Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH VỀ NGHÈO VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI NGHÈO 1. Các công trình nghiên cứu về nghèo Nghiên cứu về nghèo, tình trạng nghèo thu hút được sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học, các cơ sở nghiên cứu với nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố, một số công trình tiêu biểu có thể kể đến gồm: Nghiên cứu của Halman & van Oorschot [68], bằng dữ liệu điều tra thực nghiệm, nghiên cứu này đã đánh giá về nhận thức phổ biến về nghèo trong xã hội Hà Lan; khám phá ra bốn nhóm nhân tố chính giải thích tình trạng nghèo trong xã hội Hà Lan bao gồm: Nhân tố do cá nhân (IB), nhân tố do định mệnh, nhân tố do bất bình đẳng và cấu trúc xã hội (SB), nhân tố do cấu trúc xã hội (SF) và nhân tố do chính sách của nhà nước. Thông qua việc nghiên cứu về sự thiếu thốn trong các hộ gia đình thu nhập thấp tại Anh, Calandrino [51] đã nghiên cứu khám phá trong cách tiếp cận đo lường nghèo.
Nghiên cứu đã xây dựng các thang đo lường cho các chiều cạnh của tình trạng nghèo. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố thuộc về xã hội, sự thiếu hụt năng lượng, yếu tố thuộc về ăn mặc, yếu tố thuộc về thực phẩm. Thông qua việc phân tích thành phần chính của nghèo tại miền Bắc Thái Lan, các tác giả Sricharoena & Buchenrieder [96] đã sử dụng dữ liệu thu thập tại 9 ngôi làng ở huyện Mae Rim, tỉnh Chiang Mai, Thái Lan. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) để xác định các yếu tố quan trọng tác động đến nghèo hộ gia đình.
Các yếu tố rõ ràng, liên quan đến đánh giá nghèo là điều kiện sống, tài sản vật chất, nguồn nhân lực 11 và các vấn đề an ninh lương thực. Yếu tố làm cho người nghèo trở nên nghèo hơn đó là nguồn nhân lực. Từ việc nghiên cứu tác động của nhận thức về nghèo và phúc lợi của người dân Nam Phi của tác giả Yul Derek [120] thông qua việc sử dụng phân tích dữ liệu thứ cấp trên một mẫu của 2400 người Nam Phi, bằng phương pháp sử dụng các thang đo lường thông qua phân tích khám phá để rút ra các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy hơn một nửa dân số Nam Phi thiếu khả năng tiếp cận các nhu yếu phẩm cơ bản.
Các nhân tố dẫn đến tình trạng nghèo bao gồm: nhóm nguyên nhân thuộc về định mệnh (Fatalistic Causes): thiếu may mắn, số phận xấu, gặp phải bất hạnh, sinh ra đã thua kém người khác, không được hưởng các phúc lợi xã hội. Nhân tố do cấu trúc xã hội (Structural Causes), như: Phân bố của cải trong xã hội là không đồng đều, xã hội thiếu công bằng, tài nguyên xã hội được khai thác bởi những người giàu, thiếu cơ hội do họ sống trong gia đình nghèo. Ngoài ra những nhân tố thuộc về cá nhân (Individualistic Causes), như: lãng phí tiền của họ vào những món đồ không phù hợp, thiếu khả năng quản lý tài chính, không tích cực tìm cách cải thiện cuộc sống của họ. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đề xuất các hàm ý chính sách để cải thiện tình trạng nghèo của người dân tại Nam Phi.
Tác giả Samuel [97] đã sử dụng thang đo nhận thức về tình trạng nghèo của Feagin để điều tra 147 sinh viên ngành Marketing của Trường Đại học Sunyani bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Kết quả nghiên cứu cho thấy quan điểm cá nhân về nhân tố nghèo chủ yếu do cấu trúc xã hội và nhân tố định mệnh. Nghiên cứu cũng cho thấy thành công phụ thuộc đáng kể vào nỗ lực cá nhân và công việc của họ đóng góp cho xã hội. Các tác giả Roche & Morgan [93] sử dụng thang đo chủ động trong phân tích nghèo: Đánh giá độ tin cậy với bằng kỹ thuật thang đo tâm lý.
Nghiên cứu đã đề xuất các thang đo lường tâm lý trong phân tích tình trạng nghèo, như: đặc điểm việc làm, trách nhiệm đối với gia đình, vấn đề sức khỏe hay tình trạng tội phạm. 12 Nghiên cứu về Nhận thức của nhân viên xã hội về tình trạng nghèo ở các nước Bắc Âu, nhóm tác giả Helena Blomberg, Christian Kroll, Johanna Kallio và Jani Erola đã sử dụng mô hình của Oorschot and Halman (2000) để tìm ra sự khác biệt về các nhân tố gây ra tình trạng nghèo từ kết quả điều tra của 4 quốc gia (Phần Lan, Nauy, Thụy Điển, Đan Mạch) tại khu vực Bắc Âu. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt trong nhận thức về nhân tố nghèo của nhân viên xã hội của 4 quốc gia trên. Luận án tiến sĩ do Antarjeeta Nayak [43] thực hiện với đề tài “Tìm hiểu nguyên nhân nghèo và chất lượng cuộc sống: Nghiên cứu điển hình tại Thành phố Rourkela, Ấn Độ”.
Nghiên cứu đã kế thừa và phát triển thang đo nhận thức của Feagin [65] để xây dựng phiếu điều tra với quy mô mẫu điều tra 700 với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiêu nhiều giai đoạn và sử dụng công cụ phân tích khám phá và hồi qui để phân tích. Bằng việc sử dụng phương pháp phân tích nhân tố (EFA) để xác định các yếu tố di cư và nghèo của người dân tại Gana, tác giả Awuse & Tandoh- Offin [42] đã điều tra 345 hộ gia đình từ bảy vùng của Ghana. Nghiên cứu cho thấy ba biến quan trọng nổi lên là nhân tố chính của việc di cư nội tại ở Ghana, đó là: các yếu tố nhân khẩu học, yếu tố kinh tế, yếu tố xã hội và văn hóa, các yếu tố địa lý, các yếu tố chính trị và thể chế, phúc lợi và nghèo là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng di cư tại các địa phương ở Ghana. Maseko, Viljoen & Muzindutsi [77] đã nghiên cứu so sánh về sự khác biệt về tình trạng nghèo giữa sinh viên năm thứ nhất và thứ ba tại viện giáo dục chất lượng cao tại Nam Phi.
Kết quả cho thấy cả sinh viên năm thứ nhất và năm thứ ba có nhiều khả năng đổ lỗi cho nghèo về các yếu tố cấu trúc. Tuy nhiên, sinh viên năm thứ ba có nhiều khả năng hơn sinh viên năm thứ nhất về nhân tố nghèo cho các yếu tố cấu trúc. Thông qua việc sử dụng thang đo cảm nhận về nghèo của các hộ gia đình trong khu đô thị ở Nam Phi, Grobler [66] đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo Nghiên cứu đã điều tra 580 người nghèo bằng phương pháp 13 chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng tại hai khu vực có thu nhập thấp ở Nam Gauteng, Nam Phi. Kết quả cho thấy, nhận thức về nhân tố của tình trạng nghèo, đó là đặc điểm cá nhân (chính họ để đổ lỗi cho tình trạng nghèo của họ); hoặc nghèo có thể được giải thích như một hệ quả của kinh tế, chính trị và các yếu tố văn hóa trong xã hội (Kết cấu); nghèo đó là kết quả của bệnh tật hoặc may mắn (Fatalistic) đã được phát hiện thông qua phân tích nhân tố.
Nghiên cứu của Yakışık, Dölarslan, Zülfikar [119] về đánh giá tình trạng nghèo từ nhận thức của người nghèo tại Thổ Nhĩ Kỳ đã điều tra 531 người nghèo tại tỉnh Çankiri của Thổ Nhĩ Kỳ dựa trên bộ câu hỏi với 69 đặc điểm để đánh giá về tình trạng nghèo của người dân. Kết quả phân tích nhân tố đã cho thấy có bốn nhóm chính gây ra tình trạng nghèo cho hộ gia đình: sự phân biệt đối xử (discrimination), những nguyên nhân thuộc về khía cạnh đạo đức; những nguyên nhân thuộc về định mệnh (số phận); những nguyên nhân thuộc về sự yếu kém của bản thân (deficiencies). Các công trình nghiên cứu liên quan đến nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số khu vực miền núi ở Việt Nam Đã có nhiều đánh giá và nghiên cứu chuyên sâu về yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của đồng bào DTTS tại Việt Nam và tiếp cận theo nhiều phương pháp khác nhau. Trong báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) [118] đã tổng kết các nhóm DTTS tại Việt Nam đang gặp bất lợi ở 6 yếu tố cơ bản dẫn đến kết quả sinh kế thấp hơn so với nhóm đa số, đó là bất lợi về tiếp cận giáo dục, tín dụng, đất sản xuất, di chuyển lao động, tiếp cận thị trường và định kiến của nhóm đa số đối với các nhóm DTTS.
Không có một yếu tố duy nhất giải thích sự khác biệt về mức sống giữa các nhóm DTTS và nhóm đa số, mà 6 yếu tố trên kết hợp lại tạo thành một “vòng luẩn quẩn” dẫn đến tình trạng nghèo trong đồng bào DTTS giảm chậm. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam [37], dựa trên kết quả khảo sát tại các 14 tỉnh Lạng Sơn, Bình Thuận, Hải Dương, Kon Tum và An Giang, đã phân tích bối cảnh nghèo của đồng bào DTTS, trong đó đề cập đến những khó khăn chính về cơ sở hạ tầng, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội, vấn đề tạo việc làm, chất lượng giáo dục và các rào cản ngôn ngữ. Việt Nam đã có nhiều chính sách giảm nghèo hướng đến đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS) tập trung vào những huyện và xã nghèo nhất, điển hình là Chương trình 135, Chương trình 30a và Nghị quyết 80. Đời sống đồng bào DTTS đã có sự cải thiện về mọi mặt trong thời gian qua.
Tuy nhiên, tỷ lệ nghèo trong đồng bào DTTS giảm còn chậm. Nghèo tại Việt Nam ngày càng tập trung ở đồng bào DTTS. Cụ thể, đồng bào DTTS chiếm dưới 15% tổng dân số cả nước nhưng lại chiếm 47% trong tổng số người nghèo vào năm 2010 (so với 28% vào năm 1998). Trên toàn quốc, có 66% đồng bào DTTS sống ở mức dưới chuẩn nghèo vào năm 2010, trong khi đó chỉ có 13% đồng bào dân tộc đa số (người Kinh) sống ở mức dưới chuẩn nghèo [117].
Trong báo cáo tổng hợp kết quả theo dõi nghèo nông thôn tại mạng lưới các điểm quan trắc giai đoạn 2007-2011 của Oxfam & AAV [83] cũng cho thấy mức độ giảm nghèo không đồng đều giữa các địa bàn dân cư. Tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo thu nhập của Chính phủ tại các vùng DTTS giảm chậm và còn ở mức rất cao. Cuộc sống của đồng bào DTTS còn rất khó khăn với những bất lợi đa chiều, điển hình là bất lợi về điều kiện sống (nước sinh hoạt, nhà vệ sinh), việc làm phi nông nghiệp và chống đỡ rủi ro, tiếp cận thị trường,. Tỷ lệ hộ thuần làm nông nghiệp còn khá cao, trong khi đây là một tiêu chí nghèo quan trọng theo nhận thức của người dân.