CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỢI THẾ XUẤT KHẨU SẢN PHẨM TRÁI CÂY Trong chương này chúng tôi trình bày một số khái niệm cơ sở về lợi thế xuất khẩu trái cây bao gồm các khái niệm về phân loại sản phẩm trái cây xuất khẩu, đặc điểm của sản phẩm trái cây xuất khẩu, đo lường lợi thế xuất khẩu trái cây nhiệt đới gồm các chỉ số về phía cung, các chỉ số về phía cầu. Một số khái niệm 1. Khái niệm lợi thế so sánh tuyệt đối của Adam Smith A. Smith là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương.
Mô hình kinh tế cổ điển cho rằng đất đai là giới hạn của tăng trưởng. Khi nhu cầu lương thực tăng lên, phải tiếp tục sản xuất trên những đất đai cằn cỗi, không đảm bảo được lợi nhuận cho các nhà tư bản thì họ sẽ không sản xuất nữa. Các nhà kinh tế cổ điển gọi đây là bức tranh đen tối của tăng trưởng. Trong điều kiện đó A.
Smith cho rằng có thể giải quyết bằng cách nhập khẩu lương thực từ nước ngoài với giá rẻ hơn. Việc nhập khẩu này sẽ mang lại lợi ích cho cả hai nước. Lợi ích này được gọi là lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương. Smith, lợi thế tuyệt đối chính là chi phí sản xuất một sản phẩm A của quốc gia này thấp hơn so với chi phí sản xuất của chính sản phẩm A ấy của một quốc gia khác.
Khi đó, quốc gia này sẽ tập trung vào sản xuất sản phẩm có chi phí sản xuất thấp và đem trao đổi với quốc gia khác. Bằng cách đó, lao động của các quốc gia sẽ được sử dụng hiệu quả hơn và sản phẩm của cả hai quốc gia sẽ tăng lên. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A. Smith có ưu điểm là mô tả được hướng chuyên môn hóa trong trong đổi giữa các quốc gia, giải thích được một phần lý do của thương mại quốc tế đối với một số mặt hàng giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển.
Mặt khác nó cũng có một số hạn chế chưa giải thích được hiện tượng trao đổi thương mại vẫn diễn ra với những nước có lợi thế hơn hẳn những nước khác ở mọi sản phẩm hoặc những nước không có lợi thế tuyệt đối về tất cả sản phẩm.2 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo Năm 1817, Ricardo đã cho ra đời tác phẩm “Nguyên lý của Kinh tế chính trị và thuế khóa” trong đó ông đã đề cập tới lợi thế so sánh (Comparative advantage). Khải niệm này chỉ khả năng sản xuất của một sản phẩm với chi phí thấp hơn so với sản xuất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 các sản phẩm khác. Với một số giả thiết của mình, quy luật lợi thế so sánh mà Ricardo rút ra là: mỗi quốc gia nên chuyên môn hóa vào sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà quốc gia đó có lợi thế so sánh và nhập khẩu sản phẩm mà quốc gia đó không có lợi thế so sánh. Theo quy luật này, ngay cả một quốc gia là “kém nhất” (tức là không có lợi thế tuyệt đối để sản xuất cả hai sản phẩm) vẫn có lợi khi giao thương với một quốc gia khác được coi là “tốt nhất” (tức là có lợi thế tuyệt đối để sản xuất cả hai sản phẩm).
Và quốc gia thứ hai lại càng có lợi hơn so với trước khi học giao thương. Ricardo đã nhấn mạnh những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém hơn lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn có lợi khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước đều có lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm và kém lợi thế so sánh nhất định về sản xuất các sản phẩm khác. Bằng việc chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh, tổng sản lượng về sản phẩm trên thế giới sẽ tăng lên, kết quả là mỗi nước đều có lợi ích từ thương mại. Như vậy lợi thế so sánh là cơ sở để các nước buôn bán với nhau và là cơ sở để thực hiện phân công lao động quốc tế.
Lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo có ưu điểm là giải thích được nguyên nhân của thương mại quốc tế giữa các quốc gia là do các quốc gia buôn bán với nhau vì họ khác nhau; các cuốc gia buôn bán với nhau để đạt được lợi thế nhờ quy mô sản xuất; lợi ích của thương mại quốc tế bắt nguồn từ lợi thế so sánh. Một số nhược điểm của lý; thuyết lợi thế so sánh là mới giải thích được lợi thế so sánh tồn tại là do sự khác nhau về năng suất lao động giữa các quốc gia; chưa giải thích được vì sao các nước khác nhau lại có chi phí cơ hợi khác nhau. Bảng phân loại trái cây theo EU Trái cây là một loại quả, có thể ăn được ngay mà không cần chế biến. Trong thực vật học, một loại trái cây là cấu trúc hạt mang trong thực vật có hoa (còn được gọi là thực vật hạt kín) hình thành từ buồng trứng (bầu hoa) sau khi ra hoa (Theo Wikipedia).
Xuất khẩu trái cây xuất khẩu là việc một quốc gia bán một loại trái cây nào đó ra nước ngoài. EU đã đưa ra một bảng phân loại trái cây theo danh mục hài hòa thuế quan mã hai chữ số là HS08 và được chia 14 nhóm từ HS0801 đến HS0814 (mã 4 số). Trong các nhóm HS bốn chữ số các mặt hàng được chia theo HS 06 chữ số. Bảng phân loại trái cây dưới LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 đây của tác giả chỉ xét các mã HS bốn chữ số và 06 chữ số.
Ta có bảng phân loại trái cây như sau Bảng 1. 1 Phân loại trái cây EU Phân loại trái cây EU HS Mô tả 08 Trái cây ăn được, các loại hạt, vỏ của trái cây họ cam quýt, các loại dưa 0801 Dừa, hạt Brazil và hạt điều, tươi hoặc khô, đã hoặc chưa bóc vỏ hoặc bỏ vỏ 0 80111 Dừa, hạt Brazil và hạt điều, tươi hoặc khô, đã hoặc chưa bóc vỏ hoặc bỏ vỏ 0 80119 Dừa cạn, tươi, có vỏ 0 80121 Quả hạch Brazil: - Không vỏ 0 80122 Quả hạch Brazil: - Có vỏ 0 80 131 Hạt điều, còn vỏ 0 80 132 Hạt điều (đã bóc) 0802 Các loại hạt khác, tươi hoặc khô, đã hoặc chưa bóc vỏ, tách vỏ 0 80211 Hạnh nhân còn vỏ, tươi hoặc khô 0 80212 Hạnh nhân, tươi hoặc khô, có vỏ 0 80222 Quả phi hoặc hạt vụn ( có vỏ) 0 80 231 Quả óc chó, còn vỏ 0 80232 Quả óc chó, tươi hoặc khô, có vỏ 0 80240 Hạt dẻ, tươi hoặc khô 0 80250 Hạt dẻ cười tươi hoặc khô 0 80290 Quả hạch ăn được, tươi hoặc khô 0803 Chuối tươi hoặc khô 08 0 80300 Chuối kể cả tươi và khô 0804 Quả chà là, quả sung, quả dứa, quả bơ, quả ổi, tươi hoặc khô 0 80410 Quả chà là tươi hoặc khô 0 80420 Quả sung tươi hoặc khô 0 80430 Quả dứa, tươi hoặc khô 0 80440 Bơ tươi hoặc khô 0 80450 Ổi xoài măng cụt, tươi hoặc khô 0805 Quả có múi, tươi hoặc khô 0 80510 Cam tươi hoặc khô 0 80520 Quất, Chanh vàng & các giống cây họ cam quýt, tươi hoặc khô 0 80530 Chanh và canh tươi hoặc khô 0 80540 Bưởi, tươi hoặc khô 0 80590 Trái cây có múi, tươi hoặc khô ( loại khác) 0806 Nho tươi hoặc khô 0 80610 Nho tươi hoặc khô 0 80620 Nho khô 0 807 Dưa, dưa hấu, và đu đủ tươi 0 80711 Dưa hấu tươi 0 80719 Dưa loại khác 0 80720 Đu đủ tươi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 0 808 Táo, lê, mộc qua tươi 0 80810 Táo tươi 0 80820 Lê, mộc qua tươi 0 809 Quả hạt cứng (Mơ, anh đào, mận, đào…) tươi 0 80910 Mơ tươi 0 80920 Anh đào tươi 0 80930 Quả đào, anh đào tươi 0 80940 Quả mận tươi 0 810 Trái cây khác tươi 0 81010 Dâu tây tươi 0 81020 Quả mâm xôi, dâu đen, dâu tằm, quả nhãn 0 81030 Quả lý chua đen, trắng, đỏ tươi 0 81040 Quả nam việt quất, việt quất đen 0 81090 Loại khác Trái cây và quả hạch, luộc hoặc hấp, đông lạnh chưa nấu chín, có hoặc không 0 811 thêm đường, chất tạo ngọt 0 81110 Dây tây, đông lạnh (hấp, hoặc luộc) 0 81120 Quả mâm xôi, dâu tằm (chưa nấu chín, hấp, luộc), đông lạnh 0 81190 Loại khác, đông lạnh 0 812 Trái cây quả hạch được bảo quản tạm thời chưa ăn ngay 0 81210 Anh đào được bảo quản tạm thời 0 81220 Dây tây được bảo quản tạm thời 0 81290 Loại khác, được bảo quản tạm thời Quả sấy, trừ loại nhóm HS0801 đến nhóm HS0806, hỗn hợp các loại hạt thuộc 0 813 mã HS08 này. 0 81310 Mơ sấy 0 81320 Mận sấy 0 81330 Táo sấy 0 81340 Loại khác, sấy 0 8 1350 Hỗn hợp các loại hạt ăn được, trái cây sấy và bảo quản thuộc mã HS08 0 814 Vỏ trái cây họ cam quýt hoặc các loại dưa 0 81400 Vỏ trái cây họ cam quýt hoặc các loại dưa Nguồn: UN Comtrade, 2019 (HS 08) 1. Đặc điểm của sản phẩm trái cây xuất khẩu Trái cây là sản phẩm thiết yếu đối với cuộc sống con người bởi trái cây mang lại những lợi ích rất tốt cho sức khỏe, trái cây được xuất khẩu có những đặc điểm của trái cây như sau: Tính thời vụ: Quá trình sản xuất và tiêu thụ trái cây mang tính thời vụ bởi cây trồng sinh trưởng và phát triển theo quy luật sinh vật nhất định.
Mặt khác, sự biến thiên về điều kiện thời tiết- khí hậu trog một năm làm cho mỗi loại cây trồng có sự thích ứng riêng, tạo nên tính mùa vụ. Vào khoảng thời gian chính vụ, trái cây thường dồi dào, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 phong phú về chủng loại, chất lượng khá đồng đều và giá bán rẻ. Ngược lại khi trái vụ thì trái cây khan hiếm, chất lượng không đồng đều và giá bán thường cao. Phụ thuộc điều kiện tự nhiên.
Trái cây chịu tác động lớn từ các điều kiện tự nhiên, điều kiện về thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết. Sự thay đổi về điều kiện tự nhiên tác động trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt sẽ mang lại năng suất cao, chất lượng tốt. Ngược lại, nếu điều kiện tự nhiên không tốt sẽ dẫn đến năng suất và chất lượng đều giảm.