phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án đƣợc kết cấu thành 5 chƣơng với những nội dung chính nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm về quản lý dịch vụ công phục vụ ngƣ nghiệp. Chƣơng 3: Thiết kế và Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Thực trạng quản lý dịch vụ công phục vụ ngƣ nghiệp khu vực duyên hải và hải đảo Việt Nam. Chƣơng 5: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý dịch vụ công phục vụ ngƣ nghiệp khu vực duyên hải và hải đảo Việt Nam đến năm 2030.
12 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ DỊCH VỤ CÔNG PHỤC VỤ NGƢ NGHIỆP 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các nghiên cứu ngoài nƣớc 1. Các nghiên cứu về dịch vụ công DVC là vấn đề đƣợc nhiều học giả trên thế giới nghiên cứu với các cách tiếp cận khác nhau.
Các nghiên cứu về DVC xuất hiện trƣớc hết tại một số quốc gia châu Âu phát triển, sau đó lan rộng ra các quốc gia khác. DVC theo từ tiếng Anh là “public service” và tƣơng tự trong tiếng Pháp là “service public” (Petit Larousse, 1995). Về bản chất, dịch vụ công luôn gắn liền với vai trò của Nhà nƣớc trong việc cung ứng dịch vụ này. Hiện nay trên thế giới, khái niệm dịch vụ công đƣợc sử dụng rộng rãi và đƣợc coi là một nội dung quan trọng trong cải cách hoạt động của bộ máy hành chính ở nhiều nƣớc.
Dƣới góc độ kinh tế học, các nhà nghiên cứu đã phân biệt hàng hoá công và hàng hoá tƣ mà những thuộc tính của chúng đƣợc khu trú hoá để làm rõ trách nhiệm của các chủ thể cung ứng. Tính loại trừ và tính tranh giành trong tiêu dùng là những tiêu chí cơ bản phân biệt hàng hoá tƣ với hàng hoá công cộng. Điều này đƣợc phân tích sâu sắc trong tác phẩm “Kinh tế học công cộng” của Stigliz (1995), “Sự thất bại về thị trường, sự thất bại nhà nước, sự lãnh đạo và chính sách công”. Trong bài nghiên cứu Spicker (2009) về “Bản chất của dịch vụ công”, ông cho rằng các dịch vụ công đã bị hiểu sai.
Chúng không chỉ đơn giản là các dịch vụ trong khu vực công, không nhất thiết phải có vì “thất bại thị trƣờng”, và DVC không thể đƣợc phân tích bởi cùng một tiêu chuẩn dựa trên thị trƣờng. Chúng có bốn đặc điểm xác định bao gồm chính sách công, DVC cung cấp dịch vụ cho xã hội, chúng đƣợc phân phối lại, và dịch vụ công hoạt động nhƣ một niềm tin. Do đó, DVC hoạt động khác với sản xuất vì lợi nhuận, trong các ƣu tiên, chi phí, công suất và đầu ra. Cuốn sách viết về nội dung dịch vụ công về phát thanh, truyền hình “Public service broadcasting: a best practices sourcebook” đƣợc viết bởi Banerjee & Seneviratne (2015) đã nhận định rằng dịch vụ phát thanh truyền hình (PSB) có một vai trò quan trọng trong việc cung cấp khả năng tiếp cận và tham gia vào đời sống công 13 cộng.
Đặc biệt là trong việc phát triển quốc gia, PSB có thể là công cụ thúc đẩy tiếp cận giáo dục và văn hóa, phát triển kiến thức và thúc đẩy sự tƣơng tác giữa các công dân. Đối với phần lớn dân số thế giới, bao gồm những cƣ dân của những vùng nông thôn rộng lớn và ngƣời mù chữ, đài phát thanh và truyền hình vẫn là hầu hết các công nghệ thông tin truyền thông phổ biến và sẵn có, với radio ở vị trí đầu tiên là phƣơng tiện truyền thông chính. Dịch vụ công cũng đã đƣợc mô tả trong cuốn “Green Paper” của Tổ chức dịch vụ công (GROPS), nhƣng khái niệm này vẫn đƣợc đề cập khác nhau trong các cơ quan, tổ chức. DVC đƣợc mô tả dựa trên mục đích của tổ chức và cũng có những ngƣời không biết hoặc sử dụng khái niệm DVC trong tổ chức, ƣu tiên các thuật ngữ “chức năng”, “quy trình”, “quy trình chính”, “tiến hành”, “nhiệm vụ”.
Ngoài ra, các DVC thƣờng không đƣợc phân biệt với các dịch vụ khác do mong muốn giải quyết tất cả các dịch vụ trên cùng một cơ sở trong thẩm quyền. ESPON EGTC là một nhóm Hợp tác lãnh thổ của châu Âu đã tiến hành một dự án với chủ đề DVC xuyên biên giới “CPS – Cross-border Public Services” vào năm 2018. Mục tiêu của dự án nhằm cải thiện cung ứng DVC ở các khu vực biên giới Châu Âu và nâng cao nhận thức về giá trị gia tăng của việc cung cấp DVC xuyên biên giới (CPS). Dự án đã phân tích rõ hơn về cơ sở pháp lý, các mô hình quản trị, việc sử dụng cơ sở hạ tầng và các nhu cầu đƣợc giải quyết và các nhiệm vụ của CPS.
Theo đó, 579 DVC đã đƣợc xác định dọc theo biên giới châu Âu. Chúng nằm ở nhiều biên giới khác nhau và giải quyết một số chính sách quốc gia. Hầu hết CPS đã đƣợc thực hiện dọc theo biên giới của các nƣớc Bỉ, Pháp, Đức và các nƣớc Bắc Âu. Dự án cũng chỉ ra rằng CPS góp phần giảm thiểu các tác động tiêu cực ở biên giới, hỗ trợ dòng ngƣời di cƣ qua biên giới hoặc góp phần nâng cao nhận thức về các khả năng thiết lập các DVC xuyên biên giới.
Tổ chức lao động quốc tế (ILO, 2020) có bài viết bàn về COVID-19 và DVC “COVID-19 and the Public Service”. Đại dịch COVID-19 đƣợc coi là cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2, tác động nặng nề lên hệ thống y tế, cũng nhƣ ảnh hƣởng nghiêm trọng đến nền kinh tế toàn cầu và xã hội. Tổng Thƣ ký Liên hợp quốc đã kêu gọi mạnh mẽ sự tăng cƣờng và phát triển các DVC để chống lại đại dịch. Để ứng phó với tình hình khẩn cấp đó, các dịch vụ công 14 cộng đã đƣợc đặt ở vị trí hàng đầu.
Các chính phủ đã duy trì các DVC theo hình thức cung cấp từ xa, tuy nhiên việc cung cấp một số các dịch vụ công cộng cho ngƣời dân vẫn bị ảnh hƣởng do giãn cách xã hội để giữ an toàn cho nhân viên, đó là các dịch vụ thu gom rác thải, tòa án, vận chuyển và dịch vụ bƣu chính. Bài viết cũng chỉ ra, bên cạnh những ảnh hƣởng của một số dịch vụ công cộng thì DVC trong lĩnh vực y tế phục vụ ngƣời dân tăng cao. Tại một số nƣớc Châu Âu có số ngƣời nhiễm COVID-19 cao, DVC y tế không đủ cung cấp nhu cầu của ngƣời dân. Ngoài ra, bài viết cũng đề cập đến tác động của COVID-19 đối với các DVC trong lĩnh vực giáo dục.
Jeon (2022) trong nghiên cứu “Public Service and Administrative Law: A comparative research on french public service doctrine” đã xem xét khái niệm DVC và các thảo luận gần đây về vai trò, sứ mệnh của Nhà nƣớc trong pháp luật về DVC. Jeon đã chỉ ra rằng, vào những năm đầu và giữa của thế kỷ 20, hệ thống và luật pháp của Pháp hiểu DVC là một nội dung sứ mệnh của nền hành chính, giữ chức năng và vai trò tiền đề của hệ thống công vụ đại diện bởi Léon Duigit. Tuy nhiên, giờ đây, Jeon lập luận rằng, chúng ta đang bƣớc vào sự thay đổi lớn trong việc thiết lập mối quan hệ giữa cộng đồng xã hội và các DVC để thực hiện các trách nhiệm công vụ của nhà nƣớc do tác động của đại dịch COVID-19. Do đó, Jeon nhận định trong bối cảnh mới này, có thể đánh giá giá trị của lý thuyết DVC nhƣ một ý thức đoàn kết và tiếp cận công bằng với dịch vụ công cũng nhƣ vai trò của hành chính công.
Pareek và Sole (2022) trong “Quality of Public Services in the Era of Guaranteed Public Service Delivery” đã nghiên cứu chất lƣợng dịch vụ công trong kỷ nguyên cung cấp dịch vụ công đảm bảo. Các tác giả đƣa ra rằng việc cung cấp các dịch vụ công là một trong những chức năng quan trọng đƣợc thực hiện bởi chính phủ vì nó đảm bảo sự phát triển của một quốc gia và thúc đẩy phúc lợi, công bằng trong xã hội. Các dịch vụ công đƣợc đặc trƣng bởi tính kịp thời, chất lƣợng và giải quyết khiếu nại trong quá trình cung cấp dịch vụ. Chất lƣợng là một thành tố quan trọng trong cung ứng dịch vụ công và quyết định sự hài lòng, niềm tin của ngƣời dân đối với chính quyền.
Pareek và Sole cũng chỉ ra rằng các cuộc tranh luận về quản trị trong những năm 90 tập trung vào việc cung cấp dịch vụ nhƣ là thành phần quan trọng nhất trong quy trình quản trị của Nhà nƣớc. Trong đó, các dịch vụ công đƣợc coi là phƣơng tiện để tƣơng tác giữa ngƣời dân và chính phủ thông qua các cơ quan cấp địa phƣơng của 15 nhà nƣớc nhằm thúc đẩy phúc lợi và hạnh phúc của ngƣời dân. Những phát triển nhƣ xây dựng và thực hiện Hiến chƣơng công dân, kiểm toán xã hội, chƣơng trình quản trị điện tử, đạo luật đảm bảo dịch vụ công… đã định hình cơ chế quản lý dịch vụ công ở Ấn Độ. Kết quả nghiên cứu đã nhấn mạnh tầm quan trọng của chất lƣợng trong cung cấp dịch vụ công, các công cụ để đảm bảo chất lƣợng dịch vụ công ở Ấn Độ và các thông lệ quốc tế tốt nhất.
Các nghiên cứu về quản lý dịch vụ công Wilson (2004) nghiên cứu về đổi mới quản lý dịch vụ công tại Vƣơng quốc Anh “New Management of Public Services: The United Kingdom Experience”. Bài viết đã xem xét những thay đổi trong quản lý dịch vụ công trong bối cảnh môi trƣờng chính trị có nhiều chuyển biến. Ông đã lấy Vƣơng quốc Anh làm ví dụ, bài viết xem xét những khiếm khuyết bị cáo buộc của nền hành chính công truyền thống và bản chất cũng nhƣ tác động của quản lý công mới. Nó cho thấy, việc áp dụng quản lý công mới nhấn mạnh vào tái cơ cấu, đo lƣờng hiệu quả hoạt động… đƣợc nhận định là những đặc trƣng chính của môi trƣờng dịch vụ công mới.
Nghiên cứu “Integrated Portfolio Management of Public Services” do Government Office ủy quyền tiến hành vào tháng 10 năm 2013 - tháng 3 năm 2014 đƣợc thực hiện bởi PricewaterhouseCoopers (PwC). Nghiên cứu tập trung vào các DVC của Chính phủ trung ƣơng và không giải quyết cụ thể các DVC do chính quyền địa phƣơng cung cấp. Nghiên cứu chỉ ra rằng DVC có thể đƣợc cung cấp dƣới dạng dịch vụ không kê đơn hoặc qua kênh điện tử.