CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHI PHÍ LOGISTICS 1. Khái niệm logistics 1. Lịch sử phát triển logistics Logistics là thuật ngữ hiện nay rất phổ biến trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế.
Đây là từ tiếng Anh và chưa có từ ngữ thống nhất để dịch được ra tiếng Việt. Nguồn gốc bắt nguồn từ tiếng Pháp “Logistique”. Chữ “Logistique” của tiếng Pháp có nguồn gốc từ chữ “Loger”. Đây là một từ cổ, có nghĩa là cái trại lính.
Chính vì vậy, ban đầu logistics được sử dụng như một từ chuyên môn trong quân đội với nghĩa là nghệ thuật bố trí và di chuyển quân. Napoleon đã từng định nghĩa: “logistics là hoạt động để duy trì lực lượng quân đội”. Trong hai cuộc đại chiến thế giới, logistics đã được ứng dụng rất rộng rãi trong việc di chuyển lực lượng quân đội, vũ khí cũng như các yếu tố hậu cần phục vụ cho quân đội. Logistics đóng một vai trò rất lớn trong việc thành bại của cuộc chiến.
Sau khi kết thúc chiến tranh, thuật ngữ logistics được áp dụng nhiều hơn trong các lĩnh vực, các chuyên gia logistics trong quân đội đã sử dụng các kỹ năng logistics để tái thiết hoạt động sản xuất và kinh tế sau chiến tranh. Trải qua dòng chảy lịch sử, thuật ngữ logistics dần được áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế, được lan truyền từ châu lục này sang châu lục kia, từ nước này sang nước khác, hình thành nên từ logistics toàn cầu. Logistics đã phát triển rất nhanh chóng, nếu giữa thế kỷ XX rất hiếm doanh nghiệp hiểu được logistics là gì thì đến cuối thế kỷ, logistics được ghi nhận như một chức năng kinh tế chủ yếu, một công cụ hữu hiệu mang lại thành công cho các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ. Ngay từ những năm 80 của thế kỷ trước, người ta đã dự báo sẽ xuất hiện logistics toàn cầu và điều đó giờ đây đã thành hiện thực.
Khái niệm logistics Có rất nhiều khái niệm khác nhau về logistics trên thế giới và được xây dựng căn cứ trên ngành nghề và mục đích nghiên cứu về dịch vụ logistics. Mỗi định nghĩa đều có một cách tiếp cậ khác nhau, một góc nhìn khác nhau mà khó có thể khẳng định được định nghĩa nào đúng nhất. Ngay từ giai đoạn đầu mới xuất hiện thuật ngữ logistics, người ta đã đưa ra khái niệm như sau: Logistics là hoạt động quản lý quá trình vận chuyển và lưu kho 6 của: Nguyên vật liệu đi vào xí nghiệp; Hàng hóa bán thành phẩm trong quá trình sản xuất; Sản phẩm cuối cùng đi ra khỏi xí nghiệp. Với định nghĩa này, logistics bao gồm quản lý, vận chuyển, lưu kho.
Tuy điều này đúng quy trình của logistics nhưng lại chưa phù hợp với quan điểm hiện đại, cho rằng yếu tố thông tin cũng thuộc logistics. Sau này khi logistics phát triển rộng rãi, có rất nhiều định nghĩa được đưa ra. Năm 1988, Hội đồng Quản trị logistics Hoa Kỳ (LAC - The US. Logistics Administration Council) đã đưa ra khái niệm như sau: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng di chuyển và lưu kho những nguyên vật liệu thô của hàng hóa trong quy trình, những hàng hóa thành phẩm và những thông tin có liên quan, từ khâu mua sắm nguyên vật liệu cho đến khi được tiêu dùng, với mục đích thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng”.
Một định nghĩa đầy đủ hơn được đưa ra bởi Hội đồng quản lý logistics của Mỹ (the Council of Logistics Management (CLM)), một tổ chức chuyên nghiệp của các nhà quản lý, nhà giáo dục, các chuyên gia về logistics, được thành lập năm 1962. “Logistics là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển, dự trữ hàng hóa, dịch vụ và những thông tin liên quan từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng”. Định nghĩa này khá hoàn thiện, thể hiện được sự quản lý dòng hàng hóa từ khi còn là nguyên liệu thô trở thành sản phẩm và cuối cùng bị loại bỏ. Logistics ở đây bao gồm cả dòng hàng hóa và dịch vụ.
Ngoài ra nó còn cho thấy logistics là một quá trình, bao gồm tất cả các hoạt động ảnh hưởng đến việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ có sẵn theo thời gian và địa điểm mà khách hàng yêu cầu. Năm 2005, tại kỳ họp thứ 7, khóa XI, ngày 14/6/2005, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Thương mại 2005 có qui định cụ thể khái niệm về dịch vụ logistics. Tại điều 233 - Mục 4 - Chương VI của Luật Thương mại đã quy định: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi mã ký hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. 7 Các khái niệm có thể khác nhau về cách trình bày nhưng vẫn hướng đến những điểm thống nhất về logistics, đó là đều khẳng định logistics là một quá trình, tập hợp các hoạt động liên tục; có liên quan đến tất cả các yếu tố đầu vào cần thiết để tạo ra sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với người tiêu dùng và logistics tồn tại ở hai cấp độ : hoạch định và tổ chức.
Vai trò của logistics 1. Vai trò của logistics đối với nền kinh tế quốc dân Logistics đóng vai trò quan trọng, có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống kinh tế xã hội. Với đặc điểm là một chuỗi liên hoàn, một liên kết kinh tế xuyên suốt toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông, phân phối hàng hóa, logistics được coi là cầu nối giữa thị trường và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Logistics là một ngành có đóng góp lớn vào GDP của quốc gia.1 Tỷ trọng ngành logistics trên tổng GDP của một số quốc gia năm 2020 Quốc gia Tỷ lệ Quốc gia Tỷ lệ Việt Nam 20% Mỹ 8% Malaysia 13% Thụy Điển 8,2 % Thái Lan 15% Brazil 11,6% Trung Quốc 14,5% Singapore 8,5% Ấn Độ 13% Nhật Bản 8,5% Nguồn: Armstrong & Associates, 2021 Một là, hoạt động logistics góp phần gia tăng sức cạnh tranh của hàng hóa nội địa, từ đó đẩy mạnh lưu thông hàng hóa và mở rộng thị trường hàng hóa trong thương mại quốc tế.
Logistics là một trong những khoản chi phí lớn cho kinh doanh, có tác động tới và chịu tác động bởi các hoạt động kinh tế khác. Hoạt động logistics gắn trực tiếp với các kết quả kinh tế quan trọng như mở rộng thương mại, đầu tư, tăng 1 Bùi Duy Linh, “Tối ưu chi phí logistics của doanh nghiệp- Trường hợp các doanh nghiệp logistics trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”, 2021 8 trưởng kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa. Chi phí logistics là một yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của ngành logistics và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thương mại. Nếu chi phí logistics thấp thì sẽ giúp cho giá thành hàng hóa xuất nhập khẩu giảm xuống và có tính cạnh tranh cao hơn.
Theo tính toán của Hiệp hội Logistics Việt Nam (VLA), năm 2021 chi phí logistics vẫn chiếm khoảng 16,8% giá trị hàng hóa Việt Nam (GDP) trong khi mức chi phí này trên thế giới hiện chỉ khoảng 10,6%2. Các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng vẫn luôn nỗ lực tìm các biện pháp để giảm thiểu tối đa chi phí logistics, đặc biệt trong bối cảnh ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Logistics giúp cho thị trường hàng hóa xuất nhập khẩu được mở rộng, quá trình lưu chuyển hàng hóa giữa các quốc gia được thuận lợi và nhanh chóng. Hai là, logistics cũng có tính hai mặt, vừa có vai trò thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế nhưng cũng là yếu tố gây cản trở sự phát triển của ngành sản xuất và của nền kinh tế.
Mỗi quốc gia có một điều kiện khác nhau về cơ sở hạ tầng, về cơ sở pháp lý và nguồn nhân lực để phát triển hoạt động logistics, ngành logistics vẫn luôn là tiền đề giúp cho các ngành sản xuất trong nước nâng cao năng lực cạnh tranh, có cơ hội mở rộng thị trường hoạt động sản xuất kinh doanh với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Khi đó logistics sẽ góp phần tăng nhanh vòng luân chuyển của hàng hóa, vòng quay của tiền tệ, thúc đẩy sự phát triển của sản xuất và tiêu dùng. Logistics là một ngành dịch vụ, nó cũng đóng góp trực tiếp vào GDP và góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế quốc gia. Như vậy, sự phát triển của logistics là chất xúc tác thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Nếu hoạt động logistics thiếu hiệu quả, chi phí logistics tăng quá cao có thể là yếu tố gây cản trở đối với sự phát triển của nền kinh tế. Ba là, khi nền kinh tế quốc gia đóng vai trò là một mắt xích tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, logistics có vai trò kết nối các mắt xích lại với nhau tạo thành chuỗi liên kết trong nền kinh tế. Tùy thuộc vào lợi thế, điều kiện và đặc điểm của từng quốc gia mà mỗi quốc gia sẽ lựa chọn cho mình lĩnh vực nào để trở thành một mắt xích quan trọng và không thể thiếu của nền kinh tế toàn cầu. Các hoạt động của nền kinh tế toàn cầu đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, mở rộng ngày càng lớn về quy mô và 2 Theo Báo điện tử Chính phủ 9 phạm vi.
Với việc gia tăng về quy mô như vậy, vai trò liên kết của logistics càng được thể hiện rõ nét. Khi đó, logistics cũng vươn hoạt động của mình ra phạm vi toàn cầu và trở thành một công cụ liên kết tối ưu từ khâu cung cấp vật tư, bán thành phẩm cho đến lưu thông, phân phối hàng hóa, dịch vụ từ nhiều quốc gia, khu vực khác nhau tới những nhà sản xuất , những thị trường tiêu thụ khác nhau trên toàn thế giới. Nói tóm lại, logistics thể hiện vai trò như một công cụ mở rộng thị trường, tạo nên những kênh mua bán, trao đổi quốc tế vô cùng rộng lớn, kết nối giữa nền kinh tế của các quốc gia trên toàn thế giới. Vai trò của logistics đối với doanh nghiệp Thứ nhất, logistics góp phần tối ưu hóa quá trình lưu chuyển hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.