Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Các yếu tố tác động tới hoạt động tăng trưởng xanh của doanh nghiệp tại các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai" được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu giải quyết bài toán chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ phương thức thâm dụng tài nguyên sang mô hình tăng trưởng xanh ở cấp độ doanh nghiệp trong các khu công nghiệp.
Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ thực tiễn phát triển kinh tế: mô hình tăng trưởng truyền thống dựa trên khai thác tối đa tài nguyên thiên nhiên đang tạo ra áp lực môi trường nghiêm trọng và gia tăng tác động của biến đổi khí hậu (Carson, 1962; OECD, 2011d). Doanh nghiệp đóng vai trò động lực kinh tế nhưng đồng thời là nguồn phát thải chính. Sau khi Việt Nam ban hành Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh vào tháng 9 năm 2012, các doanh nghiệp phải đối mặt với yêu cầu kép: vừa tuân thủ các quy định môi trường, vừa nâng cao năng lực cạnh tranh (Hallegatte và cộng sự, 2011). Tại tỉnh Đồng Nai, khu vực công nghiệp chiếm trên 50% GDP; tính đến năm 2017, địa phương có 32 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất 10.242,59 ha (diện tích cho thuê đạt 4.949,56 ha, tỷ lệ lấp đầy 71%), thu hút 1.135 dự án FDI (vốn đăng ký 21.795,09 triệu USD, vốn thực hiện 16.280,11 triệu USD) và 425 dự án trong nước. Song song với đóng góp kinh tế, tình trạng ô nhiễm môi trường do các doanh nghiệp khu công nghiệp gây ra gia tăng nhanh chóng (Báo Tuổi trẻ, 2015; Tạp chí Công nghệ môi trường, 2019; Xuân Hoàng và Như Phú, 2018). Khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu vắng các công trình phân tích có hệ thống ở cấp độ vi mô về các hoạt động tăng trưởng xanh và các yếu tố tác động (đặc biệt là áp lực từ các bên hữu quan và vai trò của Ban Quản lý khu công nghiệp) tại một địa bàn công nghiệp trọng điểm.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là làm rõ thực trạng triển khai các hoạt động tăng trưởng xanh của doanh nghiệp trong các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai, phân tích các nguyên nhân thông qua mô hình yếu tố tác động, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp thúc đẩy trong giai đoạn tiếp theo.
Các mục tiêu cụ thể gồm:
- Thứ nhất, phân tích và đánh giá thực trạng triển khai hoạt động tăng trưởng xanh của doanh nghiệp trên địa bàn các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai.
- Thứ hai, giải thích nguyên nhân dẫn đến thực trạng triển khai thông qua việc xây dựng và kiểm định mô hình các yếu tố tác động tới mức độ thực hiện hoạt động tăng trưởng xanh của doanh nghiệp.
- Thứ ba, đề xuất hệ thống giải pháp thúc đẩy hoạt động tăng trưởng xanh của doanh nghiệp trong các khu công nghiệp giai đoạn tiếp theo.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định qua 4 nội dung: (1) Xây dựng cơ sở lý thuyết về hoạt động tăng trưởng xanh của doanh nghiệp dựa trên cách tiếp cận sản xuất bền vững và cải tiến sinh thái, lược khảo tài liệu để thiết lập mô hình định lượng; (2) Thiết kế bảng khảo sát thu thập dữ liệu về mức độ triển khai hoạt động tăng trưởng xanh và nhận định của doanh nghiệp về áp lực từ các bên liên quan; (3) Đánh giá thực trạng và giải thích nguyên nhân dựa trên kết quả hồi quy; (4) Đề xuất giải pháp và kiến nghị chính sách.
Ba câu hỏi nghiên cứu tương ứng:
- Thứ nhất, mức độ triển khai hoạt động tăng trưởng xanh của các doanh nghiệp tại khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đang diễn ra như thế nào so với tiếp cận về cải tiến sinh thái và sản xuất bền vững?
- Thứ hai, các yếu tố chính tác động đến việc triển khai các hoạt động tăng trưởng xanh của doanh nghiệp là gì; ngoài đặc thù doanh nghiệp, các bên hữu quan có tạo sức ép đủ lớn hay không?
- Thứ ba, để thúc đẩy hoạt động tăng trưởng xanh của doanh nghiệp trong khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai, cần chú trọng vào các yếu tố nào và giải pháp cụ thể là gì?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động tăng trưởng xanh đã triển khai của doanh nghiệp và các yếu tố tác động tới việc triển khai các hoạt động này tại các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai.
- Phạm vi thời gian: Phân tích số liệu thứ cấp giai đoạn 2010–2018; thời gian thu thập dữ liệu khảo sát sơ cấp diễn ra từ tháng 11/2017 đến tháng 5/2018.
- Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp hoạt động trong 32 khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (thuộc thành phố Biên Hòa, thị xã Long Khánh và các huyện Cẩm Mỹ, Định Quán, Long Thành, Nhơn Trạch, Tân Phú, Thống Nhất, Trảng Bom, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc).
- Phạm vi nội dung: Tiếp cận hoạt động tăng trưởng xanh theo 5 nhóm nội dung: (1) Lồng ghép tăng trưởng xanh trong chiến lược phát triển; (2) Xanh hóa sản xuất; (3) Sử dụng hiệu quả nguồn nước và năng lượng; (4) Đầu tư nguồn nhân lực và cơ cấu tổ chức; (5) Đầu tư nghiên cứu phát triển sản phẩm/dịch vụ thân thiện môi trường và marketing xanh. Đo lường thông qua dữ liệu định tính phản ánh 3 mức độ: đã triển khai, đang xem xét triển khai, chưa triển khai. Các yếu tố tác động tập trung vào đặc trưng doanh nghiệp (vốn, hội nhập quốc tế, ngành nghề) và áp lực từ các bên hữu quan (bên trong, bên ngoài, Ban Quản lý khu công nghiệp).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu quốc tế được tác giả phân định thành hai nhóm cấp độ:
- Cấp độ vĩ mô: Nhấn mạnh sự cần thiết chuyển dịch từ mô hình khai thác tài nguyên sang kinh tế xanh (Green Economy) và tăng trưởng xanh (Green Growth) nhằm bảo đảm phát triển bền vững trước biến đổi khí hậu (OECD, 2011c, 2011d; ESCAP, 2013; UNEP, 2012; World Bank, 2012). Tăng trưởng xanh được định nghĩa là mô hình tăng trưởng hiệu quả, sạch và có tính chống chịu; các rào cản vĩ mô bao gồm thể chế, chính sách, tài chính, công nghệ và nhận thức xã hội.
- Cấp độ vi mô: Tập trung vào hai hướng tiếp cận chính:
- Sản xuất bền vững (Sustainable Manufacturing): Sử dụng quy trình và hệ thống không gây ô nhiễm xuyên suốt từ đầu vào đến sản phẩm đầu ra (OECD, 2009).
- Cải tiến sinh thái (Eco-innovation): Triển khai các nội dung mới hoặc cải thiện quy trình, sản phẩm có chủ đích hoặc không chủ đích nhằm nâng cao hiệu quả và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường (Nasr và Thurston, 2006; Kemp và Foxcon, 2007; Wugan Cai và Guangpei Li, 2018; Chin và cộng sự, 2016).
- Về phân loại hoạt động: Rennings (2000) và Kemp và Foxcon (2007) phân loại thành 4 nhóm (công nghệ, tổ chức, xã hội, thể chế). Andersen (2008) chia thành 4 dạng: thêm vào (add-on), tích hợp, thay thế và tổ chức sinh thái xã hội. Alasdair Reid và Michal Miedzinski (2008) phân loại theo 3 cấp độ tác động (vi mô, trung gian, vĩ mô) gắn với 4 nội dung (vòng đời sản phẩm, cải tiến sản phẩm và quy trình, cải tiến tổ chức, đổi mới tiếp thị). Chin và cộng sự (2016) chia thành ISO 14000, quy trình sản xuất xanh, kiểm soát ô nhiễm và chứng nhận xanh. Buysse và cộng sự (2003) phân loại dựa trên lý thuyết nguồn lực của Hart (1995). Linas Čekanavičius và cộng sự (2014) tiếp cận từ góc độ doanh nghiệp xanh với mô hình 4Rs (reduction, reuse, recycling, recovery).
- Về vai trò và rào cản: Bắt đầu từ tranh luận của Porter và van der Linde (1995a, 1995b) về giả thuyết quy định môi trường kích thích đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất; Ravindra và cộng sự (2012) chứng minh xanh hóa giúp tăng khả năng cạnh tranh; Andrea Beltramello và cộng sự (2013), EC (2008), Ashford (1993) chỉ ra các rào cản về vốn, chi phí, thị trường, kỹ năng quản trị và rủi ro công nghệ.
- Về yếu tố tác động: Mazurkiewicz (2004) phân tích các yếu tố kinh tế, xã hội, chính sách; Mbugua và Kariuki (2013) khảo sát yếu tố tài chính, quản lý; De Jesus Pacheco và cộng sự (2016) tổng hợp 23 yếu tố quyết định cải tiến sinh thái tại doanh nghiệp nhỏ và vừa; Bossle và cộng sự (2016) phân nhóm thành các yếu tố bên ngoài (quy định, chuẩn mực, đối tác), yếu tố bên trong (hiệu quả, văn hóa, nguồn nhân lực) và biến kiểm soát (quy mô, tài chính công, ngành nghề); Henriques (1999), Hua-Hung Weng (2015), Murillo-Luna (2008) nhấn mạnh áp lực từ các bên hữu quan.
Tổng quan tài liệu trong nước được tổng thuật qua các hướng:
- Tiếp cận vĩ mô: Đánh giá những bất cập của mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, thâm dụng vốn và tài nguyên, phát thải cao (Nguyễn Văn Luân, 2014; Phạm Hồng Mạnh, 2014; CIEM, 2012; VICEM, 2017; Trần Đình Thiên và cộng sự, 2011; Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự, 2014; Nguyễn Tiến Dũng và cộng sự, 2016).
- Hệ thống tiêu chí đánh giá doanh nghiệp xanh: Bộ chỉ số doanh nghiệp bền vững CSI do VCCI và VBCSD ban hành gồm 151 tiêu chí; Sách Xanh tỉnh Bình Dương (Quyết định 05/2018/QĐ-UBND) gồm thang điểm 100 dựa trên tuân thủ tiêu chuẩn và hồ sơ môi trường; UBND tỉnh Bình Định (2013) ban hành tiêu chí cho khu công nghiệp và Khu kinh tế Nhơn Hội (thang điểm 100); Hồ Công Hòa (2016) xây dựng chỉ số GEI gồm 4 nhóm chỉ tiêu.
- Tiếp cận thực tiễn và quản lý khu công nghiệp: Bùi Đức Hùng (2016) nghiên cứu điển hình tại Doosan, FOCOCEV; CIEM, Tổng cục Thống kê và Đại học Copenhagen (2014) khảo sát 22 tiêu chí đổi mới công nghệ trên 8.010 doanh nghiệp; Phùng Xuân Nhạ và cộng sự (2013) phân tích đổi mới sáng tạo trên 583 doanh nghiệp; Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự (2014a, 2014b, 2014c, 2016) nghiên cứu tại ĐBSCL, TP.HCM và Cần Thơ; Hoàng Cửu Long (2014) khảo sát tác động của CSR và MO trên 256 mẫu; Dwight Perkins và cộng sự (2010), Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2002), Trần Văn Tùng (2005), Trương Thị Minh Sâm (2004), Lê Hồng Yên (1996), Lê Văn Thới (2013), Lê Thế Giới (2008), Nguyễn Thị Hồng (2002) nghiên cứu chính sách quản lý và môi trường khu công nghiệp; Phạm Đức Chính và cộng sự (2017) phân tích tác động của khu công nghiệp đến tăng trưởng xanh tại Long An; Vũ Tuấn Anh (2015) đánh giá xanh hóa sản xuất qua 4 ngành công nghiệp.
Bảng tổng hợp các hướng nghiên cứu liên quan và vị trí của luận án:
| Hướng nghiên cứu |
Tác giả tiêu biểu |
Trọng tâm phân tích |
Khoảng trống luận án giải quyết |
| Tăng trưởng xanh vĩ mô |
OECD (2011d), World Bank (2012), Phạm Hồng Mạnh (2014), CIEM (2012) |
Chuyển đổi mô hình kinh tế, chính sách quốc gia, phát thải khí nhà kính |
Thiếu dữ liệu vi mô chi tiết về hành vi và thực hành tăng trưởng xanh tại cấp độ doanh nghiệp. |
| Hoạt động và tiêu chí doanh nghiệp xanh |
Reid & Miedzinski (2008), VBCSD & VCCI (2010), Hồ Công Hòa (2016) |
Bộ chỉ số đánh giá, kiểm toán môi trường, đổi mới tiếp thị, cải tiến quy trình |
Tiêu chí trong nước chủ yếu thiên về tuân thủ pháp luật, thiếu gắn kết giữa cải tiến sinh thái và sản xuất bền vững. |
| Yếu tố tác động và áp lực hữu quan |
Porter & Linde (1995a), Bossle et al. (2016), Henriques (1999) |
Áp lực quy định, quản trị nội bộ, quan hệ đối tác, rào cản chi phí |
Chưa kiểm định mô hình định lượng tại các khu công nghiệp Việt Nam; thiếu vai trò của Ban Quản lý khu công nghiệp. |
| Phát triển khu công nghiệp địa phương |
Trương Thị Minh Sâm (2004), Phạm Đức Chính et al. (2017) |
Quản lý nhà nước về môi trường, thu hút đầu tư, tác động kinh tế - xã hội |
Chưa đánh giá thực trạng phân tổ hoạt động tăng trưởng xanh và nguyên nhân tại địa bàn tập trung công nghiệp lớn như Đồng Nai. |
Sáu khoảng trống nghiên cứu cụ thể được luận án giải quyết gồm:
- Thứ nhất, bổ sung nghiên cứu vi mô tại cấp độ doanh nghiệp khu công nghiệp, khắc phục xu hướng chủ yếu tập trung vào vĩ mô hoặc hành vi tiêu dùng cá nhân trong nước.
- Thứ hai, thống nhất khung nội dung hoạt động tăng trưởng xanh kết hợp đồng thời hai hướng tiếp cận: cải tiến sinh thái và sản xuất bền vững.
- Thứ ba, xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá hoạt động tăng trưởng xanh gắn với năng lực vận hành thực tế thay vì chỉ dừng lại ở việc tuân thủ pháp lý môi trường.
- Thứ tư, lượng hóa tác động của các bên hữu quan (khách hàng, nhà cung cấp, cộng đồng, đối thủ, cơ quan quản lý) đến việc thực hiện hoạt động xanh tại doanh nghiệp.
- Thứ năm, đưa biến số đặc thù về vai trò quản trị, hỗ trợ của Ban Quản lý khu công nghiệp vào mô hình định lượng giải thích hành vi doanh nghiệp.
- Thứ sáu, cung cấp bằng chứng thực nghiệm và giải pháp cụ thể trên địa bàn 32 khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2010–2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án tích hợp các khái niệm và lý thuyết kinh tế học:
- Khái niệm nền tảng: Kinh tế xanh theo UNEP (2011) và UNDESA (2012); Tăng trưởng xanh theo World Bank (2012) và Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh của Việt Nam (nhiệm vụ giảm phát thải, xanh hóa sản xuất, xanh hóa lối sống); Doanh nghiệp trong khu công nghiệp.
- Khung phân tích hoạt động: Kết hợp giữa Sản xuất bền vững (OECD, 2009 - từ đầu vào, quy trình không ô nhiễm đến đầu ra) và Cải tiến sinh thái (Nasr và Thurston, 2006; Kemp và Foxcon, 2007; Andersen, 2008 - đổi mới công nghệ, sản phẩm, quy trình, tổ chức nhằm giảm tải môi trường và tăng năng suất).
- Lý thuyết giải thích hành vi doanh nghiệp:
- Lý thuyết dựa trên nguồn lực (Resource-Based View - RBV) của Hart (1995) và Buysse và cộng sự (2003): Coi năng lực môi trường, nhân lực xanh và quản trị sinh thái là nguồn lực nội tại tạo lợi thế cạnh tranh bền vững.
- Lý thuyết các bên hữu quan (Stakeholder Theory) của Henriques (1999), Murillo-Luna (2008) và Bossle và cộng sự (2016): Giải thích phản ứng sinh thái của doanh nghiệp trước các áp lực từ bên trong (nhân viên, ban lãnh đạo) và bên ngoài (Chính phủ, khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, cộng đồng địa phương, tổ chức phi chính phủ).
- Giả thuyết Porter (Porter và van der Linde, 1995a): Mối quan hệ tương hỗ giữa tiêu chuẩn môi trường và đổi mới công nghệ.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả áp dụng phương pháp hỗn hợp (mixed methods) với thiết kế khám phá tiếp nối (exploratory sequential design):
- Giai đoạn định tính:
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Lược khảo tài liệu học thuật quốc tế, văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo chính sách.
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Thực hiện phỏng vấn sâu 3 nhóm đối tượng gồm các nhà khoa học, cán bộ quản lý môi trường tại các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai và đại diện lãnh đạo doanh nghiệp. Mục đích là hoàn thiện bảng hỏi, điều chỉnh câu chữ phù hợp thực tế vận hành và xác định sơ bộ các biến quan sát.
- Phương pháp nghiên cứu điển hình (case study): Khảo sát sâu một số doanh nghiệp tiêu biểu trong khu công nghiệp Đồng Nai để đối chiếu với nhận định lý thuyết.
- Phương pháp tổng hợp, so sánh: Phân tích các dữ liệu thứ cấp thu thập từ Ban Quản lý các khu công nghiệp Đồng Nai và Cục Thống kê Đồng Nai giai đoạn 2010–2018.
- Giai đoạn định lượng:
- Phương pháp điều tra xã hội học: Khảo sát chính thức bằng bảng hỏi đối với các doanh nghiệp hoạt động tại 32 khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ tháng 11/2017 đến tháng 5/2018.
- Công cụ và kỹ thuật phân tích dữ liệu:
- Thống kê mô tả: Phân tích cơ cấu mẫu theo khu công nghiệp, loại hình sở hữu, quy mô vốn, quy mô lao động và ngành nghề hoạt động.
- Kiểm định độ tin cậy thang đo: Sử dụng hệ số Cronbach's Alpha để loại các biến quan sát không đạt yêu cầu.
- Phân tích nhân tố khám phá (EFA): Sử dụng phép xoay nhân tố để xác định cấu trúc các nhóm nhân tố tác động độc lập và nhân tố phụ thuộc.
- Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến (Multiple Linear Regression): Ước lượng mức độ ảnh hưởng của các nhóm yếu tố hữu quan và đặc thù doanh nghiệp đến biến phụ thuộc (mức độ triển khai hoạt động tăng trưởng xanh); kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến thông qua hệ số phóng đại phương sai (VIF).
Nguồn dữ liệu của luận án:
- Dữ liệu thứ cấp: Các báo cáo tổng kết giai đoạn 2010–2018 của Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai, niên giám thống kê của Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai, báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, và thông tin công bố trên cổng thông tin của các doanh nghiệp.
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập từ cuộc điều tra khảo sát các doanh nghiệp trong khu công nghiệp Đồng Nai (thời gian khảo sát từ tháng 11/2017 đến tháng 5/2018), ghi nhận nhận thức, mức độ thực hiện 5 nhóm hoạt động tăng trưởng xanh và đánh giá sức ép từ các bên liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về tăng trưởng xanh tiếp cận từ góc độ doanh nghiệp
Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài. Ở phạm vi quốc tế, tác giả phân tích các nghiên cứu vĩ mô của OECD, UNEP, World Bank và các nghiên cứu vi mô về cải tiến sinh thái (Rennings, 2000; Kemp và Foxcon, 2007; Andersen, 2008), sản xuất bền vững (OECD, 2009), phân loại hành vi doanh nghiệp (Chin và cộng sự, 2016; Reid và Miedzinski, 2008), vai trò và rào cản (Porter và Linde, 1995; Beltramello và cộng sự, 2013). Ở phạm vi trong nước, chương điểm lại các nghiên cứu về mô hình tăng trưởng kinh tế (Nguyễn Văn Luân, 2014; CIEM, 2012), các bộ tiêu chí doanh nghiệp bền vững (VBCSD, Sách Xanh Bình Dương, Bình Định, Hồ Công Hòa), các khảo sát đổi mới công nghệ (CIEM và Đại học Copenhagen, 2014; Phùng Xuân Nhạ, 2013) và quản lý môi trường khu công nghiệp (Trương Thị Minh Sâm, 2004; Phạm Đức Chính, 2017). Chương kết luận bằng việc xác lập 6 khoảng trống nghiên cứu chưa được giải quyết tại các khu công nghiệp Đồng Nai.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tăng trưởng xanh tiếp cận từ góc độ doanh nghiệp
Chương 2 làm rõ các khái niệm: kinh tế xanh, tăng trưởng xanh, doanh nghiệp xanh, doanh nghiệp trong khu công nghiệp. Tác giả phân tích nội hàm tăng trưởng xanh của doanh nghiệp qua sự kết hợp giữa sản xuất bền vững (Hình 2.2: Các cấp độ của sản xuất bền vững) và cải tiến sinh thái (Hình 2.3: Đặc trưng của cải tiến sinh thái; Hình 2.4: Hoạt động tăng trưởng xanh kết hợp). Chương phân tích vai trò (tiết kiệm chi phí, tiếp cận vốn, quản trị rủi ro, nâng cao thương hiệu) và các rào cản (thị trường, tài chính, công nghệ, nhân lực). Đồng thời, tác giả tổng hợp 4 nhóm lý thuyết giải thích hành vi doanh nghiệp, phân loại các nhóm bên hữu quan (Bảng 2.2) và xây dựng khung lý thuyết đề xuất về các yếu tố tác động tới hoạt động tăng trưởng xanh của doanh nghiệp (Hình 2.6, Bảng 2.3). Chương cũng phân tích bài học kinh nghiệm quốc tế và trong nước đối với cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày bức tranh tổng quan về sự phát triển số lượng doanh nghiệp trong các khu công nghiệp Đồng Nai (Bảng 3.1). Tác giả chi tiết hóa quy trình nghiên cứu (Hình 3.1) và thiết kế nghiên cứu khám phá tiếp nối. Chương xây dựng hệ thống thang đo nghiên cứu gồm:
- Thang đo nhận thức về vai trò tăng trưởng xanh của doanh nghiệp (Bảng 3.2).
- Thang đo mức độ triển khai hoạt động tăng trưởng xanh của doanh nghiệp trong khu công nghiệp (Bảng 3.3), gồm 5 nhóm: lồng ghép chiến lược, xanh hóa sản xuất, hiệu quả nước và năng lượng, nhân lực và tổ chức, nghiên cứu sản phẩm mới và marketing xanh.
- Thang đo các yếu tố tác động (Bảng 3.4), xây dựng dựa trên mô hình phản ứng sinh thái và áp lực hữu quan (Hình 3.2, 3.3, 3.4, 3.5), bao gồm áp lực hữu quan bên trong, áp lực hữu quan bên ngoài (khách hàng, nhà cung cấp, cộng đồng, đối thủ, cơ quan nhà nước, Ban Quản lý khu công nghiệp) và các biến đặc thù doanh nghiệp (loại hình, quy mô vốn, lao động, hội nhập quốc tế).
Chương 4: Thực trạng triển khai các hoạt động tăng trưởng xanh của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2010-2018
Chương 4 phân tích quá trình hình thành, phát triển 32 khu công nghiệp và đặc điểm doanh nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2010–2018 theo loại hình (Bảng 4.1), quy mô vốn (Bảng 4.2), quy mô lao động (Bảng 4.3) và lĩnh vực hoạt động (Bảng 4.4). Chương rà soát hệ thống chính sách của Chính phủ và các hoạt động hỗ trợ cụ thể của Ban Quản lý các khu công nghiệp Đồng Nai. Tác giả phân tích các trường hợp doanh nghiệp điển hình (Bảng 4.5) và trình bày kết quả khảo sát thực tế:
- Nhận thức của doanh nghiệp về vai trò tăng trưởng xanh (Bảng 4.6).
- Mức độ triển khai thực tế 5 nhóm hoạt động tăng trưởng xanh giai đoạn 2010–2018 (Bảng 4.7).
- Phân loại điểm đánh giá, xếp hạng và phân tổ điểm trung bình triển khai hoạt động tăng trưởng xanh (Bảng 4.8, Bảng 4.9, Bảng 4.10, Hình 4.1, Hình 4.2).
Chương chỉ ra các kết quả đạt được (nhiều doanh nghiệp bước đầu quan tâm đến sử dụng năng lượng, xử lý chất thải theo quy định bắt buộc) và các hạn chế chủ yếu: mức độ triển khai còn rời rạc, thiên về đối phó quy định môi trường, thiếu đầu tư chiều sâu vào công nghệ sạch, R&D sản phẩm xanh và đào tạo nhân lực chuyên trách.
Chương 5: Yếu tố tác động tới việc triển khai hoạt động tăng trưởng xanh tại các doanh nghiệp trong khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2010-2018
Chương 5 trình bày kết quả phân tích dữ liệu định tính và định lượng:
- Báo cáo kết quả thảo luận chuyên gia và thống kê mẫu khảo sát phân theo khu công nghiệp (Bảng 5.1), loại hình doanh nghiệp (Bảng 5.2) và lĩnh vực hoạt động (Bảng 5.3).
- Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha (Bảng 5.4) và phân tích nhân tố khám phá EFA cho các biến độc lập và biến phụ thuộc (Bảng 5.5, Bảng 5.6), xác định các nhân tố giữ lại trong mô hình (Bảng 5.7).
- Mô hình điều chỉnh (Hình 5.1) và kết quả chạy hồi quy tuyến tính đa biến khi đưa các biến đặc thù doanh nghiệp vào mô hình (Bảng 5.8).
- Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến (Bảng 5.9) và bảng tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu (Bảng 5.10).
- Thảo luận kết quả hồi quy: Xác định rõ mức độ và chiều hướng tác động của từng nhóm yếu tố hữu quan và đặc thù doanh nghiệp đến việc triển khai hoạt động xanh.
- Phân tích nguyên nhân của thành công và hạn chế (Hình 5.2: Những khó khăn khi thực hiện tăng trưởng xanh của doanh nghiệp trong KCN Đồng Nai), làm rõ tác động từ nhận thức lãnh đạo, áp lực tài chính, rào cản kỹ thuật và mức độ hỗ trợ từ cơ quan quản lý.
Chương 6: Định hướng và giải pháp thúc đẩy hoạt động tăng trưởng xanh cho các doanh nghiệp tại khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai
Dựa trên kết quả thực trạng và mô hình thực nghiệm, Chương 6 xác định quan điểm, định hướng và mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng xanh tại các khu công nghiệp Đồng Nai. Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp:
- Nhóm giải pháp về thay đổi nhận thức của doanh nghiệp về tăng trưởng xanh.
- Nhóm giải pháp tăng cường hiệu quả, khắc phục hạn chế trong quản lý nhà nước về môi trường.
- Nhóm giải pháp tăng cường nhận thức và tạo sức ép tích cực của các bên hữu quan (khách hàng, cộng đồng, nhà cung ứng).
- Nhóm giải pháp hỗ trợ khắc phục rào cản về tài chính, công nghệ và nguồn nhân lực phục vụ tăng trưởng xanh.
- Nhóm giải pháp liên quan đến việc hình thành và chuyển đổi các khu công nghiệp sinh thái (Hình 6.1: Các cấp độ tác động đến việc hình thành khu công nghiệp sinh thái).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa và tích hợp khung lý thuyết về hoạt động tăng trưởng xanh của doanh nghiệp dựa trên sự kết hợp giữa hai trường phái tiếp cận: sản xuất bền vững và cải tiến sinh thái.
- Xây dựng mô hình định lượng xác định các yếu tố tác động đến mức độ triển khai hoạt động tăng trưởng xanh của doanh nghiệp trong khu công nghiệp, chứng minh luận cứ khoa học về sự tác động đồng thời của đặc thù doanh nghiệp (vốn, mức độ hội nhập, lĩnh vực) và sức ép từ hệ thống các bên hữu quan (bên trong và bên ngoài).
- Đưa vai trò quản lý và hỗ trợ của Ban Quản lý khu công nghiệp vào mô hình phân tích hành vi sinh thái của doanh nghiệp.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Đề xuất hệ thống tiêu chí định tính 3 cấp độ (đã triển khai, đang xem xét, chưa triển khai) để đánh giá mức độ thực hiện 5 nhóm hoạt động tăng trưởng xanh của doanh nghiệp trong khu công nghiệp.
- Cung cấp bức tranh thực nghiệm chi tiết về hiện trạng triển khai hoạt động xanh của doanh nghiệp tại 32 khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2010–2018.
- Xây dựng hệ thống giải pháp khả thi gồm 5 nhóm chính sách: thay đổi nhận thức doanh nghiệp; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước; phát huy sức ép từ các bên hữu quan; hỗ trợ vốn, công nghệ và đào tạo nhân lực; xây dựng lộ trình chuyển đổi khu công nghiệp sinh thái.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Về dữ liệu: Chưa tiếp cận được các chỉ tiêu định lượng tuyệt đối phản ánh kết quả tăng trưởng xanh (như số lượng bằng sáng chế môi trường, tỷ lệ nguyên vật liệu xanh thay thế, tỷ lệ lao động được cấp chứng chỉ đào tạo xanh) do hạn chế trong chế độ công bố thông tin của doanh nghiệp; nghiên cứu phải sử dụng dữ liệu định tính phản ánh mức độ thực hiện.
- Về mô hình: Yếu tố đặc điểm công nghệ của doanh nghiệp chưa được đưa vào mô hình phân tích định lượng do khó khăn trong việc đo lường chuẩn hóa.
- Về phạm vi: Nghiên cứu giới hạn không gian tại 32 khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và phạm vi thời gian đến năm 2018, chưa so sánh đối chiếu đa vùng với các trung tâm công nghiệp khác.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng lượng hóa các chỉ tiêu kết quả hoạt động tăng trưởng xanh khi hệ thống dữ liệu doanh nghiệp được chuẩn hóa.
- Nghiên cứu đo lường và đưa biến số năng lực công nghệ vào mô hình kiểm định.
- Mở rộng phạm vi khảo sát liên tỉnh hoặc so sánh giữa các vùng kinh tế trọng điểm để kiểm tra tính tổng quát của mô hình.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Tham khảo khung lý thuyết tích hợp giữa sản xuất bền vững và cải tiến sinh thái; quy trình thiết kế nghiên cứu khám phá tiếp nối; hệ thống thang đo đánh giá áp lực hữu quan và hoạt động tăng trưởng xanh vi mô tại doanh nghiệp.
- Cơ quan quản lý nhà nước và Ban Quản lý các khu công nghiệp: Sử dụng hệ thống tiêu chí để theo dõi, phân loại mức độ thân thiện môi trường của doanh nghiệp; tham khảo các đề xuất chính sách chuyển đổi mô hình khu công nghiệp truyền thống sang khu công nghiệp sinh thái.
- Nhà quản trị doanh nghiệp trong khu công nghiệp: Tham khảo 5 nhóm hoạt động tăng trưởng xanh để tự rà soát chuỗi vận hành, nhận diện các rào cản nội bộ về vốn, công nghệ, nhân lực và xây dựng chiến lược đáp ứng áp lực xanh từ thị trường quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
-
Hoạt động tăng trưởng xanh của doanh nghiệp trong luận án được phân loại theo những nhóm nội dung nào?
Hoạt động tăng trưởng xanh được tổng hợp thành 5 nhóm: (1) Lồng ghép tăng trưởng xanh trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp; (2) Xanh hóa trong sản xuất; (3) Sử dụng hiệu quả nguồn nước và năng lượng; (4) Đầu tư vào nguồn nhân lực và cơ cấu tổ chức; (5) Đầu tư nghiên cứu sản xuất sản phẩm/dịch vụ mới thân thiện với môi trường và marketing xanh.
-
Phạm vi thời gian và địa bàn nghiên cứu thực nghiệm được xác định như thế nào?
Dữ liệu thứ cấp phân tích thực trạng phát triển doanh nghiệp và khu công nghiệp trong giai đoạn 2010–2018. Dữ liệu khảo sát thực tế được thu thập từ tháng 11/2017 đến tháng 5/2018 tại các doanh nghiệp thuộc 32 khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
-
Luận án sử dụng những công cụ định lượng nào để kiểm định mô hình các yếu tố tác động?
Luận án sử dụng kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) sau khi xoay nhân tố cho biến độc lập và biến phụ thuộc, và phân tích mô hình hồi quy tuyến tính đa biến có kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến bằng hệ số VIF.
-
Tại sao luận án tiếp cận đo lường hoạt động tăng trưởng xanh qua thang đo định tính thay vì số liệu định lượng kỹ thuật?
Theo tác giả, việc tiếp cận các số liệu định lượng tuyệt đối (như số lượng phát minh sáng chế, tỷ lệ nguyên liệu thay thế, số lao động đào tạo xanh) trong điều kiện thực tế tại các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, do đó luận án sử dụng thang đo định tính phản ánh 3 cấp độ: đã triển khai, đang xem xét triển khai và chưa triển khai.
-
Ban Quản lý khu công nghiệp có vai trò như thế nào trong mô hình nghiên cứu của luận án?
Ban Quản lý khu công nghiệp được xem xét như một chủ thể hữu quan bên ngoài đặc thù đối với doanh nghiệp khu công nghiệp; tác động của đơn vị này được đưa vào mô hình nghiên cứu thông qua các hoạt động chính sách, kiểm tra giám sát và các chương trình hỗ trợ thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện tăng trưởng xanh.
Kết luận
Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về tăng trưởng xanh tiếp cận từ góc độ doanh nghiệp thông qua việc kết hợp giữa sản xuất bền vững và cải tiến sinh thái. Trên cơ sở khảo sát thực nghiệm tại 32 khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2010–2018, công trình đã phân tích thực trạng triển khai 5 nhóm hoạt động tăng trưởng xanh và kiểm định mô hình các yếu tố tác động từ đặc thù doanh nghiệp và áp lực của các bên hữu quan. Các kết quả phân tích là căn cứ để luận án đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp định hướng và can thiệp chính sách nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh của cộng đồng doanh nghiệp trong các khu công nghiệp.