CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TĂNG TRƯỞNG XANH TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ DOANH NGHIỆP Chủ đề tăng trưởng xanh đã được nghiên cứu phổ biến thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam số lượng nghiên cứu còn khá hạn chế. Tiếp cận ở góc độ vĩ mô, thông thường các tác giả thường đề cập đến vai trò cũng như thách thức của tăng trưởng xanh đối với các nền kinh tế. Tiếp cận ở góc độ doanh nghiệp, các nghiên cứu thường tập trung nghiên cứu về vai trò, các hoạt động và các yếu tố tác động đến tăng trưởng xanh của doanh nghiệp. Tổng hợp, một số những hướng nghiên cứu chủ yếu về tăng trưởng xanh tác giả đã tiếp cận được như sau: 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu quốc tế 1. Tiếp cận từ góc độ vĩ mô Hầu hết, các nhà nghiên cứu đều thống nhất tăng trưởng xanh có nhiều cơ hội để phát triển ở các quốc gia, điều này xuất phát từ việc mô hình tăng trưởng hiện tại của nhiều quốc gia chủ yếu xuất phát từ việc tận dụng các nguồn tài nguyên, ít coi trọng yếu tố môi trường. Chính vì vậy, việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng xanh là điều vô cùng quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng phức tạp. Theo đó, tăng trưởng xanh là bước chuyển tiếp quan trọng nhằm hướng đến sự phát triển kinh tế bền vững trong tương lai (OECD,2011c; ESCAP,2013).
Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP,2012) đưa ra một hướng tiếp cận mới cho phát triển kinh tế được nhiều quốc gia đồng tình hưởng ứng, đó là phát triển “nền kinh tế xanh” (Green Economy). Theo World bank (2012), tăng trưởng xanh là mô hình tăng trưởng hiệu quả, sạch và có tính đàn hồi – hiệu quả trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, sạch trong việc giảm thiểu tác động gây ô nhiễm môi trường và có tính đàn hồi, chống chịu được trước các thiên tai, thảm họa thiên nhiên. Theo OECD (2011d), tăng trưởng xanh là thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế với sự đảm bảo các nguồn lực tự nhiên sẽ tiếp tục đủ khả năng đáp ứng nhu cầu tài nguyên và môi trường sống cho con người trong tương lai. Để thực hiện được điều này, tăng trưởng xanh có nội hàm thúc đẩy sự đổi mới, đầu tư và cạnh tranh nhằm mang lại những cơ hội kinh tế mới và sự tăng trưởng hướng tới “xanh hóa” và ổn định nền kinh tế.
13 Có nhiều cách tiếp cận khác nhau, tuy nhiên định nghĩa thường được các nhà khoa học thống nhất: tăng trưởng xanh là sự kết hợp giữa việc sử dụng các yếu tố đầu vào một cách hiệu quả kèm theo hạn chế tác động tới môi trường. Tăng trưởng xanh là cả một quá trình, với sự tham gia đóng góp của tất cả các đối tượng trong nền kinh tế, từ người tiêu dùng, nhà sản xuất, Chính phủ và các bên hữu quan (World bank, 2012). Điều kiện thuận lợi để thúc đẩy tăng trưởng xanh ở các quốc gia có thể xuất phát từ tầm quan trọng, ý nghĩa của quá trình này. Tuy nhiên, việc thực hiện lại không phải đơn giản, bởi có nhiều rào cản khi thực hiện: (1) thể chế; (2) công nghệ; (3) cải tiến; (4) nguồn nhân lực; (5) tài chính… Theo World Bank (2012), tài chính không phải là yếu tố chính, mà vấn đề chính lại xuất phát từ nhận thức của các đối tượng trong xã hội.
Những nghiên cứu này cũng đã chỉ ra, để thúc đẩy tăng trưởng xanh bên cạnh các chính sách hỗ trợ của Chính phủ (liên quan đến các công cụ thuế, chính sách tài chính, công nghệ…) thì cần có sự gắn kết với các bên hữu quan, từ người tiêu dùng, doanh nghiệp, tổ chức tài chính cho đến các tổ chức phi chính phủ. Tiếp cận góc độ vi mô, từ phía các doanh nghiệp 1. Các nghiên cứu tiếp cận về các hoạt động và tiêu chí hướng đến tăng trưởng xanh của doanh nghiệp Có nhiều nghiên cứu tiếp cận về hoạt động TTX, tuy nhiên tác giả tập trung theo 2 cách tiếp cận phổ biến hiện nay: (1) Sản xuất bền vững: việc sử dụng các yếu tố đầu vào đến hoàn thiện sản phẩm đầu ra với việc sử dụng một quy trình và hệ thống không gây ô nhiễm của các doanh nghiệp (OECD, 2009); (2) Cải tiến sinh thái: các hoạt động của doanh nghiệp mà ứng dụng hoặc thực thi những cái mới một cách chủ đích hoặc không chủ đích nhằm vừa nâng cao hiệu quả, vừa giảm thiểu sự tác động tiêu cực tới môi trường (Nasr& Thurston,2006; OECD,2009). Mặc dù 2 cách tiếp cận khác nhau, nhưng có sự tương đồng: áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới nhằm mục tiêu cải tiến, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp đồng thời tránh/ giảm thiểu những tác động tiêu cực của hoạt động sản xuất tới môi trường sinh thái.
Để đạt được sự chuyển đổi thành công trong thay đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh hơn, các doanh nghiệp cần cụ thể bằng các hoạt động. Theo đó, hoạt động xanh (tăng trưởng xanh) là sự kết hợp giữa tăng hiệu quả cùng với xem xét 14 các yếu tố về môi trường, cụ thể là giảm thiểu tác động tới môi trường: đó là việc ứng dụng cải tiến sinh thái cùng với phân tích quy trình hoạt động sản xuất, kinh doanh vào các hoạt động thực tiễn tại doanh nghiệp (Wugan Cai & Guangpei Li, 2018; Chin et al; 2016). Cách tiếp cận này, hoạt động TTX mặc dù ở cấp độ doanh nghiệp nhưng những ảnh hưởng của nó có thể tác động ở phạm vi rộng hơn: tạo ra sự lan toả, định hướng tiêu dùng mới, xanh hơn, gần gũi với môi trường, qua đó có thể tạo ra tác động ở tầm trung gian hoặc toàn bộ nền kinh tế. Việc phân loại, cũng như đánh giá các hoạt động TTX được nhiều nhà khoa học tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau: Theo Rennings (2000), Kemp&Foxcon(2007), tiếp cận từ góc độ cải tiến sinh thái, chia hoạt động này thành 4 loại trên cơ sở mức độ tác động của các hoạt động triển khai trong doanh nghiệp: (1) Giải pháp công nghệ: triển khai các thay đổi, cải tiến về công nghệ tác động trực tiếp đến hiệu quả của doanh nghiệp; (2) Cải tiến trong tổ chức: thay đổi trong công cụ quản lý doanh nghiệp hay cải tiến trong dịch vụ.
Nội dung này liên quan đến những thay đổi trong cơ sở hạ tầng và áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ. (3) Xã hội: chú trọng đến thay đổi giá trị của con người và hành vi tiêu dùng hoặc phong cách sống hướng đến giá trị bền vững hơn. (4) Thế chế: nhấn mạnh về đặc thù cải tiến của thể chế nhằm phản hồi lại những vấn đề của phát triển bền vững bởi cộng đồng địa phương và các tổ chức, chương trình hoặc thương mại toàn cầu. Chúng được coi là nền tảng để hướng đến sự phát triển bền vững.
Nghiên cứu của Andersen (2008) đã phân loại cải tiến sinh thái thành 4 nội dung: (1) Thêm vào (add-on): hướng đến quản lý nguồn lực và dịch vụ liên quan đến vấn đề ô nhiễm nhằm cải tiến hiện trạng và thúc đẩy những vấn đề môi trường. (2) Tích hợp: là việc áp dụng công nghệ về quy trình, sản xuất sạch hơn so với đối thủ, nhằm đóng góp vào việc giải quyết hoặc giảm thiểu những vấn đề môi trường trong công ty hoặc tổ chức cũng như xã hội. (3) Thay thế:là việc sử dụng những xu hướng công nghệ mới thay thế cho những công nghệ cũ, tạo ra những sản phẩm cấp tiến, ít ảnh hưởng đến môi trường hơn. 15 (4) Tổ chức hướng đến một hình thức sinh thái hiệu quả của xã hội: bao gồm những cách thức mới để tổ chức sản xuất và tiêu dùng hệ thống rộng hơn, đòi hỏi có sự tham gia, tương tác giữa các tổ chức.
Ở cấp độ này, các sáng kiến có ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế, góp phần đổi mới những công nghệ khác, tạo ra xu hướng mới trong tiêu dùng, sản xuất. Nghiên cứu của Alasdair Reid & Michal Miedzinski (2008), chia phạm vi tác động của TTX thành 3 cấp độ: vi mô (micro); trung gian (meso) và vĩ mô (economy- wide). Từ đó, nghiên cứu chia hoạt động tăng trưởng xanh thành 4 loại: (1) Vòng đời sản phẩm: cải tiến nằm ở quy trình, chuỗi vòng đời sản phẩm từ đầu vào của nguyên liệu, hình thành nên sản phẩm hoàn thiện, tiêu dùng và tái chế. Nội dung này hướng đến việc sử dụng hạn chế nguồn lực và nâng cao hiệu quả của việc sử dụng nguồn năng lượng.
(2) Cải tiến về sản phẩm và quy trình: cải thiện, giới thiệu những sản phẩm hoặc dịch vụ mới hoặc nâng cao hiệu quả sử dụng của nó so với những sản phẩm trước đây. (3) Cải tiến về tổ chức: thực hiện phương pháp tổ chức mới trong thực tiễn kinh doanh của công ty, nơi làm việc hoặc quan hệ đối ngoại. Chúng bao gồm các hệ thống quản lý môi trường (EMS) và một số công cụ nhằm quản lý môi trường: hệ thống quản lý môi trường (environmental managerment systerm: EMS) công cụ kiểm soát môi trường; kiểm toán môi trường hoặc quản lý chuỗi. Các giải pháp EMS nổi tiếng nhất bao gồm các tiêu chuẩn gia đình ISO 14000 hoặc công cụ EU tự nguyện về Chương trình kiểm toán và quản lý sinh thái (EMAS); (4) Đổi mới tiếp thị: thực hiện phương pháp tiếp thị mới liên quan đến những thay đổi đáng kể trong thiết kế hoặc bao bì, vị trí, quảng bá sản phẩm hoặc giá cả.
Đổi mới tiếp thị có thể có tầm quan trọng cao từ quan điểm của đổi mới sinh thái. Các hoạt động có thể tính đến các khía cạnh môi trường trong quảng bá sản phẩm (ví dụ: dán nhãn sinh thái tự nguyện), nhượng quyền và cấp phép cũng như định giá. Việc thay đổi phương pháp tiếp thị mới sẽ có tác động ở phạm vi lớn hơn trong việc thay đổi định hướng, thói quen của người tiêu dùng, tạo nên tác động ở tầm thể chế. Chin &ctg (2016) định nghĩa hoạt động xanh (tăng trưởng xanh) của doanh nghiệp là hành vi môi trường, không chỉ những hoạt động trực tiếp mà bao gồm cả những hoạt rộng mở rộng để hỗ trợ doanh nghiệp trong việc ra các quyết định có lợi cho môi trường.
Có 2 cách phân loại hoạt động tăng trưởng xanh của doanh nghiệp đó là sản phẩm và hỗ 16 trợ về cơ sở hạ tầng. Căn cứ vào đó, tác giả đã chia các hoạt động tăng trưởng xanh của doanh nghiệp thành 4 loại: (1) các hoạt động theo ISO 1400; (2) quy trình sản xuất xanh; (3) kiểm soát ô nhiễm và (4) chứng nhận xanh.