CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG 1. Khái luận chung về hợp đồng và vi phạm hợp đồng 1. Khái niệm hợp đồng Hợp đồng xuất hiện cùng với sự xuất hiện của phân công lao động xã hội và nhu cầu trao đổi hàng hóa của xã hội loài người với nhiệm vụ quan trọng là điều tiết các quan hệ tài sản. Cùng với sự phát triển của nhân loại, vị trí và vai trò quan trọng của hợp đồng ngày càng được khẳng định và ngày nay luật hợp đồng được xem là bộ phận không thể thiếu trong mọi hệ thống pháp luật trên thế giới.
Nghiên cứu so sánh cho thấy “hợp đồng”, “thỏa thuận”, “cam kết” hay “thỏa ước” được xem là những thuật ngữ tương đương cho dù có sự khác biệt về sắc thái sử dụng những thuật ngữ này, trong số các thuật ngữ được sử dụng, “hợp đồng” là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp lý quốc gia cũng như quốc tế [82, p. Mặc dù được sử dụng phổ biến nhưng đến nay định nghĩa hợp đồng chỉ được tìm thấy trong hệ thống pháp luật quốc gia mà hoàn toàn vắng bóng trong các văn bản pháp lý quốc tế [82, p. Trên thế giới hiện nay nhìn chung có hai cách tiếp cận về hợp đồng. Cách tiếp cận thứ nhất xem hợp đồng là sự gặp gỡ ý chí của các bên nhằm tạo ra những hệ quả pháp lý nhất định.
Đây là cách tiếp cận của hầu hết các quốc gia trên thế giới cho dù có sự khác biệt ít nhiều trong cách diễn đạt. Theo cách diễn đạt thứ nhất, hợp đồng được xem là sự thỏa thuận, theo đó một hoặc nhiều chủ thể ràng buộc chính mình với một hoặc một số chủ thể khác nhằm chuyển giao, làm hoặc không làm một công việc nhất định. Đây là cách diễn đạt được Pháp [28, art.1378] và Tây Ban Nha [23, art. Cách diễn đạt thứ hai xem hợp đồng là hành vi pháp lý gồm ít nhất hai tuyên bố ý chí để tạo thành một thỏa thuận, hay nói cách khác hợp đồng là tuyên bố ý chí có khả năng tạo ra những hệ quả pháp lý nhất định.
Đại diện cho cách diễn đạt này là Đức [17, art.861], Nhật bản [19, art. Cách tiếp cận thứ hai xem xét hợp đồng ở góc độ rộng hơn, theo đó, hợp đồng được hiểu là ý định tự nguyện chịu ràng buộc của một bên và cách xử sự của bên có ý định chịu ràng buộc là hệ quả của ý định đó. Đây là cách tiếp cận của các quốc gia theo hệ thống Common law. Cách tiếp cận này được thể hiện rõ qua định nghĩa hợp đồng được ghi nhận tại Điều 1 Tuyển tập lần thứ hai về hợp đồng (Restatement (second) of 14 contract) của Hoa Kỳ, theo đó hợp đồng được hiểu là “lời hứa hoặc tập hợp các lời hứa mà pháp luật dự liệu các biện pháp khắc phục trong trường hợp có hành vi vi phạm, hoặc pháp luật thừa nhận, theo cách thức nào đó, việc thực hiện nó như một nghĩa vụ”.1] Như vậy, tùy thuộc vào cách tiếp cận của mỗi hệ thống pháp luật mà hợp đồng được hiểu là sự gặp gỡ của ý chí làm phát sinh những hệ quả pháp lý nhất định hay ý định chịu ràng buộc với cách xử sự là hệ quả của ý định đó.
Mặc dù có sự khác biệt trong cách tiếp cận nhưng các hệ thống pháp luật đều thừa nhận yếu tố đặc trưng của hợp đồng là sự gặp gỡ ý chí nhằm tạo ra các hệ quả pháp lý ràng buộc các bên đã xác lập quan hệ hợp đồng [82, p. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, định nghĩa hợp đồng được ghi nhận tại Điều 388 BLDS năm 2005 và Điều 385 BLDS năm 2015. Theo đó, hợp đồng được hiểu là “sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Có thể nhận thấy định nghĩa hợp đồng của BLDS năm 2015 được thể hiện cô đọng, có tính khái quát cao, phản ánh được bản chất của hợp đồng và do đó, đáp ứng được yêu cầu được đặt ra đối với quy phạm của đạo luật gốc - điều chỉnh mọi quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực tư.
Dựa trên định nghĩa hợp đồng được ghi nhận tại Điều 388 BLDS năm 2005, Điều 385 BLDS năm 2015 và các cách tiếp cận khái niệm hợp đồng chính trên thế giới hiện nay, có thể nhận thấy BLDS Việt Nam đã có cách tiếp cận khái niệm hợp đồng tương tự các quốc gia theo hệ thống civil law. Như vậy, cách tiếp cận khái niệm hợp đồng của BLDS năm 2005 cũng như BLDS năm 2015 đã thể hiện rõ bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm thiết lập các quyền và nghĩa vụ nhất định của các chủ thể, điều này được thể hiện rõ thông qua mối liên hệ pháp lý chặt chẽ giữa các chủ thể đã tự nguyện xác lập hợp đồng, theo đó quyền của chủ thể quyền chỉ có thể được đáp ứng thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của chủ thể nghĩa vụ. Từ những phân tích trên, NCS rút ra khái niệm hợp đồng như sau: Hợp đồng là sự ràng buộc pháp lý giữa các chủ thể đã tự nguyện thỏa thuận, xác lập các quyền và nghĩa vụ nhằm đáp ứng hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Khái niệm vi phạm hợp đồng Trong nền kinh tế thị trường, dựa trên nhu cầu của bản thân, các chủ thể sẽ tiến hành thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện nhằm trao đổi hàng hóa, dịch vụ và do đó cơ chế thị trường sẽ đóng vai trò đảm bảo sự cân bằng giữa yếu tố cung và cầu, ngược lại, kinh tế thị trường sẽ không thể hình thành nếu như không có sự tồn tại của hợp đồng.
Đặc trưng cơ bản của hợp đồng là hình thành trên cơ sở tự nguyện, thống nhất ý chí của các 15 bên nhằm làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong đời sống xã hội và xác lập, thực hiện hợp đồng chính là cách thức cơ bản để các chủ thể có thể đáp ứng một cách hiệu quả nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tầm quan trọng của hợp đồng nói chung và hiệu lực của hợp đồng nói riêng đã được triết gia Hy Lạp cổ đại lừng danh Aristotle chỉ ra trong tác phẩm “Rhetorics”: “Nhìn chung, luật là một dạng của hợp đồng vì vậy hành vi không tuân thủ hay vi phạm hợp đồng cũng chính là hành vi vi phạm luật. Hơn nữa hầu hết các giao dịch thông thường và các giao dịch được xác lập trên cơ sở tự nguyện đều được thực hiện dựa trên cơ sở hợp đồng, vì vậy nếu hiệu lực của hợp đồng bị phá hủy thì mối quan hệ giữa con người với con người cũng sẽ bị phá hủy” [57, p. Nhìn chung, luật hợp đồng của các quốc gia cũng như quốc tế đều có nguồn gốc hoặc chịu ảnh hưởng của luật La Mã và đặc biệt là chịu ảnh hưởng của nguyên tắc Pacta sunt servanda (mọi thỏa thuận đều phải được thực hiện).
Điều đó có nghĩa là khi một hợp đồng được xác lập thì hợp đồng đó sẽ có hiệu lực bắt buộc đối với các bên đã xác lập hợp đồng hay nói cách khác là sẽ áp đặt nghĩa vụ lên các bên (trong hợp đồng song vụ) hoặc áp đặt nghĩa vụ lên một bên (trong hợp đồng đơn vụ). Do vậy, hành vi không thực hiện nghĩa vụ hay không tôn trọng cam kết của một bên trong hợp đồng được biết đến là hành vi sai trái. Để chỉ đến hành vi không thực hiện đúng những gì mà các bên đã tự nguyện cam kết khi xác lập hợp đồng, các hệ thống pháp luật trên thế giới sử dụng các thuật ngữ khác nhau như “không thực hiện hợp đồng (inexécution hay non-performance)”, “vi phạm hợp đồng (breach of contract)” hay “vi phạm nghĩa vụ (Pflichtverletzung)”. Mặc dù có sự khác biệt trong việc sử dụng thuật ngữ nhưng khoa học pháp lý thế giới đều tiếp cận hành vi không thực hiện đúng những gì mà các bên đã tự nguyện cam kết khi xác lập hợp đồng theo một trong hai cách: cách tiếp cận đơn nhất hay cách tiếp cận đơn (unitary approach) và cách tiếp cận kép (two tier approach) [91, p.
Cách tiếp cận đơn là cách tiếp cận sử dụng một khái niệm duy nhất để chỉ mọi hành vi không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng, cho dù là hành vi không thực hiện một phần, không thực hiện toàn bộ, chậm thực hiện hay có khiếm khuyết trong việc thực hiện hợp đồng. Cách tiếp cận đơn là cách tiếp cận có nguồn gốc từ luật hợp đồng Anh và là cách tiếp cận của các quốc gia thuộc hệ thống Common law cũng như là cách tiếp cận của luật hợp đồng hiện đại của Pháp và Hà Lan [78]. Cách tiếp cận kép được biết đến là cách tiếp cận khái niệm hành vi không thực hiện đúng cam kết của các chủ thể trong quan hệ hợp đồng dựa trên nguyên nhân vi phạm [101, p. Khác với cách tiếp cận đơn, cách tiếp cận kép chỉ rõ từng trường hợp 16 không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng như vi phạm hợp đồng do bất khả kháng, vi phạm hợp đồng do chậm thực hiện nghĩa vụ và vi phạm hợp đồng do thực hiện hợp đồng có khiếm khuyết.
Điều đó có nghĩa là cách tiếp cận này không đưa ra một khái niệm chung để chỉ mọi hành vi không thực hiện đúng cam kết của các chủ thể trong quan hệ hợp đồng mà thay vào đó liệt kê từng trường hợp vi phạm cụ thể. Cách tiếp cận kép là cách tiếp cận được luật nghĩa vụ cũ của Đức và của các quốc gia chịu ảnh hưởng của Đức như Áo hay Thụy Sĩ [96, p. Tuy nhiên, do sự phân biệt cứng nhắc trong việc liệt kê các trường hợp không thực hiện đúng cam kết trong quan hệ hợp đồng của cách tiếp cận này dẫn đến sự phức tạp quá mức và thiếu tính khả thi [68, p.60] trong áp dụng pháp luật, do đó, cách tiếp cận này không được nhiều hệ thống pháp luật áp dụng. Ngày nay, cách tiếp cận đơn được xem là cách tiếp cận chiếm ưu thế trong các hệ thống pháp luật quốc gia cũng như quốc tế [68, p.
Điều này được thể hiện rõ qua việc cả ba văn bản pháp lý quốc tế về luật hợp đồng là CISG, UPICC và PECL đều sử dụng cách tiếp cận đơn để chỉ đến mọi hành vi không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng.