nhánh tiếp cận kinh tế, chính trị nhấn mạnh phạm vi can thiệp của nhà nước, lấy đó làm căn cứ xác định chức năng của CB QLNN về KT. Bản thân cách tiếp cận quản lý cũng bao gồm nhiều quan điểm khác nhau.Fayol cho rằng, CB quản lý KT phải làm các chức năng, đó là dự báo, lập kế hoạch, phối hợp, điều hành và kiểm tra. Ông cũng cho rằng, quản lý KT chỉ là một trong nhiều chức năng của một tổ chức KT, là chức năng phối hợp các chức năng khác để tổ chức KT đạt được kết quả tốt nhất [73, tr.
Với cách tiếp cận quản lý như một hình thức tổ chức quá trình hoạt động phối hợp của nhiều người, C. Barnard cho rằng, người quản lý phải làm các công việc: xác lập mục tiêu, thiết kế cơ cấu tổ chức, bố trí nhân viên, phối hợp hành động của nhân viên, tạo động lực cho họ làm việc tốt [73, tr. Tiếp cận quản lý như một hệ thống các hoạt động kỹ thuật mà bất kỳ CB quản lý nào cũng phải thực hiện, H. Simon cho rằng, công việc của người CB quản lý là ra quyết định (bao gồm các khâu: thu thập thông tin; thiết kế quyết định, lựa chọn giải pháp, thẩm định và phê chuẩn) và tổ chức thực hiện các quyết định đó [73, tr.E Rosezweig theo quan điểm quyền biến cho rằng, quản lý là một tập hợp những hệ thống con trong một hệ thống hiệp tác nhằm đạt được sự nhất trí cao giữa tổ chức với môi trường và các hệ thống con của nó.
Quan điểm hệ thống này coi CB quản lý như là đầu mối liên kết các hệ thống con với nhau và với môi trường [73, tr. Cách tiếp cận KT đối với chức năng của CB QLNN về KT khá khác nhau. Trường phái KT cổ điển cho rằng, Nhà nước chỉ nên đảm nhiệm chức năng giữ gìn trật tự xã hội và quốc phòng, do đó chức năng KT của nhà nước đương nhiên là thu thuế đủ chi dùng cho bộ máy nhà nước. Trường phái Macxit đề cao vai trò tổ chức toàn diện của nhà nước, và do đó trao cho CB QLNN về KT khá nhiều chức năng như lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực, tổ chức sản xuất và phân phối sản phẩm.
Trường phái triết trung ủng hộ bàn tay vô hình của nhà nước trong nền kinh tế thị trường (KTTT), nhưng chính họ cũng có quan điểm rất khác nhau. Trường phái Keyness ủng hộ nhà nước sử dụng chính sách tài khóa. Trường phái trọng tiền ủng hộ nhà nước sử dụng chính sách tiền tệ. Trường phái nhà nước phúc lợi ủng hộ quan điểm nhà nước can thiệp mạnh vào lĩnh vực phân phối….
Dù tiếp cận theo cách nào thì điểm chung của các nhà khoa học là đều thừa nhận nhà nước và qua đó là CB QLNN về KT phải thực hiện một số chức năng nhất định trong quản lý nền KTTT hiện đại. Tình hình nghiên cứu liên quan đến chất lƣợng cán bộ quản lý nhà nƣớc về kinh tế Hầu hết các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý đều đề cập đến tố chất của CB quản lý KT. Fayol đề cao các tố chất của người quản lý như sức khỏe tốt, trí tuệ thông minh, năng lực quản lý, kiến thức chung vững vàng, hiểu biết rộng và kinh nghiệm hoạt động chuyên môn [36, tr. 7 Tiếp cận vấn đề QLNN trong chủ nghĩa tư bản, Max Weber cho rằng, CB quản lý phải là những nhà chuyên môn tài giỏi, thành thạo công việc của mình [73, tr.
Schmidt trong tác phẩm “Làm thế nào để lựa chọn mô thức lãnh đạo” [73, tr. 166-167], đã căn cứ theo mức độ vận dụng chức quyền của CB quản lý để xác định rằng, có nhiều phong cách quản lý khác nhau từ độc đoán gia trưởng, tự mình quyết định mọi vấn đề đến ủy quyền rộng rãi cho cấp dưới ra quyết định. Linkert trong tác phẩm “Mô thức mới của quản lý” [73, tr. 210], đã khái quát hóa 4 phương thức hành động của giới quản lý, đó là: Chuyên chế mệnh lệnh; mệnh lệnh ôn hòa; quản lý kiểu hiệp thương và quản lý với sự tham gia của cấp dưới.
Ông cũng cho rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý ngoài phong cách, mà một số trong đó là: quan niệm của người quản lý; môi trường làm việc; chuẩn mực hành vi của nhân viên; mối quan hệ với cấp trên và cá tính của người quản lý. Fiedler ủng hộ thuyết quyền biến và cho rằng, phong cách lãnh đạo phụ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện [73, tr. Drucker nhấn mạnh rằng, CB quản lý phải có 4 kỹ năng: Đưa ra các quyết sách hiệu quả; trao đổi thông tin trong và ngoài tổ chức; vận dụng một cách đúng đắn công cụ kiểm tra, điều khiển và đánh giá; vận dụng một cách đúng đắn công cụ phân tích [73, tr. Koontz và đồng sự cho rằng, những người quản lý có hiệu quả cần có các kỹ năng khác nhau và các kỹ năng này cũng sẽ thay đổi về tầm quan trọng đối với các cấp bậc quản lý khác nhau trong một tổ chức.
Những kỹ năng mà CB quản lý cần có là: Kỹ năng kỹ thuật (là kiến thức và tài năng trong các hoạt động chuyên môn do họ phụ trách); Kỹ năng quan hệ (là khả năng làm việc với con người); Kỹ năng nhận thức (là tri thức và kỹ năng nhìn nhận tổ chức cả về chiều rộng lẫn chiều sâu); Kỹ năng thiết kế (giải quyết vấn 8 đề tối ưu). Các tác giả này cũng nhấn mạnh CB quản lý phải có các tố chất như có tham vọng, có khả năng hiểu được người khác, chính trực và trung thực, kinh nghiệm… [ 38, tr. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đào tạo cán bộ quản lý nhà nƣớc về kinh tế Hầu hết các nhà khoa học đều ủng hộ quan điểm phải đào tạo CB quản lý. Fayol cho rằng phải đưa chương trình đào tạo CB quản lý vào các trường học, kể cả đại học và hướng nghiệp ở phổ thông [36, tr.
F follet cũng là người tin rằng, có thể đào tạo được CB quản lý [36, tr. Gregor có ý tưởng khá độc đáo về sự định hình cách thức hành động của bản thân CB quản lý. Ông cho rằng hành động của CB quản lý là kết quả tác động của một tập hợp các yếu tố bao gồm như hành vi của nhân viên, nhiệm vụ phải hoàn thành, cơ cấu tổ chức, phong cách lãnh đạo và môi trường. Do vậy, bất kỳ một CB quản lý nào cũng phải được đào tạo để biết cách làm chủ các biến số đó [36, tr.
Các tác giả của cuốn sách “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” [40, tr. 437-438] cũng nhấn mạnh rằng, cần chú trọng đào tạo CB quản lý. Họ cho rằng, có thể đào tạo CB bằng hai phương thức: tại chỗ (thang bậc công việc, luân chuyển, trợ lý, ủy quyền tạm thời, tham gia ủy ban và hội đồng…) và đào tạo tập trung các tri thức và kỹ năng cần thiết. NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NƢỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến vai trò của cán bộ quản lý nhà nƣớc về kinh tế Về cơ bản, các công trình đã công bố ở trong nước đều đề cao vai trò của CB QLNN về KT ở nước ta. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi 9 trọng vai trò của CB, coi CB là cái gốc của thành công và thất bại, là cầu nối giữa Nhà nước, Đảng với nhân dân [32, tập 5, tr. Luận án tiến sĩ Kinh tế của tác giả Phan Đình Quyền với đề tài “Phát huy vai trò quản lý KT của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” [49] đã chứng minh Nhà nước ta có vai trò to lớn trong quản lý nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), cũng có nghĩa là CB QLNN về KT có nhiều việc để làm với tư cách người tham gia xây dựng đường lối chiến lược, chính sách phát triển KT và trực tiếp sử dụng các công cụ quản lý để biến các chính sách, chủ trương thành hiện thực. Luận án tiến sĩ Kinh tế “Xây dựng đội ngũ công chức quản lý nhà nước về KT ở các huyện ngoại thành (qua thực tế các huyện ngoại thành Hà Nội)” [50] của tác giả Trần Huy Sáng có đề cập đến vai trò của đội ngũ công chức QLNN về KT ở các huyện như sau: - Đội ngũ công chức QLNN về KT là những người trực tiếp triển khai, tổ chức thực hiện các chủ trương, quyết định của Đảng và Nhà nước về KT trên địa bàn cấp huyện, qua đó tác động trực tiếp đến các hoạt động khác ở huyện.
- Công chức QLNN về KT thể hiện hiệu lực pháp lý, nâng cao hiệu quả KT - XH của QLNN về KT. Họ là những người giám sát, hướng dẫn các hoạt động KT trên địa bàn huyện diễn ra trong khuôn khổ pháp lý, theo định hướng XHCN. - Công chức QLNN về KT ở huyện là những người phát hiện những vấn đề vướng mắc, không phù hợp trong chủ trương, chính sách của Nhà nước, kiến nghị, đề xuất, sửa đổi, bổ sung những nội dung phù hợp. - Đội ngũ công chức QLNN về KT còn là nhân tố quyết định sự thành bại của công cuộc đổi mới đất nước.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến chất lƣợng cán bộ quản lý nhà nƣớc về kinh tế Theo Hồ Chí Minh, CB nhà nước phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba (khóa VIII) về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đề ra các tiêu chuẩn CB như sau: Tiêu chuẩn chung: - Có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. - Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng.
Có ý thức tổ chức kỷ luật.