MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong thời gian gần đây, số lượng thú cảnh đang tăng lên khá nhanh ở cả thành thị và nông thôn. Đặc biệt là các bạn trẻ hiện nay đang có xu hướng muốn có cho mình một người bạn là thú cưng. Việc nhận nuôi một chú chó hoặc mèo mang lại nhiều lợi ích cho không chỉ người nuôi mà còn nhiều lợi ích cho cộng đồng.
Tuy nhiên cùng với sự tăng lên của đàn chó, dịch bệnh cũng xảy ra ngày càng nhiều, gây hậu quả nặng nề, ảnh hưởng đến kinh tế, tinh thần của những người nuôi chó. Người nuôi chó còn thiếu kinh nghiệm chăm sóc cũng như có rất ít tài liệu nghiên cứu về các bệnh thường gặp trên chó. Trong các bệnh đó có bệnh đường hô hấp, bệnh có tính chất lây lan, tác động kéo dài trên cơ thể chó. Mầm bệnh thường tồn tại rất lâu trong cơ thể chó và ngoài môi trường làm việc phòng trị khó khăn.
Bệnh xảy ra trên mọi lứa tuổi của chó làm ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh hoạt cũng như việc huấn luyện chó. Cho đến nay ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về bệnh của chó đang còn rất hạn chế, chưa có nhiều tài liệu. Xuất phát từ thực tế trên, với mục đích làm rõ đặc điểm bệnh lý của bệnh từ đó sẽ là cơ sở khoa học cho việc xây dựng biện pháp phòng và trị bệnh có hiệu quả cao, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát tình hình viêm đường hô hấp và thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh viêm phổi trên chó tại bệnh viện thú y PetHealth Thanh Hoá” 1. Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 1.
Mục tiêu chung - Nghiên cứu nhằm đánh giá tình hình mắc bệnh đường hô hấp trên đàn chó được mang đến khám và điều trị tại Bệnh viện Thú y PetHealth Thanh Hoá và hiệu quả của một số phác đồ điều trị bệnh viêm phổi và bệnh hô hấp trên chó cảnh từ đó đưa ra những biện pháp phòng và khuyến cáo phác đồ điều trị bệnh phù hợp. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá tình hình mắc bệnh đường hô hấp trên đàn chó được mang đến khám và điều trị tại Bệnh viện Thú y PetHealth Thanh Hoá. - Xác định hiệu quả điều trị bệnh viêm phổi trên đàn chó được mang đến khám và điều trị tại Bệnh viện Thú y PetHealth Thanh Hoá. Yêu cầu cần đạt: -Xác định được tỷ lệ mắc viêm đường hô hấp trên đàn chó tại Bệnh viện Thú y PetHealth Thanh Hoá.
- Đánh giá được kết quả điều trị bệnh trên đàn chó của phác đồ. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả khảo sát về tỷ lệ mắc viêm đường hô hấp trên đàn chó và kết quả đánh giá được hiệu quả của phác đồ điều trị bệnh trên đàn chó có thể làm tài liệu tham khảo cho học tập và nghiên cứu của sinh viên ngành Chăn nuôi- Thú Y. Ý nghĩa thực tiễn Khuyến cáo phác đồ điều trị bệnh viêm phổi trên đàn chó tốt nhất góp phần giảm thiểu tối đa thiệt hại về kinh tế cũng như đảm bảo sức khỏe cho chó do bệnh viêm phổi gây nên.
2 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Một số giống chó hiện được nuôi tại Việt Nam 2.Giống chó nội Chó ta được người dân thuần hóa và nuôi dưỡng cách đây 3000 - 4000 năm trước công nguyên. Các nhà khoa học đã khẳng định nhóm chó ta có nguồn gốc từ chó sói lớn (chó sói lửa - counalpinus). Do ở nước ta có tập quán nuôi chó thả rông, vì thế sự phối giống một cách tự nhiên giữa các giống chó, kết quả là tạo ra nhiều thế hệ con lai với nhiều đặc điểm ngoại hình rất đa dạng từ tầm vóc đến kiểu tai, kiểu đuôi và bộ lông rất khác biệt, về tên gọi thì người dân thường dựa vào màu sắc bộ lông và địa phương để gọi tên như: chó mực (nhóm chó có bộ lông màu đen), chó vàng (nhóm chó có bộ lông màu vàng) và chó ở vùng núi cao thì gọi tên của địa phương đó như chó Lào, chó H’Mông, vì thế nên được xếp chung vào 1 nhóm chó ta.
Chó ta có tầm vóc lớn trung bình, chó cái thường nhỏ hơn chó đực không đáng kể, thể trọng bình quân lúc 12 - 15 tháng tuổi đạt 9,83 - 11,01 kg, đầu to vừa phải, mình thon nhỏ, cấu trúc cơ thể có dạng hình chữ nhật, cao vai trung bình 38,8 cm. Đường lưng thẳng, ngực khá sâu, bộ lông ngắn ôm sát thân, sợi lông hơi thô và thẳng, màu sắc thay đổi một hoặc nhiều màu: vằn, đen, trắng và vện. Đuôi dài 22,16 cm thường là uốn cong lên lưng chiếm 61,16% (Phạm Sỹ Lăng và CS. Chó Vàng Chó có tầm vóc trung bình, cao 50-55 cm, nặng 12-15 kg, có bộ lông vàng tuyền là nòi chó săn, khá tinh khôn và quấn chủ, được nuôi nhiều ở khắp các đồng quê.
Chó đực phối giống được lứa tuổi 15-18 tháng. Chó cái sinh sản ở lứa tuổi 12-14 tháng. Mỗi lứa chó cái đẻ 4-7 con, trung bình 5 con (Nguyễn Văn Thanh và CS.2 Chó Bắc Hà Chó Bắc Hà là tên loài chó bản địa sống ở vùng Bắc Hà tỉnh Lào Cai, ít gặp ở các địa phương khác, chúng có bộ lông dài tương tự như giống H’Mông lông dài nhưng phần mặt lại không có những đám lông dài. Loài chó này được 3 người H'Mông dùng để đi săn và làm bạn cho những chuyến đi săn dài ngày.
Chó Bắc Hà thường có lông xù, to cao, tính tình hiền lành, có bờm rất đẹp, phân cách phần đầu thủ với phần thân. Mầu lông có các mầu khác nhau như màu đen, vàng, vện, xám hoặc đen-trắng. Một số rất ít cá thể có màu hung đỏ. Đuôi luôn dựng và lông đuôi dài, xù, cong phủ xuống hai bên.
Cao khoảng từ 57-65 cm, nặng khoảng 25-35 kg. Đây là loài chó rất thông minh, dễ huấn luyện, biết nghe lời chủ, hiền lành và rất kỷ luật. Loài chó này khi mang về đồng bằng thường hay bị chết vì vận chuyển và do loài chó này quen sống ở nơi khí hậu lạnh nên khi mang xuống đồng bằng cần chăm sóc cẩn thận (Phạm Sỹ Lăng và CS.3 Chó H’Mông Sống ở miền núi cao, được dùng để giữ nhà và săn thú, có tầm vóc lớn hơn chó Vàng: chiều cao 55-60cm, nặng 18-20kg. Chó đực phối giống được ở 16-18 tháng tuổi, chó cái sinh sản ở độ tuổi 12-15 tháng.
Chó cái mỗi lứa đẻ 5-8 con, trung bình là 6 con (Phạm Sỹ Lăng và CS.4 Chó Phú Quốc Là giống chó tinh khôn, dũng cảm, chó Phú Quốc thường có bộ lông đen, đốm trắng hay vàng, bụng thon, trên lưng lông mọc có hình xoáy, hay lật theo kiểu rẽ ngôi, lông vàng xám có các đường kẻ nhạt chạy dọc theo thân. Chó cao 50-60 cm, nặng 20-25 kg. Chó cái mỗi lứa đẻ 4-6 con, trung bình là 5 con. Giống chó nhập ngoại (chó ngoại) 2.
Chó German Shapherd (chó Bergie Đức) German Shepherd là giống chó có nguồn gốc từ Đức, được xác định đầu tiên tại Berlin (1899) là giống chó Bergie lông ngắn và tại Hanover (1882) là giống chó Bergie lông dài. Có giả thuyết cho rằng Bergie Đức là giống chó được tạo ra từ sự tạp giao tự nhiên giữa giống chó chăn cừu và chó nhà. Hiện nay, giống này được phân bố ở khắp nơi trên thế giới, nhưng tập trung chủ yếu ở châu Âu. Giống chó này rất thông minh, linh hoạt, dũng cảm, điềm tĩnh, biết 4 vâng lời thân thiện với đồng loại cũng như với con người.
Nhờ những đặc tính tuyệt vời này mà chó Bergie được dùng cho nhiều lĩnh vực như: tìm kiếm, cứu hộ, trinh sát, bảo vệ (Nguyễn Văn Thanh và CS. Giống này được nhập vào nước ta từ những năm 1960. Ngoại hình có tầm vóc tương đối lớn so với các giống chó ở nước ta, dài 110 - 112 cm; cao 56 - 65 cm đối với chó đực và 62 - 66 cm đối với chó cái; trọng lượng 28 - 37 kg. Bộ lông ngắn, mềm, màu đen sẫm ở thân và mõm; đầu, ngực và bốn chân có màu vàng sẫm.
Đầu hình nêm; mũi phân thùy; tai dỏng hướng về phía trước, mắt đen; răng to, khớp răng cắn khít. Chó đực có thể phối giống khi 24 tháng. Chó cái có thể sinh sản khi 18 - 20 tháng. Mỗi năm chó cái đẻ 2 lứa, mỗi lứa 4 - 8 con (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 1992[3]; Phạm Sỹ Lăng và CS.
Labrador Nguồn gốc từ Canada, con đực cao 56-57 cm, con cái cao54-56 cm. Trong lượng con đực là 27-34 kg và con cái 25-32 kg Đầu tương đối to và rộng, cổ to nhưng cân đối. Đôi tai rủ xuống khiến cho khuôn mặt của Labrador trông rất cởi mở và hiền từ. Thân hình rắn chắc, rất nổi tiếng bởi khả năng bơi lội giỏi, mũi rất thính và mắt rất tinh.
Là vua của các giống chó săn, Labrador rất năng nổ, lanh lợi, tự tin và rất gan dạ nhưng nó lại rất điềm đạm mà không hề hung hăng nên nó là một con vật rất đáng yêu. Được đánh giá là giống chó thân thiện nhất hiện nay, Labrador không chỉ thích hợp với công việc săn bắt mà còn thích hợp làm chó hướng dẫn, phát hiện ma túy. Chihuahua Đây là giống chó lâu đời nhất ở Châu Mỹ và là giống chó có thân hình nhỏ nhất trong mọi loài chó trên thế giới. Tên của giống chó này được lấy tên từ tên của bang Chihuahua của Mexico, nơi mà các nhà thám hiểm đã tìm ra chúng.
Chihuahua là giống chó nhỏ con có đầu tròn và mõm ngắn. Nó có đôi mắt to tròn, màu sẫm gần như đen, đôi khi là màu đỏ sẫm. Đôi tai đặc hiệu to 5 đùng luôn giữ vểnh. Chihuahua ở phần thóp trên đỉnh đầu có một hõm mềm.
Lỗ thủng này khi lên sẽ được xương sọ che phủ hết. Thân hình chắc chắn, dài hơn so với chiều cao, đuôi uốn cong trên lưng hoặc vắt sang một bên. Ở Việt Nam rất phổ biến loài lông ngắn. Tuy vậy, ở nước ngoài cả 2 loại lông ngắn, lông dài đều được coi trọng như nhau.
Màu lông thường có các loại màu vàng cát, nâu hạt dẻ, màu bạc, xanh thép, nâu nhạt. Chúng có lưng bằng và 4 chân thẳng. Chiều cao khoảng 15 - 23 cm, cân nặng từ 1 - 3 kg (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 1992[3]; Đỗ Hiệp, 1994) [1]. Chihuahua không chịu nổi lạnh và hay bị run lên vì rét.
Nó tỏ ra dễ thích nghi với sự ấm áp hơn là với thời tiết lạnh. Đây là loại chó rất thích hợp với đời sống căn hộ.