Mở đầu” của luận án mà không phải là một chương riêng; trong phạm vi cho phép, luận án trình bày các phương pháp nghiên cứu một cách ngắn gọn và súc tích nhất. Luận án dựa trên các phương pháp nghiên cứu mô tả, định tính và định lượng. Ngoài ra luận án còn sử dụng thủ pháp cải biến (transformation) khi định dạng lại các mẫu diễn đạt nguyên bản (có sẵn trong văn bản chuyển thành các mẫu diễn đạt khác trên cơ sở ngữ nghĩa) và thủ pháp so sánh để thấy được điểm tương đồng và khác biệt cơ bản của hiện tượng ADNP trong tiếng Anh và tiếng Việt. Phương pháp mô tả Để xây dựng chính xác các phương thức diễn đạt ADNP của ba loại ADNP xuất hiện trong các thể loại văn bản trong tiếng Anh và tiếng Việt, luận án khảo sát, chọn nguồn ngữ liệu, thu thập và xử lý nguồn ngữ liệu theo trình tự như sau: 4.
Chọn nguồn ngữ liệu Gabriela [83] cho rằng, các loại văn bản khác nhau có phong cách chức năng khác nhau. Việc xác định phong cách chức năng của từng loại văn bản đều dựa trên kinh nghiệm của con người trong cuộc sống hàng ngày, trong từng ngữ cảnh và tình huống cụ thể (giống với quan điểm của Halliday về ngữ vực- register). Theo Gabriela [83], trong tiếng Anh, có 5 thể loại văn bản thường được sử dụng trong việc phân loại phong cách ngôn ngữ theo chức năng (Functional styles of English language): (1) Văn bản khoa học, (2) văn bản chính luận, (3) văn bản hành chính. (4) văn bản báo chí, và (5) văn bản văn chương.
Trong phạm vi luận án này, tác giả chọn 3/5 thể loại văn bản trong tiếng Anh và trong tiếng Việt gồm văn bản khoa học, văn bản chính luận và văn bản văn chương (nhật ký, hồi ký và tiểu thuyết) để lấy mẫu. Luận án không sử dụng văn bản báo chí vì việc tìm hiểu ADNP xuất hiện trong thể loại văn bản báo chí đã được chứng minh trong luận án và đề tài khoa học trong các công trình nghiên cứu trong tiếng Việt (xin xem phần tổng quan), còn văn bản hành chính chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu trong các công trình tiếp theo. Để chứng minh các phương thức diễn đạt của ba loại ADNP xuất hiện trong một số loại hình văn bản và để có nguồn ngữ liệu mô tả, phân tích đáng tin cậy, luận án lấy mẫu từ các thể loại văn bản cụ thể: (1) Thể loại văn bản khoa học Văn bản khoa học và học thuật mang tính đặc trưng, logic, có tính khái quát, trừu tượng, mang tính khách quan và chuẩn mực cả về nội dung và hình thức. Văn phong dựa trên cơ sở lí luận và minh chứng, thể hiện ở nội dung khoa học và thuật ngữ khoa học.
(2) Thể loại văn bản chính luận Văn phong chính luận mang tính thuyết phục người đọc hoặc người nghe cao về quan điểm (chính trị) cụ thể thông qua lý lẽ và lập luận. Thể hiện rõ thái độ của người viết về luận điểm cũng như về các hiện tượng trong xã hội. Đặc trưng phong cách ngôn ngữ chính luận gồm tính công khai về quan điểm, tính chặt chẽ trong diễn đạt và suy luận, tính truyền cảm và thuyết phục. 5 (3) Thể loại văn bản văn chương (Nhật ký- hồi ký và tiểu thuyết) Văn phong hồi ký gần với nhật ký có hình thức giãi bày, cách kể theo thứ tự thời gian như là một cốt truyện theo tính biên niên.
Hồi ký thuộc loại văn học tư liệu, còn nhật ký ghi người thật việc thật, tình cảm thật và tư tưởng thật. Tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi có hư cấu, thông qua nhân vật, hoàn cảnh, sự việc để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề của cuộc sống con người. Tiểu thuyết biểu hiện tính chất tường thuật, tính chất kể chuyện bằng ngôn ngữ văn xuôi theo những chủ đề xác định. Ngữ liệu nghiên cứu được chọn từ ba loại văn bản và được mã hóa như bảng sau: Bảng 1.
Ngữ liệu tiếng Anh Thể loại Mã số Ngữ liệu tiếng Anh văn bản Văn bản RC2 Rachel Carso (1962), Silent Spring, Nxb. khoa học RTH Ryan Thomas Higgins (2015 ), IELTS Academic & General. MS Munan Shaik (2016), Best practice Books for IELTS Writing. Văn bản MN Mandela Nelson (1964), I am prepared to die.
chính BO Barack Obama (2016), Remarks by President Barack luận Obama in Address to the People of Vietnam. TNH2 Thích Nhất Hạnh & Katherine Weare (2017), Happy teachers change the world, Nxb. Văn bản ĐTT2 Đặng Thùy Trâm (1968-1970) (Andrew X Pham dịch), văn Last night I dreamed of peace- The Diary of Dang Thuy chương Tram, Nxb Random House (2007). DD2 Diana Dudzik (2019), Mountains beyond mountains: A memoir of VietNam, Cancer and Meaningful work, Nxb Thế Giới.
Ngữ liệu tiếng Việt Thể loại Mã số Ngữ liệu tiếng Việt văn bản Văn bản RC1 Rachel Carso (1962), Mùa xuân vắng lặng, Houghton khoa học Mifflin. NN&ĐS Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống Văn bản HCM1 Hồ Chí Minh (1945-1946), Hồ Chí Minh toàn tập 4, chính Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật luận HCM2 Nguyễn Anh Vũ (2002 ), Văn thơ Hồ Chí Minh, tác phẩm & dự luận, Nxb văn học HCM3 Hồ Chí Minh (1945 ), Tuyên ngôn độc lập. TNH1 Thích Nhất Hạnh & Katherine Weare (2017), Thầy cô giáo hạnh phúc sẽ thay đổi thế giới, Nxb Hà Nội. Văn bản ĐTT1 Đặng Thùy Trâm (1968-1970), Nhật ký Đặng Thùy văn Trâm, Nxb Hội nhà văn (2005) chương DD1 Diana Dudzik (2019) (Lê Thanh Dũng dịch), Những đỉnh núi bên kia đỉnh núi, hồi kí về Việt Nam, bệnh ung thư và những việc làm ý nghĩa, Nxb Thế Giới.
TTM1 Trần Thùy Mai (2020 ), Từ Dụ Thái Hậu, quyển thượng, Nxb Phụ Nữ TTM2 Trần Thùy Mai (2020), Từ Dụ Thái Hậu, quyển hạ, Nxb Phụ Nữ 4. Thu thập và xử lý nguồn ngữ liệu Hiện tượng ADNP được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, từ ngôn ngữ nói đến ngôn ngữ viết như Matthiessen [125] từng nhấn mạnh rằng lý thuyết chức năng hệ thống là một hệ thống để giải thích cho bất kì ngôn ngữ nào. Tuy nhiên, trong luận án này chúng tôi chỉ thu thập tư liệu từ ngôn ngữ viết, đặc biệt các thể loại văn bản khoa học, văn bản 7 chính luận, văn bản văn chương (nhật ký, hồi ký và tiểu thuyết) vì về cơ bản các tư liệu viết đã qua biên tập, chỉnh và sửa. Như thế, trong luận án chúng tôi sử dụng những tư liệu có xuất xứ từ các văn bản cụ thể.
Đơn vị ngôn ngữ được xem là mẫu bao gồm mệnh đề, phức thể mệnh đề, đoạn văn. Luận án khảo sát, chọn 1337 mẫu ADNP và chia ra theo ba loại gồm ADNP tư tưởng, ADNP liên nhân, ADNP văn bản và một số trường hợp giao thoa giữa các loại ADNP. Các mẫu liên quan đến ADNP được chọn theo quá trình sau: 1. Đọc hiểu rõ văn bản cả hình thức và nội dung; 2.
Tập trung vào các cách tạo lập ADNP trong văn bản; 3. Dựa vào tiêu chí đã chọn để quan sát các mẫu có thể có ADNP tư tưởng, ADNP liên nhân và ADNP văn bản; hoặc có những mẫu có thể chứa cả hai hoặc ba loại ADNP; 4. Nhận diện và lấy mẫu; 5. Kiểm tra lại các mẫu thu được để xem có đạt tiêu chuẩn đã chọn hay không.
Trong bước cuối này, ngoài việc dựa vào tiêu chí chọn mẫu, luận án cũng đề cập đến một số cách hiểu và giải thích về ADNP được cấu tạo từ hình thức diễn đạt tương thích và hình thức diễn đạt ẩn dụ như: Hình 1. Mô hình chọn mẫu ẩn dụ ngữ pháp [Ravelli,129] Mô hình chọn mẫu này cho thấy ở bình diện ngữ âm không tạo ra ADNP. Ở bình diện ngữ pháp- từ vựng (lexicogrammar) có hai dạng diễn đạt: diễn đạt tương thích (“C”: congruent expression) và diễn đạt không tương thích hay còn gọi là ADNP (“M”: metaphorical expression); ở bình diện ngữ nghĩa, chúng ta nhận ra có ít nhất từ hai đến ba cách diễn đạt khác nhau: ngữ nghĩa 1 (S1: semantic 1) hoặc diễn đạt tương thích 1, ngữ nghĩa 2 (S2: semantic 2) hoặc diễn đạt ẩn dụ, ngữ nghĩa 3 (S3: semantic 3) cũng là một diễn đạt ẩn dụ khác. Nói cách khác, quá trình diễn đạt ngữ nghĩa của bình diện ngữ pháp- từ vựng có thể tạo ra ít nhất một diễn đạt tương thích hoặc từ một diễn đạt ẩn dụ trở lên.
8 Trong quá trình thực hiện từ bước 1 đến bước 5 để lấy mẫu, luận án xác định mẫu và phân loại ADNP tư tưởng, ADNP liên nhân và ADNP văn bản. Luận án cũng nhận thấy rằng có một số mẫu vừa là ADNP tư tưởng vừa là ADNP liên nhân và cũng có thể có cả ADNP văn bản chồng lắp thật thú vị. Trong những trường hợp như vậy, những mẫu này có thể được chọn để phân tích từ một cho đến ba loại ADNP. Để việc phân tích các phương thức diễn đạt được thuận lợi, số lượng mẫu gồm 1337 mẫu ADNP được chọn nhằm tăng tính thuyết phục; trong luận án, các mẫu được trình bày theo thứ tự từ diễn đạt ẩn dụ sang diễn đạt tương thích, nghĩa là ADNP sẽ đặt trước, có trích nguồn và in nghiêng.
Trong một số trường hợp, mẫu ADNP trong tiếng Anh được dịch qua tiếng Việt (ghi in nghiêng và đặt trong ngoặc đơn). Mẫu diễn đạt tương thích do tác giả luận án diễn đạt lại được đặt sau, không in nghiêng và được các chuyên gia thẩm định nhằm tăng độ chính xác. Như đã đề cập trong phạm vi nghiên cứu, luận án tập trung xây dựng các phương thức diễn đạt ADNP trong tiếng Anh liên hệ với tiếng Việt, vì vậy, các mẫu chứa ADNP sau khi được khảo sát từ nguồn ngữ liệu đều được giáo viên hướng dẫn cùng các chuyên gia tư vấn kiểm duyệt. Đối với các mẫu được cải biến từ hình thức diễn đạt ADNP thành hình thức diễn đạt tương thích, tác giả luận án xin tư vấn của giáo viên hướng dẫn cùng với 02 chuyên gia tiếng Anh và 02 chuyên gia tiếng Việt.
Các mẫu cải biến đều được các chuyên gia thảo luận và thống nhất, đối với các mẫu có xuất hiện nhiều hơn một loại ADNP, theo ý kiến của chuyên gia, luận án có thể sử dụng lại mẫu nhưng mã hóa và giải thích để phân biệt rõ từng loại ADNP. Phương pháp định tính và định lượng Luận án thu thập các thông tin chi tiết về đối tượng nghiên cứu, cụ thể là khảo sát, thu thập ngữ liệu, mô tả, phân tích và xây dựng các phương thức diễn đạt của ba loại ADNP gồm ADNP tư tưởng, ADNP liên nhân và ADNP văn bản; tìm hiểu và phân loại đặc trưng và chức năng của các biểu thức ADNP.