Đặt vấn đề Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu Chƣơng 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Ứng dụng mô hình Camels trong quản trị rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Nam Sông Hƣơng Thừa Thiên Huế Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Nam Sông Hƣơng Thừa Thiên Huế Phần III: Kết luận 4 PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tại Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm về Ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và hoạt động theo định chế trung gian mang tính chất tổng hợp. Ngân hàng thƣơng mại hình thành trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá. Khi sản xuất phát triển thì nhu cầu trao đổi mở rộng sản xuất giữa các vùng lãnh thổ, giữa các quốc gia tăng lên, để khắc phục sự khác biệt về tiền tệ giữa các khu vực thì xuất hiện các thƣơng gia làm nghề đổi tiền. Khi trao đổi hàng hoá phát triển quay trở lại kích thích sản xuất hàng hóa.
Cùng với sự phát triển đó, các nghiệp vụ đƣợc phát triển dần nhƣ giữ tiền hộ, chi trả hộ. trên cơ sở đó thực hiện hoạt động tín dụng. Theo Luật tổ chức tín dụng do Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2010 (điều 4, khoản 3) chỉ rõ: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động của ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Trong đó, “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”.2 Khái niệm rủi ro 1.1 Khái niệm Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành đƣợc một nghiệp vụ tài chính nhất định. 5 Vì vậy, việc dự đoán, phòng ngừa rủi ro và hạn chế tổn thất, kiểm soát sao cho rủi ro nằm trong mức chấp nhận đƣợc, không gây tổn thất quá lớn, làm giảm lợi nhuận kỳ vọng là một trong những nội dung mà ngân hàng cần đặc biệt quan tâm.2 Các loại rủi ro a) Rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất khi khách hàng không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ theo hợp đồng tín dụng đã ký giữa ngân hàng và khách hàng. Rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro lâu đời nhất và lớn nhất trong thị trƣờng tài chính, thƣờng xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng. Đây là loại rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa khó khăn nhất đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ để ngăn ngừa và giảm thiểu tối đa thiệt hại xảy ra.
b) Rủi ro lãi suất Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra tổn thất về thu nhập hoặc vốn của tổ chức tín dụng do những biến động về lãi suất. Đây là rủi ro mang tính đặc trƣng của bất kỳ một ngân hàng thƣơng mại nào. Khi lãi suất thị trƣờng thay đổi, những nguồn thu chính từ danh mục cho vay và đầu tƣ chứng khoán cũng nhƣ chi phí đối với tiền gửi và các nguồn vay đều bị tác động, bên cạnh đó còn làm thay đổi giá trị vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Vì vậy, lãi suất thay đổi tác động đến toàn bộ bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập của ngân hàng.
c) Rủi ro tỷ giá Rủi ro tỷ giá là khả năng xảy ra tổn thất về thu nhập hoặc vốn phát sinh do có sự biến động của tỷ giá hối đoái. 6 Rủi ro này chủ yếu xảy ra trong thời gian tổ chức tín dụng có trạng thái mở, ở cả nội bảng và ngoại bảng và/hoặc trên thị trƣờng giao ngay hoặc thị trƣờng kỳ hạn, thị trƣờng tƣơng lai. d) Rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi nhu cầu thanh khoản thực tế vƣợt quá (không phù hợp) khả năng thanh toán dự kiến. Rủi ro thanh khoản ở mức thấp khi ngân hàng phải gia tăng các chi phí để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, làm giảm thu nhập ròng của ngân hàng; ở mức cao hơn, ngân hàng mất khả năng thanh toán, dẫn đến phá sản.
e) Rủi ro hoạt động Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng: “Rủi ro hoạt động là khả năng gây ra tổn thất do các nguyên nhân như con người, sự không đầy đủ hoặc vận hành không tốt các quy trình, hệ thống, các sự kiện khách quan bên ngoài. Rủi ro hoạt động bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng loại trừ về rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín”. Rủi ro hoạt động có thể phát sinh do hệ thống thông tin không hiệu quả, do sai sót kỹ thuật, những sai phạm trong kiểm soát nội bộ, những tai biến không định trƣớc đƣợc hay những vấn đề về hoạt động khác có thể dẫn đến tổn thất hay những ảnh hƣởng xấu về danh tiếng.3 Khái niệm quản trị rủi ro 1.1 Khái niệm Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có tính hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những ảnh hƣởng bất lợi của rủi ro, đảm bảo rủi ro nằm trong phạm vi ngân hàng có thể chấp nhận đƣợc.2 Mục tiêu của quản trị rủi ro Mục tiêu của quản trị rủi ro là tối ƣu hóa đƣợc cơ cấu rủi ro – lợi nhuận. Với những phƣơng pháp quản lý rủi ro truyền thống, mục tiêu của quản trị rủi ro chủ yếu là đo lƣờng đƣợc mức rủi ro có thể do các nhân tố khách quan và chủ quan gây ra, trên cơ sở đó tiến hành các hoạt động kinh doanh để đảm bảo rủi ro không vƣợt quá mức cho phép.
Nhƣng với sự phát triển của thị trƣờng tiền tệ ngày càng phức tạp đòi hỏi phải xây dựng phƣơng pháp quản lý hiện đại không chỉ đo lƣờng đƣợc mức rủi ro có thể mà còn phải tạo đƣợc những chiến lƣợc thay thế điều chỉnh hƣớng hoạt động theo rủi ro.3 Nguyên tắc cơ bản trong quản trị rủi ro a) Nguyên tắc chấp nhận rủi ro Các nhà quản trị ngân hàng cần phải chấp nhận rủi ro ở mức cho phép nếu nhƣ mong muốn có đƣợc thu nhập phù hợp từ những hoạt động nghiệp vụ của mình. Sau khi đánh giá mức độ rủi ro, các ngân hàng thƣơng mại cần xây dựng chiến lƣợc phòng chống rủi ro, tuy nhiên, loại bỏ hoàn toàn rủi ro là điều không thể. Vì vậy, việc xác định đƣợc mức độ rủi ro cho phép là rất quan trọng, điều này sẽ giúp cho ngân hàng đƣa ra những quyết định chấp nhận hay từ chối những hợp đồng có thể mang lại rủi ro vƣợt mức đã xác định trƣớc, bên cạnh đó hạn chế những tiêu cực của chúng trong quá trình quản lý rủi ro. b) Nguyên tắc điều hành rủi ro ngoài mức có thể chấp nhận đƣợc Nguyên tắc này đòi hỏi phần lớn rủi ro nằm ngoài mức độ rủi ro có thể chấp nhận đƣợc phải có khả năng đƣợc điều tiết trong quá trình quản lý mà không phụ thuộc vào hoàn cảnh khách quan hay chủ quan.
Chỉ đối với những loại rủi ro nhƣ vậy thì các nhà quản trị ngân hàng mới có thể sử dụng tất cả những “vũ khí”, “nghệ thuật” của mình để điều tiết chúng và đƣa về mức độ rủi ro cho phép, giúp lợi nhuận không bị giảm thấp hơn mức dự kiến. 8 c) Nguyên tắc phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và tổn thất dự kiến Nguyên tắc này là nền tảng của lý thuyết quản trị rủi ro. Các ngân hàng trong quá trình hoạt động của mình chỉ đƣợc phép chấp nhận các loại, mức độ rủi ro mà thiệt hại khi chúng xảy ra không vƣợt quá mức tổn thất dự kiến. Nếu rủi ro có mức độ cao hơn khiến cho tổn thất nhiều hơn dự kiến, thu nhập giảm xuống dƣới mức mong đợi thì cần phải đƣợc loại bỏ.
d) Nguyên tắc quản lý độc lập các rủi ro riêng biệt Sự thiệt hại do một loại nào đó trong gói rủi ro cho phép gây nên không nhất thiết sẽ làm tăng xác suất xảy ra với các loại rủi ro khác. Điều này có nghĩa, sự thiệt hại đối với ngân hàng do các loại rủi ro khác nhau gây nên là khá độc lập, do đó quá trình quản lý chúng cần phải đƣợc điều tiết riêng biệt, không thể gộp các loại rủi ro khác nhau vào một nhóm để đƣa ra cùng một phƣơng án điều hành. e) Nguyên tắc phù hợp về thời gian Thời gian tồn tại của một hợp đồng kinh doanh càng lâu thì khả năng xảy ra rủi ro càng lớn, khả năng điều tiết những tác động tiêu cực của nó và tính kinh tế của quản lý rủi ro càng lớn. Khi bắt buộc phải tồn tại các nghiệp vụ này thì ngân hàng phải đảm bảo có mức độ thu nhập phụ trội cần thiết không chỉ vì lợi nhuận mà còn vì mục đích bù đắp những chi phí để điều tiết tác động của rủi ro trong trƣờng hợp chúng xảy ra.
f) Nguyên tắc phù hợp với chiến lƣợc chung của ngân hàng Hệ thống quản lý rủi ro cần phải dựa trên nền tảng những mục tiêu và nội dung trong chiến lƣợc phát triển của toàn ngân hàng cũng nhƣ các chính sách điều hành từng hoạt động riêng lẻ của ngân hàng.2 Một số mô hình ứng dụng trong quản trị rủi ro 1.1 Mô hình Camels Hệ thống phân tích Camels đƣợc áp dụng nhằm đánh giá độ an toàn, khả năng sinh lời và thanh khoản của ngân hàng. An toàn đƣợc hiểu là khả năng của ngân hàng bù đắp đƣợc mọi chi phí và thực hiện đƣợc các nghĩa vụ của mình và đƣợc đánh giá thông qua đánh giá mức độ đủ vốn, chất lƣợng tín dụng và chất lƣợng quản lý.