Tổng quan luận án

Văn hóa Quan họ Bắc Ninh là loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian gắn liền với đời sống cƣ dân vùng Kinh Bắc, đã đƣợc UNESCO ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2009. Trƣớc năm 1945 và nửa đầu thế kỷ XX, Quan họ cơ bản duy trì đƣợc không gian, lề lối và môi trƣờng diễn xƣớng cổ truyền. Tuy nhiên, từ sau năm 1954 (khi Quan họ bắt đầu đƣợc thu thanh có nhạc cụ đệm trên Đài Tiếng nói Việt Nam), năm 1969 (thành lập Đoàn Dân ca Quan họ Hà Bắc), năm 1986 (thời kỳ Đổi mới) và đặc biệt từ mốc năm 2009 đến nay, Văn hóa Quan họ đã có những biến đổi sâu sắc về chủ thể thực hành, không gian văn hóa, tổ chức sinh hoạt, phƣơng thức diễn xƣớng và ứng xử xã hội.

Khoảng trống nghiên cứu đƣợc tác giả Hà Chí Cƣờng xác định xuất phát từ thực tế: phần lớn các công trình trƣớc đây tập trung nghiên cứu thuần túy dƣới góc độ âm nhạc học (bài bản, thang âm, điệu thức) hoặc chỉ mô tả sinh hoạt Quan họ mang tính cục bộ tại một vài làng cổ riêng lẻ (nhƣ làng Diềm, làng Sim Bịu), chƣa có công trình nào khảo sát và đánh giá một cách toàn diện, có hệ thống dƣới góc nhìn chuyên ngành Văn hóa học về sự biến đổi của Văn hóa Quan họ nhƣ một chỉnh thể nguyên hợp gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận, lý thuyết tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu biến đổi Văn hóa Quan họ; vận dụng khảo sát, đánh giá thực trạng biến đổi Văn hóa Quan họ Bắc Ninh; luận giải nguyên nhân và quy luật tác động tới quá trình biến đổi, khẳng định các giá trị của di sản trong đời sống ngƣời dân Bắc Ninh, từ đó tạo dựng cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong giai đoạn hiện nay.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án đƣợc xác định gồm 4 nhiệm vụ:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận án.
  2. Xây dựng một số khái niệm công cụ về Văn hóa Quan họ và những khái niệm liên quan; xác định các lý thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu biến đổi Văn hóa Quan họ.
  3. Phân tích thực trạng biến đổi Văn hóa Quan họ Bắc Ninh qua một số thành tố cốt lõi.
  4. Xác định nguyên nhân và dự báo xu hƣớng biến đổi của Văn hóa Quan họ Bắc Ninh.

Đối tƣợng nghiên cứu của luận án tập trung vào ba nội dung:

  • Nhận diện thực trạng, nguyên nhân cốt lõi tác động đến quá trình biến đổi của Văn hóa Quan họ Bắc Ninh;
  • Những biểu hiện và những tác động cụ thể của sự biến đổi Văn hóa Quan họ Bắc Ninh đối với đời sống văn hóa của ngƣời dân, trực tiếp là những ngƣời thực hành Văn hóa Quan họ Bắc Ninh;
  • Nhận định những giá trị cốt lõi của Văn hóa Quan họ và xu hƣớng biến đổi, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp bảo tồn và phát huy di sản trong đời sống đƣơng đại.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về không gian: Khảo sát tại 6 làng Quan họ gốc trong số 44 làng Quan họ gốc thuộc tỉnh Bắc Ninh, gồm: Làng Diềm (xã Hòa Long, thành phố Bắc Ninh), Sim Bịu (xã Liên Bão, huyện Tiên Du), Y Na (phƣờng Kinh Bắc, thành phố Bắc Ninh), Bồ Sơn (phƣờng Võ Cƣờng, thành phố Bắc Ninh), Thị Cầu (Khu phố 1, 2, 3, 4, phƣờng Thị Cầu, thành phố Bắc Ninh), Yên Mẫn (phƣờng Kinh Bắc, thành phố Bắc Ninh); cùng 6 làng Quan họ mới gồm 5 làng thuộc xã Kim Chân (Đạo Chân, Kim Đôi, Quỳnh Đôi, Ngọc Đôi, Phú Xuân) và Khu phố số 4 (phƣờng Đáp Cầu, thành phố Bắc Ninh).
  • Về thời gian: Tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 2009 (thời điểm UNESCO ghi danh) đến năm 2018; đồng thời đối sánh với các mốc biến đổi lịch sử trƣớc đó gồm năm 1954, năm 1969 và năm 1986.
  • Về nội dung: Tập trung vào 4 thành tố biến đổi cốt lõi: (1) Ngƣời Quan họ; (2) Không gian Văn hóa Quan họ; (3) Tổ chức, phƣơng thức hoạt động và diễn xƣớng Quan họ; (4) Ứng xử xã hội Quan họ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm luận 3 nhóm công trình nghiên cứu chính liên quan đến đề tài:

Nhóm nghiên cứu về Quan họ:

  • Giai đoạn trƣớc 1945: Các khảo cứu sơ khởi của Chu Ngọc Chi, Vũ Bằng, Việt Sinh, Minh Trúc, Nguyễn Duy Kiện, Mạnh Quỳnh, Toan Ánh. Đáng chú ý là luận án tiến sĩ Hát đối đáp nam nữ thanh niên của Nguyễn Văn Huyên bảo vệ năm 1934 tại Đại học Sorbonne (Paris), đề cập đến Dân ca Quan họ và Hội Lim; công trình Việt Nam văn học sử yếu của Dƣơng Quảng Hàm.
  • Giai đoạn kháng chiến và trƣớc năm 1975: Các công trình sƣu tầm, nghiên cứu của Nguyễn Đình Phúc, Nguyễn Đình Tấn, Nguyễn Viêm, Lƣu Khâm, Lƣu Hữu Phƣớc, Tú Ngọc. Tiêu biểu là cuốn Dân ca Quan họ Bắc Ninh (1962) của nhóm tác giả Nguyễn Văn Phú - Lƣu Hữu Phƣớc - Tú Ngọc - Nguyễn Viêm và tập tiểu luận Một số vấn đề về dân ca Quan họ. Ở nƣớc ngoài có các nghiên cứu của Trần Văn Khê (Âm nhạc truyền thống Việt Nam, Hát Quan họ).
  • Giai đoạn sau 1975 đến nay: Công trình Quan họ - nguồn gốc và quá trình phát triển (1978) của Đặng Văn Lung, Hồng Thao, Trần Linh Quý; các sách Dân ca Quan họ (1997) và 300 bài Dân ca Quan họ Bắc Ninh (2002) của Hồng Thao; Dân ca Quan họ - Lời ca và bình giải (2001) của Lê Danh Khiêm và Hoắc Công Huynh; luận án phó tiến sĩ của Lê Văn Toàn tại Ukraina (1998) về Quan họ, truyền thống và đương đại. Gần đây có luận án của Chu Thị Huyền Yến (2016) về các yếu tố xã hội tác động đến bảo tồn Quan họ.
  • Tác giả nƣớc ngoài: Luận án tiến sĩ của Lê Ngọc Chân (2002) về nghệ thuật Quan họ trong mối quan hệ với Chèo và Chầu văn; luận án tiến sĩ (2007) và cuốn sách Sounding Out Heritage: Cultural Politics and the Social Practice of QH Folk Song in Northern Vietnam (2013) của nhà nhân học Lauren Meeker; các tham luận của Deborah Wong (2006).

Nhóm nghiên cứu về Văn hóa Quan họ: Thuật ngữ "Văn hóa Quan họ" đƣợc ghi nhận xuất hiện từ bài viết của Lâm Vinh năm 1972 ("Vài ý kiến về phƣơng hƣớng bảo tồn, phát triển vốn Văn hóa Quan họ"). Các tác giả Lê Văn Hảo (1963), Toan Ánh (1974), Lê Sỹ Giáo (1993) đã khảo sát không gian diễn xƣớng, lễ hội và nghi thức thờ thần. Năm 2000, tập chuyên luận Một số vấn đề về Văn hóa Quan họ đƣợc Trung tâm Văn hóa Quan họ Bắc Ninh xuất bản, trong đó Lê Danh Khiêm định nghĩa Văn hóa Quan họ là tổng hòa các loại hình văn hóa truyền thống làng xã Bắc Ninh. Năm 2006, xuất bản hàng loạt ấn phẩm: Không gian Văn hóa Quan họ, Vùng Văn hóa Quan họ Bắc Ninh, Quan họ Bắc Ninh - Thực trạng và giải pháp bảo tồn, cùng kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế của Bộ Văn hóa Thông tin năm 2006.

Nhóm nghiên cứu về biến đổi văn hóa và biến đổi Văn hóa Quan họ:

  • Về biến đổi văn hóa nói chung: Các công trình của Pierre Gourou (1936), Lƣơng Văn Hy (1992, 2003), Nguyễn Thị Phƣơng Châm (Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay - khảo sát Đồng Kỵ, Trang Liệt, Đình Bảng), Nguyễn Văn Dân (2011), Đỗ Lan Phƣơng (2010), cùng các luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Quyết (2013), Vũ Diệu Trung (2013), Đinh Công Tuấn, Nguyễn Thị Bích Thủy.
  • Về biến đổi Văn hóa Quan họ: Các bài tham luận năm 2006 của Nguyễn Trọng Ánh (biến đổi điệu tính), Nguyễn Thụy Loan (đổi thay trong lối hát), Trần Thị An (sự biến đổi không gian và khái niệm "lối chơi Quan họ phố"); các công bố của chính tác giả Hà Chí Cƣờng (2011, 2012); luận án của Đinh Thị Thanh Huyền (2015) khảo sát tục chơi Quan họ tại hai làng Diềm và Sim Bịu; luận án của Trần Minh Chính (2016) khảo sát sinh hoạt Quan họ tại làng Diềm.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình đi trƣớc thƣờng chỉ khảo sát đơn lẻ trong phạm vi một vài làng cổ, chƣa có sự đối sánh trên diện rộng giữa hệ thống làng gốc và làng mới, chƣa phân tích quá trình biến đổi Văn hóa Quan họ nhƣ một chỉnh thể nguyên hợp (không gian, thời gian, con ngƣời, tổ chức và hành vi ứng xử) dƣới lăng kính của lý thuyết vùng văn hóa, tiếp biến văn hóa và quan điểm di sản dựa vào cộng đồng. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách cung cấp dữ liệu thực chứng định lƣợng và định tính tại 12 địa bàn đại diện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án tiếp cận đối tƣợng nghiên cứu dựa trên các lý thuyết và quan điểm khoa học sau:

Lý thuyết / Quan điểm Đại diện tiêu biểu Nội dung chính ứng dụng trong luận án
Tiến hóa luận E.B. Tylor, L.H. Morgan Xem xét các giai đoạn vận động của văn hóa theo trật tự lịch sử
Truyền bá luận F. Graebner, W. Schmidt, G.E. Smith, W.J. Perry Phân tích sự lan tỏa của các yếu tố văn hóa thông qua tiếp xúc
Tƣơng đối văn hóa F. Boas, M.J. Herscovits Đánh giá thực hành văn hóa trong hoàn cảnh lịch sử và môi trƣờng cụ thể
Vùng văn hóa C. Wissler, A.L. Kroeber, H. Driver, Erikh, Ngô Đức Thịnh Phân tích "trung tâm văn hóa", "tổ hợp văn hóa", hiện tƣợng "hóa thạch ngoại vi" và tính chất tiểu vùng văn hóa Kinh Bắc
Tiếp biến văn hóa R. Redfield, L. Broom Luận giải sự giao lƣu, thâm nhập của sân khấu hóa, trang thiết bị âm thanh và nhạc cụ phƣơng Tây vào diễn xƣớng Quan họ
Thuyết chức năng A.R. Radcliffe-Brown, B. Malinowski Xem xét chức năng liên kết cộng đồng, nghi lễ và giao tiếp của Văn hóa Quan họ
Tân tiến hóa & Sinh thái học văn hóa L.A. White, J.H. Steward Đánh giá vai trò của môi trƣờng sinh thái và điều kiện kinh tế - xã hội đối với sự biến đổi văn hóa
Di sản dựa vào cộng đồng UNESCO Khẳng định vai trò của cộng đồng làng xã là chủ thể sáng tạo, thực hành, quyết định sự bảo tồn và thích ứng của di sản

Khái niệm công cụ cốt lõi đƣợc tác giả xây dựng: Văn hóa Quan họ là loại hình văn hóa tổng hợp, mang tính đặc thù, bao gồm cả văn hóa vật thể, phi vật thể nhƣ nghệ thuật âm nhạc, trình diễn, trang phục, ứng xử... đƣợc sáng tạo và thực hành bởi cộng đồng ngƣời Việt ở làng, xã thuộc Bắc Ninh và một phần ở Bắc Giang, là sản phẩm đƣợc kết tinh từ truyền thống văn hóa vùng Kinh Bắc nhiều thế kỷ trƣớc, không ngừng đƣợc bồi đắp, phát triển cho đến ngày nay.

Phƣơng pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lƣợng:

  • Phƣơng pháp khảo sát, điền dã thực địa: Sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu cá nhân (nghệ nhân, ngƣời quản lý văn hóa, nhà nghiên cứu) và phỏng vấn nhóm (thành viên các câu lạc bộ Quan họ); quan sát tham dự tại các lễ hội, canh hát và sự kiện văn hóa.
  • Phƣơng pháp điều tra bảng hỏi định lƣợng: Sử dụng phiếu điều tra gồm 28 câu hỏi về sinh hoạt, phong tục, diễn xƣớng và giá trị di sản. Tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên theo cụm dân cƣ qua 2 đợt. Tổng số phiếu phát ra: 620 phiếu, thu về: 581 phiếu, loại bỏ phiếu lỗi còn lại 500 phiếu hợp lệ đƣợc phân bổ nhƣ sau:
Địa bàn khảo sát Loại hình địa bàn Số phiếu hợp lệ
Sim Bịu (xã Liên Bão, huyện Tiên Du) Làng Quan họ gốc 30
Làng Diềm (xã Hòa Long, TP. Bắc Ninh) Làng Quan họ gốc 54
Y Na (phƣờng Kinh Bắc, TP. Bắc Ninh) Làng Quan họ gốc 23
Bồ Sơn (phƣờng Võ Cƣờng, TP. Bắc Ninh) Làng Quan họ gốc 50
Thị Cầu (Khu phố 1, 2, 3, 4, TP. Bắc Ninh) Làng Quan họ gốc 63
Yên Mẫn (phƣờng Kinh Bắc, TP. Bắc Ninh) Làng Quan họ gốc 48
5 làng xã Kim Chân (Đạo Chân: 35, Kim Đôi: 42, Quỳnh Đôi: 30, Ngọc Đôi: 45, Phú Xuân: 36) Làng Quan họ mới 188
Khu phố số 4 (phƣờng Đáp Cầu, TP. Bắc Ninh) Làng Quan họ mới 44
Tổng cộng 12 địa bàn 500
  • Phƣơng pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Tập hợp và xử lý 799 tài liệu thuộc thƣ mục nghiên cứu không gian văn hóa Bắc Ninh (579 tài liệu về Quan họ, 220 tài liệu về vùng văn hóa Bắc Ninh), các văn bản quản lý nhà nƣớc, nghị quyết và kỷ yếu hội thảo khoa học.
  • Các phƣơng pháp bổ trợ: Phƣơng pháp lịch sử - logic, phƣơng pháp so sánh, thống kê mô tả.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái lược về địa bàn nghiên cứu

Chƣơng 1 (33 trang) trình bày bức tranh tổng quan về lịch sử nghiên cứu Quan họ gần một thế kỷ qua, phân tích hệ thống khái niệm công cụ, khung lý thuyết và phƣơng pháp tiếp cận chuyên ngành Văn hóa học kết hợp liên ngành. Đồng thời, chƣơng này giới thiệu chi tiết về địa bàn khảo sát gồm 8 đơn vị hành chính của tỉnh Bắc Ninh (1 thành phố, 1 thị xã, 6 huyện với 126 xã, phƣờng, thị trấn). Tác giả làm rõ đặc điểm lịch sử, thiết chế văn hóa, truyền thống kết chạ và sinh hoạt Quan họ của 6 làng Quan họ gốc (Làng Diềm thờ Thủy tổ Quan họ Đức Vua Bà với lễ hội ngày 6/2 âm lịch; Sim Bịu kết chạ với Làng Diềm; Y Na chỉ hát canh với làng kết chạ Bồ Sơn; Bồ Sơn kết chạ với Khả Lễ và Y Na; Thị Cầu với đặc trƣng gọi tổ chức là "Sân Quan họ"; Yên Mẫn với lễ hội 10-12/2 âm lịch) và 6 làng Quan họ mới thuộc xã Kim Chân và phƣờng Đáp Cầu.

Chương 2: Tiểu vùng văn hóa Bắc Ninh và Văn hóa Quan họ truyền thống

Chƣơng 2 (36 trang) luận giải bối cảnh địa lý, lịch sử của tiểu vùng văn hóa Bắc Ninh trong không gian xứ Kinh Bắc cổ. Luận án phân tích những yếu tố cốt lõi cấu thành diện mạo Văn hóa Quan họ truyền thống:

  • Không gian văn hóa nguyên hợp: Gắn với đình, đền, chùa, bến nƣớc, cây đa và đặc biệt là không gian "nhà chứa" - nơi diễn ra các canh hát thâu đêm suốt sáng.
  • Chủ thể thực hành và tổ chức: Hình thức tổ chức "Bọn Quan họ" đồng nhất về giới tính (Bọn Quan họ nam gồm các liền anh Hai, Ba, Tƣ, Năm, Sáu; Bọn Quan họ nữ gồm các liền chị Hai, Ba, Tƣ, Năm, Sáu).
  • Thiết chế phong tục đặc thù: Tục kết chạ giữa các làng, tục ngủ bọn để luyện giọng và truyền nghề từ nhỏ; quy ƣớc nghiêm ngặt khi các liền anh, liền chị đã kết bạn/kết chạ thì không đƣợc lấy nhau làm vợ chồng nhằm giữ gìn sự trong sáng, gắn kết bền vững của tình bạn Quan họ.
  • Trình thức và lề lối diễn xƣớng: Quy chuẩn hát đối đáp nghiêm ngặt, chia làm 3 chặng: Hát giọng lề lối (khoảng 10 bài cổ có tính quy chuẩn cao), Hát giọng vặt (trên 200 bài bản phong phú) và Hát giọng giã bạn (khoảng 5 bài tiễn biệt). Nghệ thuật ca hát đòi hỏi kỹ thuật vang, rền, nền, nảy, hát đôi không có nhạc cụ đệm; kết hợp văn hóa giao tiếp, ứng xử lịch lãm, khiêm nhƣờng, nghệ thuật têm trầu cánh phƣợng và trang phục nón quai thao, khăn xếp, áo tứ thân, áo năm thân mền the.

Chương 3: Thực trạng biến đổi Văn hóa Quan họ Bắc Ninh hiện nay

Chƣơng 3 (45 trang) là chƣơng trọng tâm thực nghiệm của luận án, công bố và phân tích các số liệu định lƣợng từ 500 phiếu điều tra cùng dữ liệu phỏng vấn sâu:

  • Biến đổi bối cảnh và không gian: Tác động của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp làm thay đổi cơ cấu nghề nghiệp (Bảng 3.1); không gian sinh hoạt Quan họ chuyển dịch từ nhà chứa, sân đình cổ truyền sang nhà văn hóa thôn, sân khấu hội chợ, hội trƣờng và các không gian công cộng đô thị (Biểu đồ 3.1, Bảng 3.2).
  • Biến đổi mô hình tổ chức: Mô hình "Bọn Quan họ" cổ truyền mang tính khép kín theo làng xã dần đƣợc thay thế bởi mô hình "Câu lạc bộ Quan họ" và các đội văn nghệ quần chúng mang tính chất mở, kết nạp thành viên đa dạng độ tuổi và giới tính (Biểu đồ 3.3, Bảng 3.3).
  • Biến đổi phƣơng thức diễn xƣớng và kỹ thuật âm nhạc: Diễn xƣớng đƣợc đƣa lên sân khấu hóa (Biểu đồ 3.5); xuất hiện việc sử dụng micro, loa tăng âm và nhạc đệm điện tử, dàn nhạc dân tộc cải biên thay cho hình thức hát chay, hát mộc truyền thống (Bảng 3.4, Biểu đồ 3.6, Biểu đồ 3.7); lề lối hát chuyển dịch sang ƣu tiên các giọng vặt ngắn gọn, vui nhộn, cắt bớt chặng hát giọng lề lối phức tạp.
  • Biến đổi trang phục và ứng xử: Sự cách tân về chất liệu, màu sắc trang phục biểu diễn, nón thúng quai thao và các phụ kiện trình diễn mang tính sân khấu (Biểu đồ 3.8, Biểu đồ 3.9); văn hóa ứng xử, tục kết chạ và quy ƣớc kiêng kết hôn giữa các bạn Quan họ có biểu hiện mờ nhạt dần trong nhận thức của một bộ phận ngƣời thực hành trẻ tuổi.

Chương 4: Những yếu tố tác động đến xu hướng biến đổi Văn hóa Quan họ và những vấn đề đặt ra

Chƣơng 4 (34 trang) tổng kết các nguyên nhân chi phối quá trình biến đổi, gồm:

  • Các yếu tố kinh tế - xã hội: Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi cơ cấu lao động và mở rộng không gian đô thị tại Bắc Ninh.
  • Yếu tố giao lƣu, tiếp biến và truyền thông: Sự phổ biến của các phƣơng tiện truyền thông đại chúng, kỹ thuật thu âm, trình diễn sân khấu và nhu cầu thƣởng thức âm nhạc của công chúng đƣơng đại.
  • Chính sách quản lý văn hóa và phát triển du lịch: Các đề án bảo tồn sau khi đƣợc UNESCO ghi danh, phong trào xây dựng làng văn hóa, hội thi hát Quan họ định kỳ.

Chƣơng này cũng công bố các dữ liệu về thuận lợi (Bảng 4.1), thái độ của lớp trẻ (Bảng 4.2), những thách thức đe dọa làm biến dạng di sản (Biểu đồ 4.1) và các biện pháp bảo tồn tốt nhất đƣợc cộng đồng lựa chọn (Biểu đồ 4.2). Từ đó, tác giả đặt ra các vấn đề cấp thiết về việc cân bằng giữa bảo tồn nguyên gốc và thích ứng phát triển; khẳng định nguyên tắc bảo tồn di sản phải đặt cộng đồng làng xã vào vị trí trung tâm, tránh khuynh hƣớng thƣơng mại hóa và hành chính hóa di sản.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận:

  • Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đầu tiên về cơ sở lý luận và thực tiễn biến đổi Văn hóa Quan họ Bắc Ninh dƣới góc độ chuyên ngành Văn hóa học trong bối cảnh hiện nay.
  • Hệ thống hóa các quan niệm nghiên cứu trƣớc đây, xây dựng định nghĩa khoa học hoàn chỉnh về "Văn hóa Quan họ" nhƣ một chỉnh thể phức hợp gồm cả thành tố vật thể và phi vật thể; phân lập rõ ràng 4 thành tố cốt lõi của Văn hóa Quan họ (chủ thể, không gian, tổ chức/diễn xƣớng, ứng xử văn hóa).
  • Vận dụng lý thuyết vùng văn hóa, tiếp biến văn hóa và quan điểm di sản dựa vào cộng đồng để luận giải căn nguyên nội sinh và ngoại sinh thúc đẩy quá trình biến đổi của di sản.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  • Khảo sát thực chứng và lƣợng hóa diện mạo biến đổi của Văn hóa Quan họ Bắc Ninh qua mẫu khảo sát 500 phiếu điều tra tại 12 địa bàn đại diện (6 làng gốc và 6 làng mới), cung cấp hệ thống số liệu cụ thể về nhận thức, thị hiếu và thực hành di sản của ngƣời dân.
  • Đánh giá khách quan quy luật chuyển hóa từ mô hình sinh hoạt khép kín truyền thống (Bọn Quan họ, hát canh nhà chứa, hát mộc) sang mô hình xã hội hóa đƣơng đại (Câu lạc bộ Quan họ, sân khấu hóa, sử dụng tăng âm/nhạc đệm).
  • Đề xuất các khuyến nghị chính sách và giải pháp bảo tồn thực tiễn: Tôn trọng quyền tự quyết của cộng đồng chủ thể; kết hợp giữa bảo tồn "tĩnh" (tƣ liệu hóa, phục hồi không gian nhà chứa, vinh danh nghệ nhân truyền dạy giọng lề lối) và bảo tồn "động" (hoạt động câu lạc bộ, giáo dục di sản trong nhà trƣờng, quản lý diễn xƣớng sân khấu phục vụ du lịch có kiểm soát).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về phạm vi không gian: Luận án mới tập trung khảo sát thực địa tại 12 địa bàn thuộc thành phố Bắc Ninh và huyện Tiên Du (đại diện cho vùng lõi Quan họ Bắc Ninh), chƣa mở rộng điều tra định lƣợng trên toàn bộ 49 làng Quan họ thuộc cả hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang nhƣ hồ sơ ghi danh của UNESCO.
  • Về phạm vi nội dung: Các phân tích tập trung chủ yếu vào khía cạnh biến đổi văn hóa - xã hội và tổ chức sinh hoạt, chƣa đi sâu phân tích kỹ thuật ký âm đối sánh chi tiết về mặt nhạc học đối với toàn bộ hơn 300 làn điệu cải biên.

Hƣớng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát so sánh biến đổi Văn hóa Quan họ tại các làng Quan họ cổ và mới thuộc tỉnh Bắc Giang, tạo nên bức tranh đối sánh liên tỉnh toàn diện.
  • Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế chuyển giao kinh tế - văn hóa trong khai thác du lịch di sản Quan họ và tác động của không gian mạng, truyền thông kỹ thuật số đối với việc trao truyền di sản cho thế hệ trẻ.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các chuyên ngành Văn hóa học, Nhân học, Dân tộc học, Nghệ thuật học: Luận án cung cấp khung lý thuyết về biến đổi văn hóa, mô hình cấu trúc 4 thành tố Văn hóa Quan họ và phƣơng pháp luận kết hợp định tính - định lƣợng trong nghiên cứu di sản văn hóa phi vật thể.
  • Đối với các nhà quản lý văn hóa, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan tham mƣu chính sách: Luận án là tài liệu thực chứng cung cấp các căn cứ dữ liệu về thực trạng sử dụng loa/nhạc đệm, mô hình câu lạc bộ và thái độ của ngƣời dân, phục vụ trực tiếp cho việc hoạch định chính sách bảo tồn, phân bổ kinh phí hỗ trợ nghệ nhân và quản lý lễ hội.
  • Các phần có giá trị tham khảo cao: Bảng tổng hợp các lý thuyết biến đổi văn hóa (Chƣơng 1); Bộ dữ liệu điều tra định lƣợng 500 phiếu tại 12 làng Quan họ gốc và mới (Chƣơng 3); Các khuyến nghị về mô hình bảo tồn di sản dựa vào cộng đồng (Chƣơng 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xây dựng mẫu khảo sát định lượng như thế nào để đảm bảo tính đại diện cho Văn hóa Quan họ Bắc Ninh?
Luận án tiến hành điều tra 500 phiếu hợp lệ (chọn từ 581 phiếu thu về trên tổng số 620 phiếu phát ra) qua 2 đợt, chọn mẫu ngẫu nhiên theo cụm dân cƣ tại 12 địa bàn thuộc thành phố Bắc Ninh và huyện Tiên Du. Mẫu khảo sát chia đều thành hai nhóm: 6 làng Quan họ gốc (Sim Bịu: 30 phiếu, Làng Diềm: 54 phiếu, Y Na: 23 phiếu, Bồ Sơn: 50 phiếu, Thị Cầu: 63 phiếu, Yên Mẫn: 48 phiếu) và 6 làng Quan họ mới (188 phiếu tại 5 làng thuộc xã Kim Chân gồm Đạo Chân, Kim Đôi, Quỳnh Đôi, Ngọc Đôi, Phú Xuân; 44 phiếu tại Khu phố 4 phƣờng Đáp Cầu).

2. Khái niệm "Văn hóa Quan họ" được luận án xác định khác biệt như thế nào so với "Dân ca Quan họ"?
Theo tác giả, "Dân ca Quan họ" chủ yếu chỉ thành tố nghệ thuật âm nhạc và lời ca, trong khi "Văn hóa Quan họ" là một loại hình văn hóa tổng hợp mang tính nguyên hợp bao gồm cả yếu tố vật thể (đình, đền, miếu, nhà chứa, không gian làng xã) và phi vật thể (nghệ thuật âm nhạc, kỹ thuật trình diễn vang-rền-nền-nảy, trang phục nón quai thao áo the, phong tục têm trầu cánh phƣợng, tập tục kết chạ, tục ngủ bọn và văn hóa ứng xử lịch lãm, khiêm nhƣờng).

3. Bốn khía cạnh biến đổi cốt lõi của Văn hóa Quan họ được luận án phân tích cụ thể là những khía cạnh nào?
Bốn khía cạnh gồm: (1) Ngƣời Quan họ (sự thay đổi về cơ cấu nghề nghiệp, lứa tuổi, nhận thức và sự tham gia của thế hệ trẻ); (2) Không gian Văn hóa Quan họ (dịch chuyển từ không gian nhà chứa, sân đình sang nhà văn hóa, sân khấu đô thị); (3) Tổ chức, phƣơng thức hoạt động và diễn xƣớng (chuyển đổi từ Bọn Quan họ sang Câu lạc bộ Quan họ, đƣa lên sân khấu, sử dụng loa và nhạc cụ đệm, rút gọn lề lối hát); (4) Ứng xử xã hội Quan họ (sự biến đổi trong quan hệ kết bạn, tục kết chạ và quy ƣớc kiêng kết hôn).

4. Tục kết chạ và quy ước kiêng kết hôn giữa các liền anh, liền chị có ý nghĩa gì trong Văn hóa Quan họ truyền thống?
Tục kết chạ giữa các làng (nhƣ giữa Làng Diềm và Sim Bịu, giữa Y Na và Bồ Sơn) là hình thức kết nghĩa bền chặt giữa các cộng đồng làng xã vùng Kinh Bắc. Đi liền với kết chạ, các liền anh và liền chị khi đã tham gia bọn Quan họ kết bạn với nhau thì tuyệt đối không đƣợc kết hôn làm vợ chồng. Quy ƣớc này giúp duy trì tình bạn nghệ thuật trong sáng, tôn trọng lẫn nhau, tránh những va chạm đời thƣờng để toàn tâm gắn bó với sinh hoạt ca xƣớng và lề lối văn hóa.

5. Luận án chỉ ra sự khác nhau căn bản giữa mô hình "Bọn Quan họ" truyền thống và "Câu lạc bộ Quan họ" hiện nay là gì?
"Bọn Quan họ" truyền thống đƣợc tổ chức khép kín theo làng xã, phân định đồng nhất về giới tính (bọn nam riêng, bọn nữ riêng), đặt tên thứ bậc từ anh/chị Hai đến anh/chị Sáu, gắn liền với tục ngủ bọn và luyện hát truyền khẩu nghiêm ngặt. Ngƣợc lại, "Câu lạc bộ Quan họ" hiện nay là tổ chức văn hóa mang tính xã hội hóa, cơ cấu mở, có sự tham gia hỗn hợp cả nam lẫn nữ ở nhiều lứa tuổi, phƣơng thức sinh hoạt gắn với phong trào văn nghệ quần chúng và trình diễn sân khấu.

Kết luận

Luận án tiến sĩ Biến đổi của Văn hóa Quan họ Bắc Ninh trong thời kỳ hiện nay của tác giả Hà Chí Cƣờng là công trình nghiên cứu hệ thống dƣới góc độ chuyên ngành Văn hóa học về sự vận động của di sản Quan họ từ sau năm 2009. Luận án đã xác lập khung lý luận vững chắc, làm rõ cấu trúc 4 thành tố của Văn hóa Quan họ và xử lý nguồn dữ liệu thực chứng 500 phiếu điều tra tại 12 làng Quan họ gốc và mới. Công trình làm rõ quy luật thích ứng của di sản trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa, đồng thời khẳng định nguyên tắc bảo tồn dựa vào cộng đồng nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của vùng đất Kinh Bắc.