CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Chương một giới thiệu tổng quan về 1/ Các khái niệm liên quan đến đề tài Luận án, bao gồm CTKG hệ thống đô thị, các hiện tượng thời tiết Hạn và Lũ, và KNTU của CTKG hệ thống đô thị với hạn lũ, 2/ Tổng quan về tỉnh Ninh Thuận và hệ thống đô thị, 3/ Thực trạng CTKG hệ thống đô thị tỉnh Ninh Thuận và Tp Phan Rang-Tháp Chàm trong mối quan hệ với hạn và lũ. Cuối chương đúc kết nội dung cần nghiên cứu. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 1.1 Cấu trúc không gian hệ thống đô thị Không gian hệ thống đô thị Theo C.
Luận án nghiên cứu tại hai cấp độ vùng và đô thị, tương ứng với Không gian hệ thống đô thị và KGĐT. Không gian hệ thống đô thị cấp vùng, tương tự KGĐT được quy định trong Luật Quy hoạch Đô thị (2020) [18], bao gồm các thành phần vật thể như kiến trúc, mặt nước và cây xanh. Tuy nhiên ở cấp độ này, các thành phần không gian mặt nước và cây xanh tự nhiên chiếm tỉ lệ cao hơn ở cấp đô thị, bởi mặt nước bao gồm toàn bộ sông, suối, hồ, đầm tự nhiên, vv.; cây xanh bao gồm rừng tự nhiên, cây trồng công-nông nghiệp, vv.; không gian đất trống bao gồm các bãi khai thác, đất hoang, đất chuẩn bị xây dựng, vv.; Đất xây dựng chiếm tỉ lệ thấp hơn, bao gồm đất xây dựng đô thị, các điểm dân cư nông thôn, và mạng lưới giao thông quốc gia, giao thông vùng. Với tỉ lệ phân bổ các thành phần như vậy, nên ở cấp độ này phạm vi không gian các đô thị được xem là thành phần đất xây dựng thuần nhất.
Ở cấp đô thị, KGĐT là phạm vi không gian gồm các thành phần vật thể như kiến trúc, mặt nước và cây xanh [18]. Trong đó, không gian mặt nước ngoài mặt nước tự nhiên còn mặt nước nhân tạo như hồ điều tiết, hồ cảnh quan đô thị, vv.; không gian xanh ngoài cây xanh tự nhiên, cây công-nông nghiệp, còn cây xanh đô thị; không gian đất trống tương tự ở cấp vùng; không gian đất xây dựng bao gồm mạng lưới giao thông đô thị, các công trình hạ tầng đô thị và công trình. Ở cấp độ này, thành phần đất xây 8 dựng chỉ là đất xây dựng giao thông và công trình. Cấu trúc không gian hệ thống đô thị Cũng theo C.
Illies (2009), CTKG có yếu tố bên trong và bên ngoài. Yếu tố bên trong liên quan đến việc tổ chức và sắp xếp các thành phần không gian tại cấp độ nghiên cứu, còn các yếu tố bên ngoài là sự tương tác giữa cấp độ nghiên cứu và bối cảnh [69]. Có nhiều phương pháp tiếp cận CTKG hệ thống đô thị, tuỳ mục tiêu nghiên cứu, gồm 1/ Đô thị học, 2/ Sinh thái học, 3/ Hình thái học, và 4/ Kinh tế- xã hội. Mục tiêu nghiên cứu của Luận án là CTKG hệ thống đô thị thích ứng với hạn và lũ, hướng đến việc phát triển KT-XH và bảo tồn STTN, nên phương pháp tiếp cận sinh thái học được lựa chọn sử dụng.
Phương pháp tiếp cận sinh thái học đô thị (Urban Ecology) xác định CTKG hệ thống đô thị không chỉ được cấu thành bởi các yếu tố vật thể và phi vật thể trong mối quan hệ tương tác giữa môi trường con người với nhau mà còn bởi các yếu tố trong mối quan hệ tương tác giữa môi trường con người với môi trường tự nhiên [84]. Theo đó, CTKG hệ thống đô thị bao gồm bốn môi trường: 1/ Sinh học, 2/ Vật lý, 3/ Xã hội, và 4/ Xây dựng [98]. Kết hợp định nghĩa về CTKG của C. Illies và phương pháp tiếp cận sinh thái ở trên, CTKG hệ thống đô thị trong mối quan hệ tương tác với hạn và lũ tại tỉnh Ninh Thuận là sự tổ chức và sắp xếp các thành phần không gian mặt nước, cây xanh và đất xây dựng trên phạm vi lưu vực các sông và tương tác với bối cảnh cấp liên vùng.
Nội dung nghiên cứu cấu trúc không gian hệ thống đô thị C. Illies xác định một CTKG thông thường bao gồm ba nội dung cấu thành, gồm chức năng, mạng lưới, hình thể [69]. Luật Quy hoạch (2017) xác định CTKG hệ thống đô thị cấp Quốc gia, cấp tỉnh, đô thị tỉnh lỵ và các thành phố, thị xã, thị trấn gồm hai nội dung nghiên cứu là chức năng và mạng lưới [17]. Cụ thể, hệ thống đô thị cấp tỉnh được cấu trúc qua các nội dung như QH chức năng như kinh tế, giáo dục, thể dục thể thao; các khu bảo tồn, và phân bố hệ thống dân cư; Quy hoạch mạng lưới đường cao tốc, quốc lộ, đường sắt; các tuyến đường thủy; các cảng biển, cảng hàng không; mạng lưới đường bộ, đường thủy liên tỉnh đã được xác định trong QH cấp quốc gia, QH vùng trên địa bàn; mạng lưới đường tỉnh; Quy hoạch mạng lưới thủy lợi, cấp nước ở quy mô vùng, liên tỉnh đã được xác 9 định trong QH quốc gia, QH vùng; mạng lưới thủy lợi, cấp nước liên huyện, vv.
Luận án xác định CTKG hệ thống đô thị thích ứng với hạn và lũ, theo quan điểm sinh thái học gồm 03 nội dung, cũng là thuộc tính của CTKG thích ứng: chức năng, mạng lưới, hình thể. Thuộc tính chức năng đề cập đến những nội dung bên trong một phạm vi nghiên cứu, đáp ứng các hoạt động có tính chất đặc thù của đối tượng sử dụng. Thuộc tính mạng lưới nói đến cả các nội dung bên trong lẫn bên ngoài, đảm bảo các yếu tố bên trong kết nối với nhau và với bối cảnh xung quanh. Thuộc tính hình thể chủ yếu biểu diễn nội dung trung gian, hình thành nên một vỏ bọc của không gian để bảo vệ các hoạt động bên trong khi tương tác với các hệ thống bên ngoài.
Do được tiếp cận theo quan điểm sinh thái, nên CTKG không chỉ đảm bảo hoạt động của con người trong phạm vi không gian hiệu quả, mà còn phải đảm bảo cơ chế vận hành của hạn và lũ cũng hiệu quả trên cùng phạm vi không gian đó. Ba thuộc tính cơ bản của CTKG luôn biến đổi theo thời gian và tác động qua lại bên trong phạm vi nghiên cứu và với bối cảnh bên ngoài. Trong đó, thuộc tính chức năng đóng vai trò cốt lõi. Một khi chức năng không gian biến đổi, về cả địa điểm, quy mô và tính chất không gian, thì sự biến đổi đều ảnh hưởng nhất định đến các thuộc tính còn lại (mạng lưới và hình thể) của CTKG.
Các yếu tố tác động đến cấu trúc không gian hệ thống đô thị CTKG hệ thống đô thị biến đổi theo thời gian dưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau. Cơ bản và quan trọng nhất là các yếu tố tự nhiên và xã hội. ▪ Yếu tố tự nhiên Gồm các đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Trong khuôn khổ nghiên cứu của Luận án, cả tài nguyên thiên nhiên và môi trường, bao gồm địa hình, địa chất, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng, vv., đều ảnh hưởng đến quá trình hình thành và biến đổi không gian hệ thống đô thị, trực tiếp ảnh hưởng đến CTKG.
▪ Yếu tố xã hội Gồm cơ chế- chính sách, tác động trực tiếp đến sự phát triển không gian các đô thị và hệ thống đô thị trên các mặt: Định hướng phát triển; Tạo động lực phát triển; Tạo điều kiện thúc đẩy nhanh về chuyển dịch cơ cấu kinh tế; Đầu tư phát triển công nghiệp; 10 Ưu tiên phát triển và hiện đại hóa hệ thống hạ tầng; Mở rộng thị trường và môi trường đầu tư phát triển. Từ đó, các yếu tố khác tiếp tục hình thành và tác động đến quá trình biến đổi không gian các cấp. Hệ thống hạ tầng là yếu tố tác động của xã hội vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH. Giao thông là một bộ phận của hệ thống hạ tầng và là yếu tố đầu tiên khi được đề cập đến trong các nghiên cứu về hệ thống đô thị hay đô thị.
Nó góp phần định hướng phát triển và mở rộng phạm vi hoạt động của các đô thị đó. Trong bối cảnh nghiên cứu, ngoài hệ thống hạ tầng giao thông thì hệ thống công trình thuỷ lợi cũng là một yếu tố tác động từ xã hội.2 Các hiện tượng thời tiết hạn lũ và năng lực sinh thái hạn lũ Hạn và lũ là các hiện tượng tự nhiên, chúng ngày càng cực đoan do quá trình BĐKH. Nhưng hạn và lũ cũng là một hiện tượng xã hội, chịu tác động từ các hoạt động của con người, chủ yếu từ quá trình chuyển đổi chức năng sử dụng đất. Biến đổi khí hậu BĐKH phản ánh sự thay đổi về nhiệt độ và các hiện tượng thời tiết theo thời gian.
Có hai nguyên nhân dẫn đến BĐKH: những quá trình tự nhiên và tác động của con người. Gần đây, tác động của con người được giới học giả xem là nguyên nhân chính. Nguyên nhân chủ yếu là do sự gia tăng nồng độ của các khí nhà kính trong khí quyển dẫn đến tăng hiệu ứng nhà kính. Đặc biệt là khí carbonic đuợc tạo thành do sử dụng năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch (dầu, than đá, khí đốt, vv.), phá rừng và chuyển đổi chức năng sử dụng đất để phát triển đô thị.
Quá trình BĐKH làm gia tăng tần suất và mức độ của các hiện tượng thiên tai như hạn hán, lũ lụt nội địa và ven biển, mưa cực đoan, sóng nhiệt, sạt lở đất, lốc xoáy, xâm nhập mặn, vv., làm chúng xảy ra ngày càng thường xuyên và cực đoan hơn [71]. Mức hạn hán thường dẫn theo nhiệt độ trên mức bình thường và sẽ leo thang do sự nóng lên của bề mặt trái đất, dẫn đến lượng khí nhà kính ngày càng tăng [47]. Tác động của tất cả các hiện tượng thời tiết trên vào CTKG đô thị các cấp ngày càng nghiêm trọng hơn. Các khu vực ven sông, ven biển và trong đô thị trên toàn thế giới thường là nạn nhân của những hiện tượng thời tiết cực đoan này.
Trong số đó, tác động của hạn và lũ gây tổn thất lâu dài và tốn kém nhất. 11 Tình hình đặc biệt nghiêm trọng tại Ninh Thuận [24]. Đánh giá tác động của BĐKH nghiêm trọng đến tài nguyên nước, thay đổi về mưa sẽ kéo theo sự thay đổi dòng chảy, tần suất và cường độ lũ, tần suất hạn hán, lượng nước trong đất. Nhiệt độ gia tăng gây ra tình trạng thiếu nước, vực việc tiếp tục dẫn đến việc khai thác quá mức nguồn nước ngầm, vv.
Bên cạnh đó, BĐKH còn tác động đến các điểm dân cư đô thị, giao thông vận tải, thiên tai, vv.