MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong suốt hành trình gần 35 năm đổi mới và hội nhập, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng tự hào trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Một trong số những tiến bộ lớn phải kể đến là sự thay đổi về quan điểm và chính sách kinh tế, góp phần thúc đẩy thị trường hàng hóa, dịch vụ phát triển mạnh mẽ và mang lại nhiều thành quả tích cực. Căn cứ vào số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2019 ghi nhận tốc độ phát triển kinh tế trong nước ổn định với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 9 tháng đầu năm tăng 6,98%, đạt mức kỉ lục so với cùng kỳ của 9 năm gần nhất; lạm phát bình quân 9 tháng cũng được kiểm soát ở mức thấp, đạt 1,91%.
Đóng góp vào thành quả tích cực này, phải kể đến sự phát triển không ngừng nghỉ của nhóm ngành dịch vụ. Trong số đó, dịch vụ logistics cũng đang từng bước chuyển mình, ngày càng trở nên đa dạng và phong phú, đáp ứng nhu cầu phát triển của kinh tế Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Việc nâng tầm hệ thống logistics là một trong những mục tiêu phát triển quan trọng và nhận được nhiều sự quan tâm từ Chính phủ trong lộ trình phát triển kinh tế đất nước. Gắn liền với sự thành công của sản xuất và thương mại, logistics là điều kiện tiên quyết cho dòng lưu thông hàng hóa nội địa cũng như quốc tế.
Một hệ thống logistics phát triển bền vững giúp giảm bớt thời gian lưu thông, giảm chi phí và gia tăng sự an toàn trong suốt quá trình chu chuyển hàng hóa. Hiện nay, trên thế giới đã ghi nhận sự thành công này từ nhiều quốc gia, trong đó có Mỹ, Hà Lan, Singapore hay Trung Quốc. Giai đoạn 2020 – 2022, cả thế giới chứng kiến sự suy thoái kinh tế đột ngột gây ra bởi dịch bệnh COVID-19. Dịch bệnh đã tạo ra các rào cản rất lớn trong logistics hàng hóa, khiến cho khối lượng hàng hoá, dịch vụ được sản xuất và cung ứng ra thị trường bị ách tắc buộc con người phải tập trung hơn vào các yếu tố công nghệ cũng như phát triển hạ tầng kỹ thuật logistics nhiều hơn.
Đồng thời, các quan hệ kinh tế cũng đang dần trở nên đa dạng và được cấu thành từ nhiều yếu tố hơn. Nhu cầu mua hàng nhanh chóng và hạn chế tiếp xúc, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo về mặt giá cả và chất lượng đã buộc các nhà sản xuất phải chuyển sang cạnh tranh quản lý hàng tồn kho, tốc độ giao hàng, hợp lý hoá quá trình lưu chuyển nguyên liệu và bán thành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. trong cả hệ thống quản lý, lưu thông, phân phối hàng hoá của doanh nghiệp. Có thể nói, chính dịch bệnh bùng phát đã khiến cho logistics phát triển mạnh hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
Ban đầu, logistics được xem là một giải pháp mới nhằm hợp lí hoá hơn quy trình sản xuất kinh doanh, mang đến hiệu quả tốt nhất cho các doanh nghiệp. Khi dịch bệnh lan rộng khiến công nghệ thông tin và truyền thông phát triển kết hợp với dịch vụ logistics được coi là một trong các ngành dịch vụ “cơ sở hạ tầng” trong nền kinh tế quốc dân và ngày càng đóng vai trò rất quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển nhanh và bền vững trên toàn thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Với vị trí địa lý thuận lợi cùng đường bờ biển dài hơn 3000 cây số, Việt Nam đang được kỳ vọng trở thành sự lựa chọn của nhiều hãng vận tải quốc tế. Tuy nhiên, dịch vụ logistics tại Việt Nam lại đang gặp nhiều khó khăn từ cả trong nước lẫn nước ngoài, đặc biệt là trong thời kỳ dịch COVID-19 bùng phát mạnh.
Những khó khăn này xuất phát chủ yếu từ năm yếu tố, bao gồm (1) chính sách về logistics, (2) cơ sở hạ tầng logistics, (3) nguồn nhân lực logistics, (4) công nghệ và (5) thương mại hàng hóa. Thứ nhất, hệ thống chính sách đóng vai trò đảm bảo tính ổn định, đồng bộ, minh bạch, khả thi cho hoạt động logistics, giúp giảm bớt thủ tục hành chính và các rào cản để giảm chi phí thực thi cho người dân và doanh nghiệp (Thu Hà, 2020). Trên thực tế, giai đoạn 2020 – 2021 là giai đoạn toàn thế giới, trong đó có Việt Nam, chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19. Bên cạnh những chính sách hiện hành, trong quý II và III năm 2021, hoạt động lưu thông hàng hóa trên tất cả các tuyến cũng như năng lực xử lý hàng hóa tại các cảng nội địa đồng loạt giảm sút do các biện pháp phong tỏa ở mức độ cao và nhiều bất cập trong chính sách như cấp giấy đi đường cho tài xế, quy định xe luồng xanh, các nhóm hàng vận tải; đồng thời vẫn còn tồn tại sự thiếu nhất quan trong điều hành giữa các địa phương dẫn đến sự khó khăn cho vận tải liên tỉnh.
Các rào cản về chính sách chính là nguyên nhân làm cho chi phí logistics ngày càng cao và có xu hướng tăng mạnh vào quý III năm 2021 (Báo cáo triển vọng ngành cảng biển – Logistics 2022, 2021). Thứ hai, hạ tầng logistics đóng vai trò đáp ứng các nhu cầu cũng như hoạt động sản xuất thiết yếu của chuỗi cung ứng trong việc vận chuyển nguyên liệu và thành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 phẩm, lưu trữ và xử lý hàng hóa cũng như đảm bảo thông tin liên lạc giữa các mắt xích để tạo thành một dây chuyền sản xuất qua các công đoạn (Ngọc Thảo & Thùy Dương, 2021). Trong 6 tháng đầu năm 2021, sản lượng hàng hóa thông qua các cảng biển Việt Nam tăng trưởng mạnh (Báo cáo triển vọng ngành cảng biển – Logistics năm 2022, 2021), đặc biệt là sản lượng hàng container dù logistics nước ta vẫn chịu áp lực không nhỏ từ tình trạng thiếu container trong vài năm qua. Tuy có sự tăng trưởng tích cực về số lượng hàng hóa nhưng Việt Nam vẫn bị đánh giá thấp kém về cơ sở hạ tầng vận chuyển hàng hóa trong số các nền kinh tế trọng điểm ở khu vực ASEAN.
Đối với vận tải biển, đa số cảng và cảng biển tại nước ta không được thiết kế đáp ứng nghiệp vụ bốc dỡ hàng cho tàu chuyên dùng, một lượng lớn các cảng nằm ngoài khu vực thành phố Hồ Chí Minh chỉ được thiết kế cho việc bốc xếp hàng rời và không được trang bị container chuyên dụng. Về mặt hành chính, hàng loạt cảng trong nước không có dịch vụ kết nối hàng hải trực tiếp giữa Việt Nam và các nước Âu – Mỹ. Đối với vận tải hàng không, nhiều cảng hàng không nội địa đang thiếu các thiết bị bốc dỡ hàng hóa thích hợp, thiếu sự đầu tư về kho hàng, bãi chứa gần các sân bay hay bến cảng. Mặt khác, hệ thống kho bãi hiện tại trên cả nước lại không phù hợp cho hàng hóa cần bốc dỡ nhanh, thậm chí có nhiều kho bãi đã được đưa vào sử dụng trong gần 40 năm mà vẫn không thể đáp ứng được hệ thống tiêu chuẩn quốc tế.
Chưa kể đến tình trạng thiếu điện và dịch vụ viễn thông. Vì thế, việc nghiên cứu và đề xuất giải pháp cho công tác nâng cao cơ sở hạ tầng logistics tại Việt Nam là vô cùng cấp thiết. Thứ ba, trong bất kỳ ngành nghề, lĩnh vực nào, nguồn nhân lực luôn được xem là một trong những yếu tố đóng vai trò then chốt, ảnh hưởng mang tính quyết định đến khả năng thành công của doanh nghiệp trên thương trường nói chung và trong hoạt động quản lý nói riêng (Adeniji & ctg. Theo công bố của Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ logistics Việt Nam (VLA) trong Sách trắng logistics Việt Nam năm 2019, tổng số doanh nghiệp logistics hoạt động chuyên nghiệp và có mạng lưới logistics kết nối quốc tế hiện nay đạt khoảng 4.000 doanh nghiệp trong tổng số hơn 29.000 doanh nghiệp đăng ký mã ngành kinh doanh liên quan đến lĩnh vực logistics (số liệu căn cứ Niên giám thống kê 2019 của Tổng cục Thống kê).
Trong đó, các chuyên gia cũng đưa ra nhận định, vấn đề thiếu hụt nhân sự là một trong những khó LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 khăn mang tính sống còn mà các doanh nghiệp logistics cần phải đối diện trong hoạt động kinh doanh của mình. Thứ tư, công nghệ thông tin không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty logistics mà còn góp phần đáp ứng yêu cầu ngày càng gia tăng của khách hàng (Nguyễn Thúy Hồng Vân & ctg. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và tiến trình toàn cầu hóa diễn ra quyết liệt, ngành logistics có rất nhiều cơ hội phát triển và dần đóng vai trò ngày một quan trọng trong phát triển kinh tế của các quốc gia và nâng cao năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp. Cùng với sự ra đời của nhiều thành tựu khoa học kĩ thuật cao trong cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và việc ứng dụng mạnh mẽ các công nghệ thông tin trong sản xuất và kinh doanh, ngành logistics đang cận kề trước thách thức thích ứng hoặc tụt hậu.
Không những thế, nhu cầu phát triển vận tải đa phương thức, kết hợp nhiều hình thức vận tải khác nhau, đòi hỏi Chính phủ tăng cường áp dụng công nghệ thông tin để giảm chi phí vận tải và tạo điều kiện lưu thông, phân phối hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp. Thứ năm, trong hoạt động logistics, thương mại hàng hóa bao gồm các thành tố không thể tách rời có thể kể đến như thương mại trong nước, thương mại điện tử và xuất nhập khẩu, vừa là động lực vừa là mục tiêu phát triển của ngành logistics tại Việt Nam. Tính chung quý I/2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2021 đạt 1.291,1 nghìn tỷ đồng, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 1.033,2 nghìn tỷ đồng, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 5,9% của năm 2020 (Tổng cục thống kê, 2021).
Từ những quan sát về vai trò và tầm quan trọng của hoạt động thương mại hàng hóa nêu trên, tác giả đề xuất yếu tố thương mại hàng hóa tại Việt Nam cần được nghiên cứu, từ đó có những giải pháp căn cơ và kịp thời để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững ngành logistics Việt Nam hiện nay.