Mở đầu là chuyên đề “Văn hóa Quan họ - tổng hòa của các loại hình văn hóa truyền thống làng xã Bắc Ninh” của Lê Danh Khiêm, trong đó phân tích nội hàm của khái niệm này. Theo đó, VHQH gắn với lễ nghĩa, lễ tín, lễ hội, hành vi công xã, với các loại hình dân ca, nhạc cổ truyền khác. Trong số các công trình nghiên cứu về QH đầu thế kỷ XXI, đáng chú ý có các tác phẩm Quan họ Bắc Ninh - Thực trạng và giải pháp bảo tồn, Không gian Văn hóa Quan họ, Vùng Văn hóa Quan họ Bắc Ninh, Không gian Văn hóa Quan họ Bắc Ninh - Bảo tồn và phát huy (tất cả đều đƣợc xuất bản năm 2006), Kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể dân ca Quan họ Bắc Ninh (2008). Trong những công trình trên, các tác giả tiếp tục đi vào phân tích nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển cũng nhƣ nhiều khía cạnh khác nhau của VHQH, đề cập thực trạng và giải pháp bảo tồn DSVH QH.
Một trong những khía cạnh của VHQH đƣợc đề cập là vấn đề văn hóa kết chạ, kết nghĩa trong QH. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, chính những tập tục này tạo cho QH một đặc trƣng riêng không giống bất kỳ một thể loại sinh hoạt văn hóa âm nhạc khác ở vùng 17 châu thổ Bắc bộ. Trên thực tế, tục kết nghĩa giữa những bạn hát với nhau không phải là hiếm gặp trong nhiều tộc ngƣời trên đất nƣớc ta, nhƣng ở QH, kết chạ mang lại một đặc thù riêng khi các liền anh, liền chị đã tham gia hội, “bọn” với nhau thì không bao giờ đƣợc lấy nhau, thành vợ, thành chồng. Đây chính là một nét đặc thù chỉ có trong QH mà đã đƣợc các nhà nghiên cứu trƣớc đây nghiên cứu đầy đủ, đƣợc thể hiện trong phần lớn các công trình nghiên cứu liên quan đến VHQH.
Đến giai đoạn này các nhà nghiên cứu đƣa ra cụm từ sinh hoạt VHQH. Năm 2006, Bộ Văn hóa Thông tin tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế “Bảo tồn và phát huy dân ca trong xã hội đƣơng đại (qua trƣờng hợp Quan họ Bắc Ninh ở Việt Nam)” với sự tham gia của nhiều học giả trong nƣớc và 11 học giả ngoài nƣớc. Tại đây, trong bài tham luận “Từ bài hát ra đến sân khấu: Sinh hoạt Quan họ ở Việt Nam hiện nay”, Lauren Meeker (Hoa Kỳ) tiếp tục bàn về mối quan hệ giữa QH và nghệ thuật diễn xƣớng. Tác giả đã đƣa ra khái niệm “sinh hoạt QH”, cho rằng khái niệm này tƣơng ứng với khái niệm “chơi QH”, khẳng định “chơi QH” là hiện tƣợng văn hóa tổng thể - VHQH.
Tác giả Deborah Wong (Đại học California - Hoa Kỳ) đã trình bày tham luận “Sự biến mất của văn hóa dân gian: một cách tiếp cận từ thế giới thứ nhất”, trong đó bàn đến các vấn đề liên quan đến QH bao gồm: sự đổi thay của QH mang tính quy luật và đã trải qua nhiều giai đoạn, bối cảnh khác nhau; suy nghĩ về tƣơng lai của QH và chủ thể quản lý VHQH; bàn về vai trò của các nghệ nhân và một số phƣơng thức trao truyền để bảo tồn, phát huy giá trị QH trong đời sống hiện đại. Nghiên cứu của một số học giả nƣớc ngoài khác lại bàn đến vai trò, ý nghĩa của sinh hoạt VHQH trong đời sống xã hội và khuyến nghị về các phƣơng thức bảo tồn, lƣu giữ phát huy các giá trị văn hóa đó trong đời sống hiện đại, khẳng định tính độc đáo của QH là loại hình văn hóa nghệ thuật tổng hợp của cộng đồng làng xã, nhận định QH là một “tiểu văn hóa”, một “kiểu thức của cuộc sống” [21, tr. Nghiên cứu về biến đổi văn hóa và biến đổi Văn hóa Quan họ 1. Nghiên cứu về biến đổi văn hoá Các kết quả nghiên cứu cho thấy không một nền văn hóa nào giữ nguyên vẹn đƣợc những đặc tính của nó mà không có sự biến đổi so với ban đầu, cho dù ngƣời ta 18 muốn bảo tồn, duy trì nó đến đâu.
Bất cứ nền văn hóa nào dù ở trong xã hội khép kín, không tiếp xúc với bên ngoài đi chăng nữa, thì vẫn thay đổi ít nhiều theo thời gian. Tùy từng trƣờng hợp, từng hoàn cảnh cụ thể, tốc độ biến đổi rất khác nhau: có thể từ rất nhanh, đến nhanh, hay chậm đến rất chậm. Phần lớn các nền văn hóa thay đổi rất chậm nếu không có những va chạm hay xung đột lớn. Nằm trong dòng chảy chung của nhân loại, văn hóa Việt Nam cũng tuân theo những quy luật chung thay đổi theo thời gian và không gian.
Hơn nữa, trong bối cảnh toàn cầu hóa, giao lƣu văn hóa hiện nay, những công trình nghiên cứu liên quan đến biến đổi văn hóa đã nhận đƣợc sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Thực tế cho thấy, biến đổi văn hóa đã và đang diễn ra với những biểu hiện rất đa dạng, phong phú gắn với từng bối cảnh lịch sử cụ thể. Về mặt lý luận, việc nghiên cứu về biến đổi văn hóa đã đƣợc các học giả nƣớc ngoài thực hiện từ cách đây hơn một thế kỷ và nêu ra những lý thuyết rất quan trọng trong các nghiên cứu về biến đổi của các nền văn hóa. Trƣớc tiên là quan điểm tiến hoá luận do các nhà khoa học ủng hộ thuyết tiến hoá văn hoá nhƣ E.
Morgan (1877) phát triển vào giữa thế kỷ XIX. Thuyết này cho rằng xã hội loài ngƣời phát triển theo một trật tự nhất định, có chung một mẫu hình biến đổi xã hội và biến đổi văn hoá. Theo đó, những nền văn hóa ngoài phƣơng Tây bị coi là kém phát triển, biến đổi chậm chạp, không văn minh. Đây là cách tiếp cận suy diễn, áp đặt một lý thuyết chung cho mọi nền văn hóa.
Các thế lực đế quốc thực dân đã sử dụng thuyết tiến hóa để biện minh cho công cuộc xâm lƣợc khai thác các vùng đất mới ở Châu Á, châu Phi, … dƣới chiêu bài “khai sáng văn minh” cho các dân tộc thuộc địa, mà thuyết này cho là đang ở bậc thang tiến hóa thấp hơn so với các xã hội phƣơng Tây. Với quan điểm phiến diện nhƣ vậy, thuyết tiến hóa đã vấp phải nhiều sự phản đối. Điều này dẫn đến sự hình thành và phát triển của những lí thuyết khác về biến đổi văn hóa ra đời và phát triển vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Tiếp theo có thể kể đến là quan điểm truyền bá văn hoá luận (với các đại diện tiêu biểu nhƣ Grafton Elliot Smith và W.
Perry ở Anh, Fritz Graebner và 19 Wilhelm Schmidt ở Đức và Áo) hình thành vào khoảng cuối thế kỷ XIX. Tƣ tƣởng lý thuyết này cho rằng sự biến đổi văn hoá của mọi xã hội là kết quả của sự vay mƣợn văn hoá từ các xã hội khác. Các hiện tƣợng văn hóa đƣợc truyền bá thông qua những cuộc tiếp xúc giữa các dân tộc bằng con đƣờng thƣơng mại, di dân, thậm chí là qua con đƣờng xâm lƣợc. Quan điểm này không chỉ đƣợc phổ biến ở các nƣớc Âu Mỹ, mà hầu hết các quốc gia, châu lục và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Quan điểm tƣơng đối văn hoá - hình thành và đƣợc phổ biến từ đầu thế kỷ XX qua các nghiên cứu của Franz Boas và Herscovits - lập luận rằng các thực hành văn hoá và đặc điểm xã hội là kết quả của hoàn cảnh lịch sử và môi trƣờng cụ thể nên việc đánh giá các giá trị của các thực hành văn hoá (niềm tin, quan điểm, phong tục,…) nào đó phải đƣợc đặt trong bối cảnh của chính nền văn hoá đó. Thuyết vùng văn hoá (đại diện là C.Kroeber 1925, …) ra đời ở Mỹ nhƣ một bƣớc đột phá ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nêu ra các khái niệm cơ bản về vùng văn hoá, loại hình văn hoá, trung tâm văn hoá, tổ hợp văn hoá. Sự biến đổi văn hoá diễn ra theo nhiều chiều và nhiều cấp độ tuỳ thuộc vào vị trí phân bố của cộng đồng dân cƣ là ở trung tâm, ngoại vi hay vùng chuyển tiếp, môi trƣờng văn hóa xã hội của cộng đồng đó. Thuyết tiếp biến văn hoá (đại diện là Redfield 1934, Broom 1954, .) chỉ ra sự biến đổi văn hoá trong bối cảnh những xã hội phƣơng Tây và ngoài phƣơng Tây đã trải qua mối quan hệ lâu dài, đặc biệt là sự ảnh hƣởng của những xã hội có ƣu thế đối với ngƣời dân bản địa.
Thuyết chức năng hình thành vào những năm năm mƣơi thế kỷ XX do các nhà nghiên cứu Radcliffe Brown và Bronislav Malinowski đặt nền tảng lại coi xã hội nhƣ một cơ thể sống, trong đó mọi cơ quan đều có chức năng cụ thể có liên quan chặt chẽ với nhau. Mỗi chức năng đó có thể xác định đƣợc nhằm duy trì hệ thống xã hội tổng thể. Vì vậy xã hội và văn hóa thƣờng có sự hội nhập tốt và ổn định, nếu văn hóa thay đổi thì phần lớn là do tác động từ bên ngoài. Steward quan tâm đến những đặc tính chung của các nền văn hóa cách xa nhau về địa lý.
Ông phê phán thuyết tiến hóa đơn hệ của Morgan 20 và thuyết tiến hóa chung của L. Steward quan niệm mỗi nền văn hóa có cách tiến hóa khác nhau tùy thuộc vào những điều kiện đặc thù của nền văn hóa đó. Các nghiên cứu so sánh các cách tiến hóa của nhiều nền văn hóa đã đƣợc ông tiến hành phân tích quá trình phát triển lịch sử của mỗi nền văn hóa để chứng minh điều này. Ông đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của môi trƣờng trong sự biến đổi mang tính tiến hóa của văn hóa và gọi nghiên cứu của mình là sinh thái học văn hóa (cultural ecology) và nghiên cứu văn hóa theo lập trƣờng của tiến hóa đa hệ.
Tóm tắt các lý thuyết chính về biến đổi văn hóa Lý thuyết Điểm chính Ngƣời sáng lập Tiến hóa luận Mọi xã hội đều trải qua các giai đoạn phát Tylor, Morgan triển nhất định và có chung một mẫu hình biến đổi xã hội và biến đổi văn hoá Truyền bá luận Biến đổi văn hóa của xã hội là kết quả của Graebner, Schmidt, sự vay mƣợn từ xã hội khác Smith, Perry Tƣơng đối văn Các thực hành văn hoá và đặc điểm xã hội Boas, Herscovits hoá là kết quả của hoàn cảnh lịch sử và môi trƣờng cụ thể Vùng văn hoá Biến đổi văn hoá diễn ra theo nhiều chiều C.Wissler, và nhiều cấp độ tuỳ thuộc vào vị trí phân A.