CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Về quan hệ hợp tác thương mại song phương giữa hai quốc gia, nhiều nghiên cứu đã đề cập đến việc ký kết các Hiệp định thương mại tự do có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ hợp tác thương mại giữa hai quốc gia hoặc giữa một quốc gia với một khối kinh tế. Về hợp tác thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và Hàn Quốc: Kwesi Atuaful Quansah và Woo ChulAhn, 2017, trong nghiên cứu The Effect of the Korea-Australia Free Trade Agreement (KAFTA) on the Korea-Australia Trade Structure (Tác động của Hiệp định thương mại tự do Úc – Hàn Quốc đến cơ cấu thương mại Úc – Hàn) trong tạp chí The Asian Journal of Shipping and Logistics, Volume 33, Issue 4, December 2017 đã phân tích KAFTA có tác động tạo ra thương mại ròng tích cực cho Hàn Quốc, Úc và khu vực châu Á – Thái Bình Dương nói chung, đồng thời cho rằng một hiệp định thương mại tự do có thể được coi là một công cụ tăng trưởng tốt để thúc đẩy thương mại giữa các quốc gia ký kết và phần còn lại của thế giới. Bài viết chỉ phân tích dưới góc độ định tính, song có định hướng mở cho các nghiên cứu tiếp theo dưới góc độ định lượng như sử dụng các mô hình định lượng như công cụ phân tích thương mại toàn cầu (GTAP), mô hình cân bằng tổng thể (CGE) và Mô hình trọng lực như được sử dụng bởi Baier và Bergstrand (2007) nhằm xác định những thay đổi trong giá trị thương mại hoặc cấu trúc giữa hai quốc gia.
Bài viết xác định các khía cạnh khác nhau của FTA mà mỗi phương pháp có thể đánh giá, mô tả 11 các nguồn dữ liệu và yêu cầu phần mềm, chỉ định cách diễn giải đầu ra từ mỗi phương pháp và thảo luận về các điểm mạnh và hạn chế của từng phương pháp. Để minh họa cho từng phương pháp, có những ví dụ được áp dụng cho các quốc gia trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), đặc biệt là Campuchia, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Việt Nam Mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Hàn Quốc cũng đã có nhiều nhà khoa học nước ngoài nghiên cứu và phân tích, cụ thể như: Jae – Ho Lee, 2016, Korea's Recent Export to Vietnam and Implications (Xuất khẩu của Hàn Quốc đến Việt Nam hiện nay và các hàm ý liên quan) KIEP Research Paper No. World Economy Update-16-5, phân tích một cách định tính về thực trạng xuất khẩu và đầu tư của Hàn Quốc đến Việt Nam, trong đó nhận định đầu tư của Hàn Quốc sang Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất điện thoại di động và thiết bị gia dụng có tác động làm tăng xuất khẩu của Hàn Quốc vào Việt Nam. Ngoài ra, FTA giữa Hàn Quốc và Việt Nam sẽ đóng vai trò là nhân tố tích cực trong việc mở rộng hợp tác kinh tế song phương lâu dài và vì lợi ích chung.
Bài nghiên cứu chỉ đưa ra những nét chấm phá về quan hệ hợp tác thương mại của Việt Nam và Hàn Quốc, đứng trên góc độ của Hàn Quốc để đưa ra những gợi ý nhằm thúc đẩy xuất khẩu của Hàn Quốc vào Việt Nam. - Park Noh Wan, (2014), Thesis: “Republic of Korea - Vietnam strategic cooperative partnership and the way forward in the new context of global governance change in the 21st century”, (Hàn Quốc – đối tác hợp tác chiến lược của Việt Nam và con đường phía trước trong bối cảnh mới của sự thay đổi quản trị toàn cầu ở thế kỷ 21), Học viện Ngoại giao Việt Nam. Theo tác giả, trước năm 2015, tổng giá trị xuất khẩu của Hàn Quốc tăng trưởng chậm do nhu cầu trên thị trường thế giới suy giảm. Tuy nhiên, xuất khẩu của Hàn Quốc sang thị trường Việt Nam lại tăng nhanh khiến cho Việt Nam trở thành điểm đến xuất khẩu hàng đầu của Hàn Quốc.
Tác giả cho rằng, đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam đã chuyển trọng tâm từ các ngành thâm dụng lao động sang các ngành thâm dụng công nghệ và đưa Việt Nam lên hàng đầu trong danh sách các quốc gia sản xuất điện thoại di động trên thế giới. Với việc ký kết VKFTA sẽ mang lại các cơ hội mới để thúc đẩy hợp tác giữa Hàn Quốc và Việt Nam. Tác giả cũng đề xuất rằng hợp tác kinh tế song phương 12 trong tương lai giữa hai nước không nên chỉ dừng lại ở việc yêu cầu mức độ tự do hóa cao hơn, mà phải hỗ trợ xây dựng mạng lưới sản xuất thúc đẩy mối quan hệ hợp tác “đôi bên cùng có lợi”. Với tác giả trên, quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc được thể hiện trên nhiều bình diện, cả về kinh tế, chính trị và xã hội, chứ không đi sâu vào mối quan hệ thương mại song phương Việt Nam – Hàn Quốc.
- Kim Kyoung Mi, (2011), Phân tích thị trường thương mại điện tử Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam – tập trung nghiên cứu thị trường mua sắm trực tuyến, Luận văn, Đại học Ngoại thương. Công trình nghiên cứu của tác giả này mới chỉ phân tích kinh nghiệm của Hàn Quốc mà chưa phân tích mối quan hệ thương mại điện tử Việt Nam, Hàn Quốc cũng như triển vọng của việc áp dụng thương mại điện tử trong việc thúc đẩy hợp tác thương mại chung giữa hai quốc gia. Mặc dù vậy, thương mại điện tử cũng có thể coi là một trong những xu hướng thương mại phổ biến hiện nay. Gợi ý của tác giả cũng sẽ là những gợi mở cho các nghiên cứu về phương thức xuất nhập khẩu mới giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong tương lai, nhất là khi trong VKFTA đã có những điều chỉnh về vấn đề thương mại điện tử giữa hai nước.
- Công trình nghiên cứu của các tác giả Tran Nhuan Kien, Hong Ryul Lee, Yoon Heo, (2010), (“Dynamic Patterns of Korea – Vietnam Trade Relations” – Mô hình động trong quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc), International Area Review, Volume 13, Number 2, Summer 2010); và của các tác giả Phan Thanh Hoan, Ji Young Jeong, (2012), (An analysis of Korea – Vietnam bilateral trade relation – Một cách phân tích về mối quan hệ thương mại song phương Việt Nam – Hàn Quốc, Munich Personal RePEc Archive) đã sử dụng một số công cụ như chỉ số thương mại nội ngành (IIT) trong mô hình thương mại nội ngành giữa một nước phát triển và một nước đang phát triển, chỉ số cường độ thương mại (TII), chỉ số lợi thế so sánh (RCA) của từng quốc gia để đánh giá mức độ hợp tác thương mại song phương giữa Việt Nam – Hàn Quốc, đồng thời chứng minh mối quan hệ hợp tác thương mại giữa hai nước là bổ sung cho nhau chứ không phải cạnh tranh, mặc dù cán cân thương mại hiện nay đang thặng dư về phía Hàn Quốc. Bên cạnh đó, thông 13 qua phân tích chỉ số thương mại bổ sung (TCI), các tác giả đã nhấn mạnh tự do hóa thương mại song phương sẽ đem lại lợi ích lớn hơn cho cả hai quốc gia. Mặc dù có nhiều ưu điểm trong phân tích mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc thông qua các chỉ tiêu định lượng, song dữ liệu phân tích chỉ dừng ở năm 2009, (với các tác giả Phan Thanh Hoan, Ji Young Jeong (2016) trong tác phẩm Potential Economic Impacts of the Vietnam-Korea Free Trade Agreement on Vietnam economy (Tác động kinh tế tiềm năng của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc đến nền kinh tế Việt Nam) do số liệu cập nhật đến năm 2014, cũng chỉ đề cập đến thương mại hàng hóa, chứ chưa thể hiện rõ sự hợp tác trên khía cạnh thương mại dịch vụ giữa hai quốc gia. Tác giả cũng mới chỉ phân tích được sự cần thiết phải hợp tác thương mại song phương nhưng chưa phân tích được tác động của một Hiệp định thương mại tự do song phương đối với sự phát triển kinh tế của hai quốc gia.
Đây là điểm trống trong nghiên cứu mà NCS sẽ khai thác trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của các tác giả công trình này. Nhiều nghiên cứu của các tác giả đã thực hiện về mô hình lực hấp dẫn trong thương mại song phương và đa phương như Chan (2005), Somayeh Razzaghi và cộng sự (2012), Rose và Frankel (2002); Projan (2001), Papazoglou (2007), Tri Thai Do (2006), Gul và Yasin (2011). Kết quả của các nghiên cứu trên cũng sẽ được NCS tiếp thu và ứng dụng trong nghiên cứu của mình. Về thương mại dịch vụ giữa Việt Nam và Hàn Quốc: hiện theo kết quả nghiên cứu của NCS, chưa có đề tài nào đi sâu khai thác quan hệ thương mại dịch vụ của Việt Nam và Hàn Quốc, nhất là đặt trong bối cảnh VKFTA đã được ký kết.
Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Về mối quan hệ hợp tác thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và Hàn Quốc, có một số công trình, dự án nghiên cứu của một số cơ quan nhà nước như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, VCCI, Bộ Ngoại giao, sách của nhiều tác giả trong nước về quan hệ song phương giữa Việt Nam – Hàn Quốc. Nhiều công trình trong số này đề cập đến mối quan hệ tổng thể giữa Việt Nam – Hàn Quốc, trong đó có đề cập đến mối quan hệ song phương về thương mại. Có thể kể đến một số công trình về vấn đề này của các tác giả: - VCCI, (2014), Hồ sơ thị trường Hàn Quốc năm 2013. 14 Trong nghiên cứu này, bên cạnh mối quan hệ hợp tác về thương mại, VCCI đã nêu được mối quan hệ hợp tác kinh tế nói chung giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong thời gian gần đây.
Song nghiên cứu này mới chỉ là những dữ liệu thống kê với các phân tích khá ngắn gọn về tình hình thương mại hàng hóa, đầu tư, du lịch, lao động giữa hai quốc gia (thường là trong một năm) và chưa đề cập đến sự thay đổi của mối quan hệ này khi có tác động từ VKFTA. Du lịch và lao động được phân tích dưới hình thức hai ngành độc lập chứ không nhìn nhận như một phần trong quan hệ thương mại dịch vụ giữa hai quốc gia. - Đại sứ quán CHXHCN Việt Nam tại Đại hàn Dân quốc, (2011), Tổng quan quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc. Trong lời phát biểu của Đại sứ nước CHXHCN Việt Nam tại Hàn Quốc đã nêu tổng thể mối quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc, từ quan hệ chính trị, kinh tế và ngoại giao.
Lĩnh vực hợp tác thương mại giữa hai nước chỉ được điểm qua bằng vài lát cắt cơ bản.