Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ thuộc địa bàn tỉnh Hà Tĩnh có tổng diện tích tự nhiên đạt 36.949,09 ha, trong đó phân định 21.758,9 ha rừng đặc dụng (chiếm 58,9% diện tích), 7.393 ha rừng phòng hộ và 5.005,39 ha rừng sản xuất. Hệ sinh thái nơi đây lưu giữ giá trị sinh học phong phú với 567 loài thực vật bậc cao có mạch và 385 loài động vật có xương sống trên cạn, đóng vai trò là mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng nhiệt đới đất thấp điển hình của khu vực Bắc Trung Bộ.

Tuy nhiên, tài nguyên rừng tại khu bảo tồn đang đối mặt với nguy cơ suy thoái nghiêm trọng sau lịch sử chuyển đổi từ lâm trường khai thác gỗ Cẩm Kỳ. Hiện nay, tỷ lệ rừng hỗn giao thường xanh bị tác động mạnh lên tới 73,9%, trong khi diện tích rừng nguyên sinh ít bị tác động chỉ còn lại khoảng 24,0%. Sức ép xâm hại đa dạng sinh học bắt nguồn chủ yếu từ 10 xã vùng đệm bao quanh với quy mô gần 50.000 nhân khẩu, nơi điều kiện kinh tế khó khăn và đất sản xuất nông nghiệp bình quân chỉ đạt khoảng 200 m2/người.

Luận văn thạc sĩ tập trung giải quyết vấn đề đánh giá toàn diện hiện trạng quản lý đa dạng sinh học, phân tích các nguyên nhân kinh tế - xã hội dẫn đến tình trạng khai thác lâm sản và săn bắt động vật hoang dã trái phép. Mục tiêu cụ thể là làm rõ thực trạng phân bố sinh cảnh, nhận diện 43 loài động vật và 10 loài thực vật quý hiếm đang bị đe dọa, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp quản lý mang tính đột phá. Nghiên cứu được triển khai thực địa tại khu bảo tồn và các xã vùng đệm trọng điểm gồm Cẩm Mỹ và Kỳ Thượng trong giai đoạn 2008 – 2011, đóng góp cơ sở dữ liệu xác thực giúp các cơ quan quản lý nâng cao hiệu lực bảo vệ nguồn gen đặc hữu và cải thiện sinh kế địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng Công ước Quốc tế về Đa dạng Sinh học (CBD 1992, Rio de Janeiro) với cách tiếp cận toàn diện theo ba cấp độ cốt lõi: đa dạng hệ sinh thái, đa dạng loài và đa dạng di truyền. Hệ sinh thái rừng tại Kẻ Gỗ được nhìn nhận như một phức thể chức năng, nơi các chuỗi thức ăn và dòng năng lượng duy trì sự cân bằng thủy văn cho hồ chứa nước Kẻ Gỗ với lượng mưa bình quân hàng năm dao động từ 2.500 mm đến trên 3.000 mm.

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng lý thuyết Quản lý rừng dựa vào cộng đồng (Community-Based Forest Management) và khung phân tích sinh kế bền vững để lý giải mối tương tác giữa sinh thái và dân sinh. Các khái niệm trung tâm bao gồm: phân vùng chức năng rừng đặc dụng (21.758,9 ha) theo Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng; bảo tồn nguồn gen loài nguy cấp theo Sách đỏ Việt Nam và danh mục Công ước CITES; cùng với phương pháp phân tích ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) trong công tác quản trị lâm nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ các nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong đợt khảo sát thực tế tháng 6 và tháng 7 năm 2011. Nguồn dữ liệu thứ cấp được kế thừa từ các dự án điều tra đa dạng sinh học của Quỹ Bảo tồn Việt Nam (VCF 2009 – 2010), hồ sơ vi phạm lâm luật giai đoạn 2008 – 2010 của Hạt Kiểm lâm Kẻ Gỗ và các báo cáo rà soát ba loại rừng của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Tĩnh.

Phương pháp điều tra sơ cấp áp dụng kỹ thuật Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) với quy mô chọn mẫu có chủ đích tại hai xã chịu tác động lớn nhất: xã Cẩm Mỹ (tổng số 1.344 hộ với 6.518 người) và xã Kỳ Thượng (tổng số 1.762 hộ với 6.237 người). Cỡ mẫu phỏng vấn bảng hỏi và thảo luận nhóm tập trung vào các hộ trực tiếp đi rừng khai thác lâm sản phụ, săn bắt thú và các hộ thuần nông, kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ kiểm lâm địa bàn và lãnh đạo thôn bản.

Khảo sát thực địa sinh thái được tiến hành trên 2 tuyến đại diện xuyên tâm: Tuyến 1 chạy từ xã Cẩm Mỹ qua thượng nguồn lòng hồ đến xã Kỳ Thượng; Tuyến 2 chạy dọc theo trục đường 17 từ Km 21 xã Thạch Điền đến Km 46 xã Hương Hóa. Phương pháp phân tích thống kê mô tả và so sánh định lượng được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác mức độ chênh lệch thu nhập giữa các nhóm dân cư, cung cấp luận cứ vững chắc để thiết kế các chính sách can thiệp sinh kế khả thi.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, khu hệ thực vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ ghi nhận 567 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 367 chi và 117 họ. Trong đó, có 10 loài quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam, chiếm tỷ lệ 1,76% tổng số loài thực vật, bao gồm Kim giao, Gụ lau, Chò chỉ, Re hương, Vàng tâm, Lát hoa, Sến mật, Song mật, Sưa và Trầm hương. Tuy nhiên, trữ lượng các loài cây gỗ lớn có giá trị kinh tế cao đã suy giảm nghiêm trọng. Khảo sát năm 2011 cho thấy các loài như Sưa, Trầm hương, Lát hoa hầu như không còn cá thể trưởng thành trong tự nhiên; các loài Sến mật, Gụ lau chỉ còn phân bố rải rác ở độ cao trên 300 m hoặc chỉ tồn tại dưới dạng cây con tái sinh.

Thứ hai, khu hệ động vật có xương sống ghi nhận 385 loài thuộc 29 bộ và 94 họ, trong đó có 43 loài động vật quý hiếm nằm trong danh mục ưu tiên bảo tồn. Lớp Chim chiếm ưu thế vượt trội với 272 loài, tương đương 70,6% tổng số loài động vật của khu bảo tồn, đại diện cho 75,6% thành phần loài chim của toàn vùng Bắc Trung Bộ và khoảng 34% tổng số loài chim của cả nước. Lớp Thú có 66 loài (chiếm 17,1%), nổi bật với các loài quý hiếm như Mang lớn và dấu vết Bò tót từng được ghi nhận tại vùng Rào Môn; lớp Bò sát có 30 loài (chiếm 7,8%) và Lưỡng cư có 17 loài (chiếm 4,4%).

Thứ ba, sự phân hóa kinh tế và áp lực sinh kế từ các xã vùng đệm diễn ra rất phức tạp. Tại xã Kỳ Thượng, tỷ lệ lao động tham gia vào các hoạt động khai thác rừng lên tới 40% - 60%, trong khi tại xã Cẩm Mỹ tỷ lệ này dao động từ 5% - 15%. Mức thu nhập bình quân của nhóm hộ đi rừng đạt từ 2 đến 4,5 triệu đồng/tháng/hộ, cao hơn đáng kể so với mức thu nhập từ 1 đến 2,5 triệu đồng/tháng/hộ của nhóm hộ không đi rừng. Chênh lệch thu nhập lớn này là động cơ trực tiếp thúc đẩy người dân tiếp tục vào rừng đặt bẫy, lấy mật ong và khai thác gỗ trái phép.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng suy giảm đa dạng sinh học là do áp lực đói nghèo dai dẳng tại vùng đệm. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tại xã Cẩm Mỹ là 50% và tại xã Kỳ Thượng là 45%, với thời gian thiếu lương thực trung bình từ 2 đến 3 tháng mỗi năm. Trình độ dân trí thấp với dưới 75% dân số hoàn thành bậc tiểu học và dưới 50% học hết bậc trung học cơ sở tại một số thôn bản hẻo lánh đã hạn chế khả năng chuyển đổi nghề nghiệp của người dân. Tập quán làm nhà bằng gỗ cùng mạng lưới đầu nậu thu mua lâm sản trái phép đã tạo thành chuỗi cung ứng thương mại tác động trực tiếp vào vùng lõi.

Khi so sánh với các khu bảo tồn lân cận, Kẻ Gỗ tuy có diện tích rừng đặc dụng (21.758,9 ha) nhỏ hơn đáng kể so với Vườn quốc gia Vũ Quang (56.923,8 ha) hay Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (85.754 ha), nhưng lại sở hữu mật độ loài chim cao tương đương (272 loài so với 315 loài tại Vũ Quang). Điều này khẳng định Kẻ Gỗ giữ vai trò sinh cảnh sống then chốt cho nhiều loài chim đặc hữu của dải Trường Sơn.

Các phát hiện nghiên cứu hoàn toàn có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ hình cột so sánh cơ cấu thu nhập giữa hai nhóm hộ đi rừng và không đi rừng, cùng với bảng ma trận SWOT chi tiết phản ánh tình trạng thiếu hụt nhân lực kiểm lâm (tỷ lệ cán bộ hợp đồng cao và diện tích bảo vệ bình quân trên mỗi cán bộ vượt quá định mức).

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiện toàn bộ máy tổ chức và nâng cao năng lực thực thi pháp luật lâm nghiệp. Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ cần phối hợp cùng Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh tiến hành chuyển đổi chỉ tiêu biên chế cho đội ngũ bảo vệ rừng hợp đồng, đầu tư hệ thống định vị GPS và trang thiết bị tuần tra chuyên dụng; hướng tới mục tiêu giảm ít nhất 50% số vụ vi phạm khai thác gỗ và săn bắt động vật hoang dã trong giai đoạn 2012 – 2015.

Thứ hai, nhân rộng các mô hình sinh kế bền vững gắn liền với chính sách giao khoán rừng. Đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Cẩm Xuyên và Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhân rộng mô hình nhận khoán khai thác nhựa thông từ 32 hộ hiện tại lên quy mô 100 hộ dân tại xã Cẩm Mỹ, đảm bảo mức thu nhập ổn định 4 đến 7 triệu đồng/tháng/hộ trong mùa thu hoạch; đồng thời hỗ trợ chuyển đổi 500 ha đất nương rẫy kém hiệu quả sang trồng rừng keo nguyên liệu có chứng chỉ, mang lại nguồn thu ước tính 30 triệu đồng/ha sau chu kỳ 7 năm.

Thứ ba, thiết lập cơ chế đồng quản lý tài nguyên và nâng cao nhận thức cộng đồng. Ban Quản lý cần phối hợp chặt chẽ với chính quyền 10 xã vùng đệm thành lập các tổ bảo vệ rừng tự quản tại 100% các thôn bản giáp ranh; tổ chức các chương trình truyền thông môi trường định kỳ nhằm nâng cao nhận thức cho hơn 12.000 cư dân tại hai xã trọng điểm Cẩm Mỹ và Kỳ Thượng giai đoạn 2012 – 2020.

Thứ tư, hoàn thiện phân định ranh giới và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số về đa dạng sinh học. Khẩn trương triển khai cắm mốc ranh giới kiên cố trên toàn bộ 21.758,9 ha diện tích rừng đặc dụng trong giai đoạn 2012 – 2014, ngăn chặn hoàn toàn tình trạng xâm lấn đất rừng làm nương rẫy; đồng thời thiết lập chương trình giám sát dài hạn đối với quần thể 43 loài động vật và 10 loài thực vật quý hiếm nằm trong Sách đỏ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Ban Giám đốc và cán bộ chuyên môn tại các Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia trên toàn quốc. Luận văn cung cấp khung phân tích thực tế về quản lý rừng nhiệt đới đất thấp, các bài học kinh nghiệm trong việc xử lý xung đột sinh kế tại vùng đệm và phương pháp cắm mốc quản lý 21.758,9 ha rừng đặc dụng.

Thứ hai, cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách lâm nghiệp cấp tỉnh, huyện. Tài liệu là căn cứ khoa học xác đáng để Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xây dựng các đề án quy hoạch lâm nghiệp, lồng ghép nguồn vốn từ các chương trình 135, 661 và phát triển nông thôn mới cho 10 xã vùng đệm với quy mô gần 50.000 dân.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng và Bảo tồn đa dạng sinh học. Công trình là nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp ứng dụng công cụ PRA trong nghiên cứu kinh tế - xã hội lâm nghiệp, cùng danh lục phân loại chi tiết 567 loài thực vật và 385 loài động vật tại Bắc Trung Bộ.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ và các quỹ tài trợ bảo tồn quốc tế như Quỹ Bảo tồn Việt Nam (VCF), Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN). Báo cáo cung cấp các số liệu định lượng chuẩn xác về các mối đe dọa sinh cảnh để xây dựng các dự án tài trợ phát triển sinh kế và bảo tồn nguồn gen loài nguy cấp.

Câu hỏi thường gặp

Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ có những giá trị đa dạng sinh học nào nổi bật nhất? Khu bảo tồn sở hữu hệ sinh thái rừng nhiệt đới đất thấp điển hình với 567 loài thực vật bậc cao và 385 loài động vật có xương sống. Giá trị nổi trội nhất nằm ở khu hệ chim với 272 loài, chiếm tới 75,6% tổng số loài chim tại khu vực Bắc Trung Bộ cùng sự hiện diện của các loài thú quý hiếm như Mang lớn và dấu vết Bò tót.

Thực trạng suy giảm các loài thực vật quý hiếm tại Kẻ Gỗ diễn ra ở mức độ nào? Trong số 10 loài thực vật ghi trong Sách đỏ Việt Nam, nhiều loài cây gỗ quý như Sưa, Trầm hương, Lát hoa gần như đã biến mất ngoài tự nhiên do lịch sử khai thác kiệt quệ. Hiện nay, tỷ lệ diện tích rừng bị tác động mạnh chiếm tới 73,9%, các loài cây gỗ quý chỉ còn gặp rải rác dưới dạng cây tái sinh non.

Tại sao người dân các xã vùng đệm vẫn tiếp tục vào rừng khai thác lâm sản trái phép? Nguyên nhân xuất phát từ áp lực sinh kế khi tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tại các xã như Cẩm Mỹ, Kỳ Thượng chiếm từ 45% đến 50%. Mức thu nhập từ việc đi rừng đạt 2 đến 4,5 triệu đồng/tháng, cao gấp đôi so với thu nhập sản xuất nông nghiệp trên diện tích đất lúa hạn hẹp chỉ khoảng 200 m2/người.

Mô hình sinh kế nào đã chứng minh được hiệu quả giảm áp lực lên tài nguyên rừng? Mô hình giao khoán khai thác nhựa thông cho 32 hộ dân tại xã Cẩm Mỹ đã mang lại thu nhập ổn định từ 4 đến 7 triệu đồng/tháng/hộ trong mùa nắng. Đây là ví dụ tiêu biểu cho thấy việc tạo việc làm lâm nghiệp hợp pháp giúp cộng đồng giảm phụ thuộc vào việc khai thác gỗ và săn bắt động vật hoang dã.

Luận văn đề xuất giải pháp trọng tâm nào để nâng cao hiệu lực quản lý bảo tồn? Nghiên cứu kiến nghị đồng bộ bốn nhóm giải pháp: kiện toàn bộ máy kiểm lâm, cắm mốc ranh giới kiên cố cho 21.758,9 ha rừng đặc dụng, mở rộng các mô hình sinh kế lâm nghiệp bền vững và thiết lập quy chế đồng quản lý có sự tham gia tích cực của gần 50.000 cư dân vùng đệm.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa hiện trạng đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ với 567 loài thực vật và 385 loài động vật có xương sống, chỉ rõ diện tích rừng bị tác động mạnh chiếm tới 73,9%.
  • Nhận diện chính xác 43 loài động vật và 10 loài thực vật quý hiếm đang đứng trước nguy cơ suy thoái quần thể do các hoạt động săn bắt và khai thác gỗ trái phép.
  • Chứng minh mối tương quan trực tiếp giữa tỷ lệ hộ nghèo tại vùng đệm (45% - 50%) và sự chênh lệch thu nhập của nhóm hộ đi rừng (2 - 4,5 triệu đồng/tháng) với mức độ vi phạm lâm luật.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa tuần tra bảo vệ nghiêm ngặt diện tích 21.758,9 ha rừng đặc dụng với chuyển đổi sinh kế cộng đồng.
  • Hoàn thiện lộ trình thực thi giai đoạn 2012 – 2020 nhằm bảo tồn an toàn mẫu chuẩn sinh thái rừng nhiệt đới đất thấp tại Hà Tĩnh.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và mô hình đồng quản lý khả thi cho các nhà quản trị lâm nghiệp. Ban Quản lý Khu bảo tồn và chính quyền địa phương cần nhanh chóng triển khai cắm mốc ranh giới và nhân rộng các mô hình sinh kế ngay trong giai đoạn tới. Độc giả và các nhà nghiên cứu quan tâm hãy tham khảo toàn văn công trình để áp dụng hiệu quả các phương pháp quản lý bảo tồn thiên nhiên bền vững.