Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VÀ HẠ TẦNG LOGISTICS 1. Khái quát về hiệp định thương mại tự do 1. Khái niệm hiệp định thương mại tự do Hiệp định thương mại tự do (FTA - Free Trade Agreement) được hiểu là các hiệp định hợp tác kinh tế được ký giữa hai hay nhiều thành viên nhằm loại bỏ các rào cản với phần lớn hoạt động thương mại đồng thời thúc đẩy trao đổi thương mại giữa các nước thành viên với nhau. Các rào cản thương mại có thể dưới dạng thuế quan, quota nhập khẩu, các hàng rào phi thuế quan khác như tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn về vệ sinh dịch tễ, … Khái niệm FTA lần đầu tiên được đưa ra trong GATT (1947) tại điều XXIV - điểm 8b với nội dung: “Một hiệp định thương mại tự do được hiểu là một nhóm gồm hai hoặc nhiều vùng lãnh thổ thuế quan trong đ thuế và các rào cản thương mại khác (trừ trường hợp được phép theo Điều XI, XII, XIII, XIV, XV và XX) được dỡ bỏ đối với phần lớn các mặt hàng có xuất xứ từ các lãnh thổ đó và được tiến hành trao đổi thương mại giữa các lãnh thổ thuế quan đó”.
Hiện nay có nhiều thuật ngữ được sử dụng khác nhau như Hiệp định đối tác kinh tế (Economic Partnership Agreement), Hiệp định thương mại khu vực (Regional Trade Agreement)… nhưng nếu bản chất của các hiệp định đều hướng tới tự do hoá thương mại (bao gồm loại bỏ rào cản và thúc đẩy thương mại), thì đều được hiểu là các FTA. Tuy nhiên, FTA khác với các Hiệp định WTO, các Hiệp định thương mại, đầu tư song phương giữa các quốc gia, hay các Hiệp định thương mại ưu đãi (PTA - Preferential Trade Agreements). Cụ thể, các Hiệp định WTO thường bao gồm cam kết trong các lĩnh vực thương mại cụ thể như hàng hoá, dịch vụ, sở hữu trí tuệ, đầu tư… hướng đến thống nhất các quy tắc chung tạo nền tảng cho thương mại toàn cầu, và mới chỉ dừng lại ở việc giảm bớt các rào cản thương mại. So với các Hiệp định WTO thì các FTA có mức độ tự do hoá cao hơn, hướng đến không chỉ giảm 9 bớt, mà là loại bỏ hoàn toàn rào cản đối với thương mại.
Trong khi đó, khác với FTA, các Hiệp định thương mại đầu tư song phương (ví dụ như Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương, Hiệp định hỗ trợ và hợp tác lẫn nhau trong lĩnh vực hải quan….) chỉ hướng đến các cam kết tạo khuôn khổ chung cho hoạt động đầu tư và thương mại giữa hai nước mà không bao gồm các nội dung về loại bỏ rào cản thương mại. Các Hiệp định thương mại ưu đãi (PTA) là những cam kết thương mại đơn phương mà một nước phát triển dành ưu đãi về thuế quan cho hàng nhập khẩu đến từ các nước đang phát triển, không dựa trên cơ sở có đi có lại. Các hiệp định này bao gồm Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP-Generalized System of Preferences). Như vậy, so với các hiệp định kể trên, các FTA được đặc trưng bởi mục tiêu loại bỏ các rào cản đối với thương mại và mức độ tự do hoá thương mại giữa các Thành viên và mức độ tự do hoá thương mại.
Thuật ngữ “thế hệ mới” được cho là sử dụng đầu tiên với các hiệp định thương mại tự do mà Liên minh châu Âu (EU) đàm phán với các đối tác thương mại của mình từ năm 2007. Việc các thành viên WTO thiếu đi sự đồng thuận dẫn đến bế tắc trong các vòng đàm phán Doha từ năm 2001 được cho là nguyên nhân thúc đẩy EU thực thi một chiến lược thương mại mới chính thức được công bố từ năm 2006. Theo đó, EU cam kết phát triển và nâng cao quan hệ thương mại song phương với các đối tác nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh thương mại của EU trên toàn cầu. Vì vậy, năm 2007, EU bắt đầu khởi động các vòng đàm phán các hiệp định thương mại tự do “thế hệ mới” với các đối tác thương mại bao gồm Hàn Quốc, Ấn Độ và ASEAN với cách tiếp cận toàn diện, bao gồm nhiều nội dung đổi mới về đầu tư, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, mua sắm chính phủ, hay phát triển bền vững.
Kể từ đó, thuật ngữ “thế hệ mới” được sử dụng một cách tương đối nhằm phân biệt các FTA được ký kết với phạm vi toàn diện hơn so với khuôn khổ tự do hoá thương mại được thiết lập trong các hiệp định WTO hay các hiệp định FTA truyền thống. Ngoài các hiệp định thương mại tự do của EU với các đối tác thương mại như FTA EU-Hàn Quốc, EU-Ấn Độ, EU-Nhật Bản, EU-ASEAN… các hiệp định thương mại tự do được đàm phán sau giữa nhiều đối tác thương mại lớn như 10 Hiệp định đối tác toàn diện tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định đối tác thương mại và đầu tư xuyên Đại Tây Dương (T-TIP), … cũng áp dụng cách tiếp cận toàn diện này, và đều được coi là các hiệp định thương mại tự do “thế hệ mới”. Nội dung cơ bản của các hiệp định thương mại tự do 1. Thương mại hàng hóa Đối với rất nhiều Hiệp định FTA, thương mại hàng hóa là lĩnh vực quan tâm chính của các bên tham gia, tạo nên nền tảng của Hiệp định.
Các cam kết về thương mại hàng hóa sẽ giúp các bên hiện thực hóa mục tiêu chính là mở rộng thị trường, tạo thuận lợi cho hàng xuất khẩu. Các nội dung chính về thương mại hàng hóa thường được thỏa thuận trong Hiệp định FTA gồm: a. Thuế quan Mức độ cắt giảm thuế quan theo Hiệp định FTA thường sâu hơn (đưa thuế suất về 0%), cắt giảm nhanh hơn cam kết trong WTO do các bên chỉ tập trung vào những lĩnh vực có quan tâm. Theo Điều XXIV của Hiệp định GATT/WTO, các bên tham gia Hiệp định FTA phải cam kết xóa bỏ thuế quan đối với phần lớn thương mại giữa các bên.
Theo cách hiểu thông thường (không chính thức) thì Hiệp định FTA cần quy định xóa bỏ thuế quan đối với ít nhất 90% giá trị thương mại và số dòng thuế trong v ng 10 năm. Các dòng thuế không cam kết hoặc có cam kết nhưng không đưa về 0% thường là các sản phẩm nhạy cảm/đặc biệt nhạy cảm đối với các bên. Các nước kém phát triển nhất (LDCs) hoặc đang phát triển có thể được hưởng linh hoạt về lộ trình hoặc diện cam kết. Cam kết cắt giảm thuế quan của các nước theo Hiệp định FTA thường chia thành các nhóm: (i) Đưa thuế suất về 0% ngay khi Hiệp định FTA có hiệu lực; (ii) Đưa thuế suất về 0% theo lộ trình (cắt giảm tuyến tính); (iii) Cắt giảm thuế quan nhanh trong năm đầu tiên, sau đó cắt giảm từng bước một trong những năm tiếp theo (frontload); (iv) Không cắt giảm thuế quan trong thời gian đầu, việc cắt giảm được thực hiện vào các năm cuối của lộ trình (backload); (v) Không cam kết.
11 Bên cạnh thuế quan, các bên tham gia FTA cũng có thể đưa ra cam kết về hạn ngạch thuế quan, đặc biệt đối với các thủy sản nhạy cảm. Thông thường, nhập khẩu trong hạn ngạch từ các đối tác tham gia FTA sẽ được hưởng thuế suất FTA ưu đãi, nhập khẩu ngoài hạn ngạch sẽ phải chịu thuế suất ngoài hạn ngạch (trong nhiều trường hợp là thuế suất ngoài hạn ngạch theo cam kết WTO). Bên cạnh thuế nhập khẩu, trong một số FTA các đối tác có thể thảo luận, cam kết cả thuế xuất khẩu, căn cứ vào mục tiêu chính sách của các bên. Thuận lợi hóa thương mại Thuận lợi háa thương mại là một nội dung quan trọng trong nhiều Hiệp định FTA, các lĩnh vực mà các nước thường đẩy mạnh hợp tác trong khuôn khổ FTA là hải quan, giải phóng hàng, quyết định trước (advanced rulings), áp dụng công nghệ thông tin trong thương mại, hàng chuyển tải, hỗ trợ kỹ thuật… c.
Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT) và vệ sinh dịch tễ (SPS) Thông thường, đối với TBT và SPS, các bên tham gia FTA sẽ tái khẳng định cam kết thực hiện các Hiệp định liên quan của WTO (Hiệp định TBT và Hiệp định SPS). Bên cạnh đó, các bên sẽ đề ra các nguyên tắc nhằm định hướng cho hoạt động hợp tác trong các lĩnh vực ưu tiên như áp dụng thực tiễn tốt nhất, đánh giá hợp chuẩn, công nhận tương đương, hài háa tiêu chuẩn, các thỏa thuận công nhận lẫn nhau, minh bạch hóa, hỗ trợ kỹ thuật… d. Các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp Bên cạnh thỏa thuận thực hiện các quy định của WTO, các bên tham gia FTA có thể thống nhất các quy định về tự vệ đặc biệt, chống bán phá giá, chống trợ cấp trong khuôn khổ Hiệp định FTA. Quy tắc xuất xứ Quy tắc xuất xứ là nội dung quan trọng trong các Hiệp định FTA vì chỉ khi đáp ứng các quy tắc xuất xứ này thì hàng hóa mới được hưởng ưu đãi thuế quan quy định trong Hiệp định.
Ngoài ra, quy tắc xuất xứ cũng giúp ngăn chặn việc chuyển hàng hóa nhập khẩu vào lãnh thổ hải quan của thành viên có mức thuế quan thấp để xuất sang các thành viên khác. Bên cạnh quy tắc xuất xứ chung (thường là hàm lượng giá trị khu vực), các thành viên cũng thường đàm phán các quy tắc về chuyển đổi nhóm, quy tắc xuất xứ theo mặt hàng cụ thể. 12 Các Hiệp định FTA thường đưa ra một tỉ lệ nội địa hoá đối với hàng hoá nhập khẩu. Nếu hàng hoá đó nhập khẩu vào nước đối tác đáp ứng được tiêu chuẩn này sẽ được hưởng ưu đãi hơn về thuế quan so với hàng hoá được nhập từ nước thứ ba.
Thương mại dịch vụ Bên cạnh thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ cũng là nội dung quan trọng của các Hiệp định FTA. Hầu hết các Hiệp định FTA đều có chương riêng, Hiệp định riêng về dịch vụ. Nội dung về dịch vụ trong các FTA thường tập trung vào: (i) Chủ yếu tuân thủ và tăng cường các nguyên tắc chính của WTO như nguyên tắc đối xử tối huệ quốc, minh bạch hóa, quy định trong nước, thanh toán và chuyển khoản, tự vệ, trợ cấp… và phụ lục về một số ngành dịch vụ cụ thể (tài chính, viễn thông, di chuyển của tự nhiên nhân…); (ii) Biểu cam kết mở cửa thị trường dịch vụ. Trong các Hiệp định FTA truyền thống, thương mại dịch vụ được chia thành bốn phương thức cung cấp là: (i) Cung cấp qua biên giới; (ii) Tiêu dùng ngoài lãnh thổ; (iii) Hiện diện thương mại; (iv) Hiện diện của thể nhân.