Luận án tiến sĩ ảnh hưởng các đặc điểm của giám đốc điều hành đến chất lượng báo cáo tài chình tác động đến hiệu quả đầu tư của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ảnh hưởng các đặc điểm của giám đốc điều hành đến chất lượng báo cáo tài chình tác động đến hiệu, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

275
6
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Ảnh hưởng đặc điểm CEO đến chất lượng báo cáo tài chính

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng đặc điểm CEO đến chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) tại các công ty niêm yết tại Việt Nam. Các đặc điểm của CEO bao gồm tuổi, giới tính, nhiệm kỳ, trình độ chuyên môn tài chính - kế toán, và sự kiêm nhiệm. Kết quả cho thấy, tuổi của CEOtrình độ chuyên môn có tác động tích cực đến chất lượng BCTC, trong khi sự kiêm nhiệm có thể gây ra tác động tiêu cực. Điều này phản ánh vai trò quan trọng của CEO trong việc đảm bảo tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin tài chính.

1.1. Tuổi của CEO

Tuổi của CEO được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng BCTC. Các CEO lớn tuổi thường có kinh nghiệm và sự thận trọng hơn trong việc đưa ra các quyết định tài chính, từ đó nâng cao chất lượng BCTC. Nghiên cứu chỉ ra rằng, tuổi của CEO có mối tương quan tích cực với các chỉ số đo lường chất lượng BCTC như chất lượng dồn tíchkế toán thận trọng.

1.2. Trình độ chuyên môn tài chính kế toán

Trình độ chuyên môn tài chính - kế toán của CEO là yếu tố then chốt trong việc đảm bảo chất lượng BCTC. Các CEO có nền tảng kiến thức vững chắc về tài chính và kế toán thường có khả năng hiểu và áp dụng các chuẩn mực kế toán một cách chính xác, từ đó cải thiện độ tin cậy của BCTC. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, trình độ chuyên môn của CEO có tác động tích cực đến chỉ số trung bình chất lượng BCTC.

II. Ảnh hưởng đặc điểm CEO đến hiệu quả đầu tư

Nghiên cứu cũng phân tích ảnh hưởng đặc điểm CEO đến hiệu quả đầu tư (HQĐT) của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Kết quả cho thấy, trình độ chuyên môn tài chính - kế toán của CEO có tác động tích cực đến đầu tư dưới mức, trong khi tuổi của CEOsự kiêm nhiệm có ảnh hưởng đến đầu tư quá mức. Điều này cho thấy, các đặc điểm cá nhân của CEO không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng BCTC mà còn tác động đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp.

2.1. Trình độ chuyên môn tài chính kế toán

Trình độ chuyên môn tài chính - kế toán của CEO có tác động tích cực đến đầu tư dưới mức. Các CEO có kiến thức chuyên môn vững vàng thường có khả năng đánh giá chính xác các cơ hội đầu tư, từ đó tránh được tình trạng đầu tư không hiệu quả. Nghiên cứu chỉ ra rằng, trình độ chuyên môn của CEO giúp giảm thiểu rủi ro trong quyết định đầu tư.

2.2. Tuổi của CEO và sự kiêm nhiệm

Tuổi của CEOsự kiêm nhiệm có ảnh hưởng đến đầu tư quá mức. Các CEO lớn tuổi thường có xu hướng thận trọng hơn trong quyết định đầu tư, trong khi sự kiêm nhiệm có thể dẫn đến tình trạng đầu tư quá mức do thiếu sự giám sát chặt chẽ. Nghiên cứu chỉ ra rằng, tuổi của CEO có tác động tích cực đến đầu tư quá mức, trong khi sự kiêm nhiệm có tác động tiêu cực.

III. Ảnh hưởng chất lượng BCTC đến hiệu quả đầu tư

Nghiên cứu cũng xem xét ảnh hưởng chất lượng BCTC đến hiệu quả đầu tư của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Kết quả cho thấy, chất lượng BCTC có tác động tích cực đến đầu tư quá mức, nhưng không có tác động đáng kể đến đầu tư dưới mức. Điều này cho thấy, việc nâng cao chất lượng BCTC có thể giúp các doanh nghiệp tránh được tình trạng đầu tư quá mức, từ đó cải thiện hiệu quả đầu tư.

3.1. Chất lượng dồn tích và kế toán thận trọng

Chất lượng dồn tíchkế toán thận trọng là hai yếu tố quan trọng trong việc đo lường chất lượng BCTC. Nghiên cứu chỉ ra rằng, các chỉ số này có tác động tích cực đến đầu tư quá mức, giúp các doanh nghiệp tránh được tình trạng đầu tư không hiệu quả. Điều này cho thấy, việc nâng cao chất lượng BCTC có thể giúp các doanh nghiệp cải thiện hiệu quả đầu tư.

3.2. Chỉ số trung bình chất lượng BCTC

Chỉ số trung bình chất lượng BCTC cũng có tác động tích cực đến đầu tư quá mức. Nghiên cứu chỉ ra rằng, các doanh nghiệp có chỉ số trung bình chất lượng BCTC cao thường có khả năng tránh được tình trạng đầu tư quá mức, từ đó cải thiện hiệu quả đầu tư. Điều này cho thấy, việc nâng cao chất lượng BCTC là yếu tố quan trọng trong việc cải thiện hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.

IV. Ảnh hưởng chất lượng BCTC đến hiệu quả đầu tư với vai trò điều tiết của đặc điểm CEO

Nghiên cứu cũng phân tích ảnh hưởng chất lượng BCTC đến hiệu quả đầu tư với vai trò điều tiết của đặc điểm CEO. Kết quả cho thấy, chất lượng BCTC có tác động tích cực đến đầu tư quá mức khi có sự tham gia của nữ CEOtrình độ chuyên môn tài chính - kế toán. Điều này cho thấy, các đặc điểm cá nhân của CEO có thể điều tiết mối quan hệ giữa chất lượng BCTChiệu quả đầu tư.

4.1. Vai trò của nữ CEO

Nữ CEO có vai trò điều tiết tích cực trong mối quan hệ giữa chất lượng BCTCđầu tư quá mức. Nghiên cứu chỉ ra rằng, các nữ CEO thường có xu hướng thận trọng hơn trong quyết định đầu tư, từ đó giúp các doanh nghiệp tránh được tình trạng đầu tư quá mức. Điều này cho thấy, nữ CEO có thể đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.

4.2. Trình độ chuyên môn tài chính kế toán

Trình độ chuyên môn tài chính - kế toán của CEO cũng có vai trò điều tiết tích cực trong mối quan hệ giữa chất lượng BCTCđầu tư quá mức. Nghiên cứu chỉ ra rằng, các CEO có trình độ chuyên môn cao thường có khả năng đánh giá chính xác các cơ hội đầu tư, từ đó giúp các doanh nghiệp tránh được tình trạng đầu tư quá mức. Điều này cho thấy, trình độ chuyên môn của CEO là yếu tố quan trọng trong việc cải thiện hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cần thiết của nghiên cứu Mỗi doanh nghiệp (DN) có những chính sách để thu hút vốn đầu tư từ các nguồn khác nhau. Điều này được thực hiện thông qua các chính sách trong cơ chế quản trị nội bộ. Đầu tư có thể được hiểu là quyết định sử dụng số tiền hiện tại để mua tài sản thực hoặc tài chính nhằm tăng thu nhập.

Do đó, DN có thể sử dụng các nguồn lực của mình để đầu tư vào các dự án có giá trị hiện tại (NPV) dương hoặc từ bỏ các dự án có NPV âm để tăng trưởng và mở rộng trong tương lai. Đầu tư không được coi là tối ưu nghĩa là đầu tư quá mức (ĐTQM) hay đầu tư dưới mức (ĐTDM). Nó không chỉ phụ thuộc vào các chính sách khuyến khích dành cho các nhà lãnh đạo và môi trường giám sát mà còn phụ thuộc vào nguồn lực sẵn có của DN. Lý tưởng nhất, một thị trường hoàn hảo là không có bất cân xứng giữa DN và nhà đầu tư bên ngoài, các DN có thể đầu tư tối ưu hóa các dự án sinh lời và thu hồi vốn những dự án không mang lại hiệu quả.

Tuy nhiên, các DN phải đối mặt những bất lợi và khó khăn về tài chính (Fazzari và cộng sự, 1987) đã ngăn cản họ lựa chọn các dự án hiệu quả. Ngoài ra, có thể vì lợi ích cá nhân của CEO mà có thể chọn những dự án đầu tư với NPV âm (Hope và Thomas, 2008). Vì vậy, liệu rằng các DN có tài chính dồi dào, nguồn tài nguyên đa dạng thì có khả năng ĐTQM, trong khi các DN có nguồn tài chính bị hạn chế thì có khả năng ĐTDM (Myers, 1977; Jensen, 1986) hay không. Đó là vấn đề cần gia tăng kiểm chứng thực nghiệm không chỉ ở các quốc gia phát triển mà còn ở những quốc gia mới nổi nhằm giúp các bên liên quan trong việc hoạch định các chính sách cũng như xây dựng các mục tiêu, chiến lược cho phạm vi bối cảnh quản lý của mình.

Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư (HQĐT) là chất lượng báo cáo tài chính (BCTC). Thông tin tài chính hữu ích là đối tượng được quan tâm đặc biệt của nhiều tổ chức nghề nghiệp, nhà nghiên cứu, chuyên gia tài chính, nhà đầu tư trên thế giới trong nhiều năm qua, với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Mục đích của thông tin BCTC là thúc đẩy việc phân bổ hiệu quả vốn và các nguồn lực tài nguyên khác trong nền kinh tế và một khía cạnh quan trọng là nâng cao HQĐT của m 2 DN. Điển hình, Biddle và cộng sự (2009) ngụ ý rằng một DN với chất lượng BCTC tốt có thể giúp cho DN giảm bớt sự lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức, đồng thời cho phép họ xác định tốt hơn cơ hội đầu tư.

Bên cạnh đó, nâng cao vai trò giám sát (Chen và cộng sự, 2011) và giảm chi phí vốn cho DN (Bushman và Smith, 2003). Tuy nhiên, các DN có thể phải đối mặt với những bất lợi về tài chính, điều này ngăn cản họ thực hiện các dự án có lợi nhuận, dẫn đến tình trạng giảm thiểu HQĐT (Fazzari và cộng sự, 1987). Mặt khác, khi DN xảy ra dòng tiền dư thừa cũng có thể nguy cơ ĐTQM (Jiang, 2016). Như vậy, các nghiên cứu về chất lượng BCTC và HQĐT của DN khá đa dạng, điều này cho thấy sự cần thiết của vấn đề này trong thực tiễn.

Các nghiên cứu này được các tác giả triển khai thực nghiệm tại thị trường phát triển (McNichols và Stubben, 2008; Biddle và cộng sự, 2009; Gomariz và cộng sự, 2014). Đồng thời, một số tác giả cũng đã kiểm tra hiệu ứng này ở thị trường mới nổi (Chen và cộng sự, 2011; Elaoud và Jarboui, 2017; Houcine, 2017). Họ đều có kết luận chung chất lượng BCTC có tác động HQĐT và Cho và Kang, (2019) tin rằng DN có BCTC chất lượng cao sẽ nhà quản lý đưa ra các quyết định đầu tư vốn hiệu quả và giúp các thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT) giám sát các quyết định tốt hơn. Sự gia tăng gần đây trong học thuật về vai trò của Giám đốc điều hành (Chief Executive Officer – CEO) trong quản trị DN cũng cho thấy tầm quan trọng trong cơ chế quản trị DN.

Các đặc điểm cá nhân của CEO là yếu tố quan trọng quyết định đến kết quả chất lượng BCTC (Habib và Hossain, 2013). Đồng thời, kỳ vọng của việc bổ nhiệm CEO là họ sẽ đưa ra các quyết định thực hiện nhằm tối đa hóa giá trị cổ phần và cho phép người ngoài đánh giá mức độ hiệu quả của CEO trong việc thực hiện kỳ vọng đó (Armstrong và cộng sự, 2010). Mặc dù CEO không trực tiếp tham gia vào việc lập BCTC, nhưng họ sẽ gây áp lực lên Giám đốc tài chính (Chief Financial Officer - CFO) tham gia vào việc thao túng thông tin kế toán để đáp ứng hoặc đánh bại kỳ vọng của thị trường (Dechow và cộng sự, 2010). Các vụ thao túng tài chính lớn gây chấn động bởi CEO1 đã làm tăng mối lo ngại về chất lượng BCTC 1 Như Enron, WorldCom, Tyco International, Boeing ở Hoa Kỳ, Hyundai Motor ở Hàn Quốc, Parmalat ở Ý và Saytam ở Ấn Độ: https://bit.ly/3wTN6Yd m 3 của các DN (Gaio và Raposo, 2011).

Như vậy, khi các CEO thao túng lợi nhuận thì thông tin trên BCTC sẽ gây bất lợi đến các bên liên quan (Schipper và Vincent, 2003), nhưng loại thao túng này thường khó phát hiện trên thị trường (Nelson và cộng sự, 2003). Mặt khác, với mục tiêu chính của IFRS Foundation là phát triển một bộ tiêu chuẩn BCTC chất lượng cao, dễ hiểu, có thể thực thi và được chấp nhận trên toàn cầu dựa trên các nguyên tắc được xác định rõ ràng (IFRS Foundation 2013, trang 1). Chính điều này làm tăng áp lực cho CEO trong việc bảo vệ quyền lợi cổ đông bằng cách quan tâm đến chất lượng BCTC. Ngoài ra, CEO cũng rất quan tâm đến số liệu kế toán và lợi nhuận nói riêng vì các chế độ ưu đãi của họ sẽ được gắn chặt với thu nhập được báo cáo (Dechow và cộng sự, 2010).

Một khía cạnh khác, quyết định đầu tư của CEO có liên quan đến đặc điểm cá nhân của họ (Bhuiyan và Hooks, 2019). Cụ thể, có thể vì hành vi cơ hội mà CEO có thể lựa chọn các dự án có lợi cho bản thân mà gây bất lợi cho các cổ đông (Jensen và Meckling, 1976), hay mua lại/sáp nhập có thể gây thiệt hại giá trị DN (Bliss và Rosen, 2001). Hơn nữa, Jensen (1986) chỉ ra rằng khi DN có một lượng lớn dòng tiền dư thừa, CEO sẽ đầu tư vào các dự án phi lợi nhuận và sử dụng chúng làm nguồn lực để tìm kiếm lợi ích riêng, dẫn đến vấn đề ĐTQM. Mặt khác, do sự ác cảm với các rủi ro và chưa có kinh nghiệm trong quản lý mà CEO có thể hạn chế hoặc thực hiện chính sách thận trọng đầu tư, do đó có thể dẫn tới ĐTDM (Zwiebel, 1995).

Như vậy, quyết định (hoặc hành vi) của CEO cũng có thể bị ảnh hưởng phần lớn bởi nhận thức của họ, đặc điểm xã hội và tâm lý như tuổi tác, giới tính, nhiệm kỳ, trình độ chuyên môn, sự kiêm nhiệm. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, việc nâng cao chất lượng BCTC ảnh hưởng rất lớn đến HQĐT của DN. Bên cạnh đó, các quyết định kinh tế cũng được đảm bảo an toàn, hiệu quả và chịu tác động bởi một trong những tiêu chuẩn quan trọng đó là chất lượng thông tin kế toán (Võ Văn Nhị và Nguyễn Thị Kim Cúc 2019). Thực tiễn trong thời gian qua, hệ thống chuẩn mực kế toán, kiểm toán VN được xây dựng dần dần theo khuôn khổ pháp lý phù hợp với chuẩn mực kế toán, kiểm toán quốc tế nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng BCTC.

Một vài tác giả m 4 trước đây họ cho rằng chất lượng BCTC tốt sẽ gia tăng HQĐT (Trần Thị Thùy Linh và cộng sự, 2015; Nguyễn Ngọc Quỳnh, 2017). Kết quả này có thể giúp các bên liên quan nhận thức được vai trò chất lượng BCTC đối với HQĐT của DN. Tuy nhiên, sự tác động đồng thời các đặc điểm của CEO đến chất lượng BCTC, đặc biệt là tác động của chất lượng BCTC đến HQĐT với vai trò điều tiết bởi các đặc điểm của CEO chưa được sự quan tâm nhiều bởi các nhà nghiên cứu trước đây. Do đó, tác giả cho rằng nghiên cứu ảnh hưởng các đặc điểm của CEO, chất lượng BCTC đến HQĐT và ảnh hưởng của chất lượng BCTC đến HQĐT với vai trò điều tiết các đặc điểm của CEO của các CTNY tại VN là rất mới và cần thiết.

Đặc biệt, nghiên cứu khám phá mới là xem xét vai trò tác động điều tiết bởi các đặc điểm của CEO có cải thiện sự ảnh hưởng của chất lượng BCTC đến HQĐT hay không. Vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng các đặc điểm của Giám đốc điều hành đến chất lượng BCTC, tác động đến hiệu quả đầu tư của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam” bởi các lý do cụ thể sau: Thứ nhất, sự quan tâm ngày càng tăng của CEO, nhà đầu tư liên quan đến chất lượng BCTC. Tháng 12/2017, Ngân hàng Thế giới (World Bank) phối hợp cùng Bộ Tài chính công bố “Báo cáo đánh giá sự tuân thủ các chuẩn mực và quy tắc trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán tại VN”2. Báo cáo này nhận định, dù VN đã có những cải thiện đáng kể về pháp lý đối với BCTC của DN nhưng đánh giá chung là chất lượng BCTC được lập và trình bày theo chuẩn mực kế toán VN là chưa cao.

Điều đáng chú ý là hệ thống chuẩn mực kế toán VN chưa có một số chuẩn mực tương đương với IFRS và số liệu giữa hai bộ BCTC rất khác nhau. Bên cạnh đó, đại diện World Bank cũng nhận định có rất ít DN nhà nước thực hiện công khai BCTC đúng hạn và đầy đủ; các thuyết minh BCTC và ý kiến kiểm toán ít được công khai. Đồng thời, nhận thức được rằng đầu tư là nền tảng của việc tạo ra giá trị trong nền kinh tế và mục tiêu của BCTC là cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định về đầu tư. Điều này cho thấy lợi ích của việc đánh giá chất lượng BCTC liên quan đến hiệu quả kinh tế trong thị trường VN.

Thứ hai, hầu hết trước đây các học giả tập trung kiểm chứng ở các thị trường 2 http://www.vn/Page/Detail.aspx?newid=5609 m 5 phát triển, một thị trường có sự khác biệt so với thị trường mới nổi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Ảnh hưởng đặc điểm CEO đến chất lượng báo cáo tài chính và hiệu quả đầu tư công ty niêm yết tại Việt Nam là một nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của các đặc điểm cá nhân của CEO, như trình độ học vấn, kinh nghiệm, và phong cách lãnh đạo, đối với chất lượng báo cáo tài chính và hiệu quả đầu tư của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về mối quan hệ giữa lãnh đạo và hiệu quả tài chính mà còn đưa ra các gợi ý quan trọng để cải thiện quản trị doanh nghiệp. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà quản lý, nhà đầu tư, và nhà nghiên cứu quan tâm đến tác động của yếu tố con người trong quản trị tài chính.

Để mở rộng kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ kế toán nghiên cứu tác động của nhân tố quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động tại các công ty thuộc lĩnh vực sản xuất niêm yết trên sàn chứng khoán việt nam. Nếu quan tâm đến cấu trúc vốn và tác động của nó, Luận án tiến sĩ kinh tế ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh doanh của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam là tài liệu không thể bỏ qua. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến chính sách chi trả cổ tức tiền mặt của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam sẽ cung cấp thêm góc nhìn về chính sách tài chính doanh nghiệp.