CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN KHU PHỐ PHÁP Ở HÀ NỘI 1. Khái quát kiến trúc Pháp tại Việt Nam Trong thời kỳ Pháp thuộc, người Pháp đã mang vào nước ta nhiều loại phong cách kiến trúc. Các công trình cổ điển, hiện đại và dân gian Phương Tây dã tạo cho một số đô thị Việt Nam có bộ mặt đa dạng. Người Pháp cũng đã mang khoa học đô thị vào Việt Nam.
Kiến trúc do người Pháp để lại là một di sản quý trong quỹ kiến trúc của chúng ta. Di sản kiến trúc – quy hoạch đô thị là một bộ phần không thể tách rời, một tài nguyên quý báu về những giá trị vật thể và phi vật thể của những thành phố có lịch sử phát triển lâu đời. Khi người Pháp có mặt ở Việt Nam, cùng với các hoạt động kiến thiết thành phố ở quy mô lớn, cấu trúc đô thị Hà Nội đã có những thay đổi mang tính đột biến. Du nhập phương thức quy hoạch đô thị kiểu Phương Tây, kết hợp chính sách đô hộ khai thác thuộc địa của tư bản thực dân, các chức năng mới dần dần hình thành, từ chính trị-hành chính đến kinh tế ( thương mại, dịch vụ, công nghiệp ), từ văn hóa đến tôn giáo, tất cả đều được xác định rõ về không gian và có tính đến những tác động qua lại giữa chúng.
Các trung tâm này đã trở thành những yếu tố tạo thị chi phối tới sự phát triển của một thành phố thuộc địa. Hà Nội có thể coi là đô thị duy nhất ở châu Á có được một tổng thể kiến trúc- quy hoạch kiểu Pháp thời kỳ thuộc địa tương đối hoàn chỉnh, đây cũng là một trong những nét độc đáo của thủ đô, góp phần tạo ra bản sắc riêng cho thành phố đã có lịch sử phát triển hơn 1000 năm. Những nét đặc trưng của khu phố Pháp tại Hà Nội 1. Những đặc điểm cơ bản của quy hoạch đô thị Hà Nội thời kỳ Pháp thuộc a.
Thời kỳ khai thác thuộc địa lần 1 (1888-1920) Giai đoạn từ 1888-1900 Hoạt động xây dựng của người Pháp còn phân bố lẻ tẻ: phá bỏ dần những ranh giới hiện hữu trong thành phố, quy hoạch dự kiến các tuyến đường ở phía Nam hồ Hoàn Kiếm, hoàn thiện trung tâm phía Đông hồ Hoàn Kiếm và xây dựng rải rác các công trình công cộng. Kể từ năm 1890, ranh giới khu nhượng địa đã mở rộng, với chu vi 15km ôm trọn gần hết thành phố., không gian Hà Nội mở rộng về phái Đông, tiến sát bờ sông Hồng. Hệ thống làng xóm dần dần bị đầy lùi xa hơn về phía Tây, Nam và Bắc. Dựa trên hệ thống đường dự kiến này, một đại lộ quan trọng đã được xây dựng – đại lộ Gambetta ( phố Trần Hưng Đạo ngày nay ), đánh dấu quá trình xây dựng khu nhà ở của người Pháp ở phía Nam thành phố.
Từ năm 1886 – 1893, người Pháp tập trung hoàn thiện xây dựng khu trung tâm hành chính-chính trị của thành phố Hà Nội ở phần đất phía Đông hồ Hoàn Kiếm. Khu trung tâm hành chính thành phố Hà Nội được giới hạn bởi các phố Francis Garnier ( Đinh Tiên Hoàng ), Paul Bert ( Tràng Tiền ) và Henri Riviere ( Ngô Quyền ). Đây là khu vực xây dựng tập trung bao gồm các cơ quan hành chính, chính trị đầu não của bộ máy chính quyền thực dân ở Hà Nội. ( Hình 2 ) Sự hiện diện đầu tiên của kiến trúc Pháp ở Hà Nội là từ năm 1803, khi vua Nguyễn Gia Long cho xây lại thành Hà Nội theo kiểu Vauban dưới sự chỉ đạo của 4 kỹ sư công binh Pháp.
Tuy nhiên phải đến khi thành lập khu Nhượng địa năm 1875 ở ven sông Hồng (kéo dài từ phố Phạm Ngũ Lão tới Quân y Viện 108 và bệnh viện Hữu Nghị ngày nay) thì những công trình phong cách kiến trúc Pháp mới thực sự có dấu ấn tại Hà Nội. Trải qua gần một thế kỷ (cuối thế kỷ 19 tới nửa đầu thế kỷ 20), kiến trúc thời kỳ Pháp thuộc với sự phong phú về phong cách đã để lại cho Hà Nội một di sản kiến trúc quý giá. 14 Giai đoạn 1900-1920 Những lý luận của quy hoạch thành phố phương Tây hiện đại đã được người Pháp áp dụng trong giai đoạn này. Ba khu vực chính trong quy hoạch thành phố giai đoạn Tiền thực dân vẫn được xác định trên bản đồ năm 1902.
Tuy nhiên mức độ tác động cũng như những biến đổi ở mỗi khu vực là không giống nhau. (Hình 3) Sau giai đoạn phá bỏ những công trình cổ của người Việt để thay thế bằng các công trình công cộng của Pháp, là thời ký phá bỏ những công trình của Pháp trước đó lấy đất cho quy hoạch đô thị. Nơi đây đã có chức năng mới là trung tâm hành chính – chính trị của Đông Dương và một phần đất dành xây dựng khu nhà ở của người Pháp, quy hoạch theo lối phương Tây hiện đại. Những khu phố kiểu ô cờ được quy hoạch với đường phố có vỉa hè trồng cây, đươc trang bị hạ tầng kỹ thuật và dọc theo các tuyến phố là những ngôi nhà có phong cách kiến trúc Pháp được du nhập từ chính quốc.
Quy luật bố cục đối xứng được tuân thủ trong quá trình xây dựng các công trình hành chính quan trọng ở những vị trí có khả năng tạo điểm nhấn đô thị, các điểm mốc về mặt địa lý của thành phố. Khu nhượng địa cũ, sau khi những dãy tường bao đã hoàn toàn biến mất và mục đích sử dụng cho quân sự cũng không còn quan trọng nữa, địa điểm này vẫn là một nơi đặc biệt so với không gian xung quanh, bởi chúng tiếp tục mang tính biểu tượng cao và hoàn toàn không bị sát nhập vào thành phố. Khu 36 phố phường mặc dù vẫn hiển diện như một mảng đô thị hữu cơ trong thành phố, nhưng ý đồ xây dựng thành phố kiểu Pháp dường như đã làm giảm vài trò của khu vực một cách có chủ định và cũng ít được đề cạp đến với tư cách của một cấu trúc đô thị đầy đủ. Giai đoạn này, người Pháp đã tiến hành chỉnh trang khu 36 phố phường và những can thiệp chỉnh trang giao thông của người Pháp đã làm thay đổi bộ mặt không gian đường phố của Hà Nội xưa.
Phố rộng liên hoàn tạo thành một mạng lưới liên tục, thuận tiện cho các hoạt động giao thông. Phường thủ công buôn bán xưa mất đi tính khép kín vốn có của nó trong cấu trúc không gian xã hội – kinh tế, 15 bắt đầu hòa nhập vào cấu trúc chung của khu phố và thành phố, tiếp nhận những ảnh hưởng từ bên ngoài về không gian kiến trúc và kinh tế xã hội. Tuy nhiên ở cấp độ công trình, sự can thiệp về xây dựng của người Pháp vẫn ở mức độ hạn chế. Hà Nội 36 phố phường nhìn toàn cảnh vẫn mang nét truyền thống quen thuộc với những lớp mái nhỏ nhấp nhô, nối nhau một cách tự nhiên, vẫn là nơi tập trung dân cư đông đúc nhất, các hoạt động sản xuất thủ công và thương nghiệp mạnh nhất ở Hà Nội.
Mạng lưới giao thông trong thành phố được quy hoạch khá hoàn chỉnh theo phương pháp mới đã định hướng phát triển mở rộng của Hà Nội theo từng giai đoạn và tạo nên một dạng kiến trúc đô thị mới. Đó là hệ thống đường phố được quy hoạch theo dạng ô cờ, mặt đường rộng trải nhựa, hai bên là hè rộng có trồng cây bóng mát dành cho người đi bộ. Các hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị như cấp thoạt nước, điện, thông tin,… cũng được thiết kế và xây dựng. Đáng chú ý, trên bản đồ năm 1902, có sự xuất hiện hệ thống đường sắt kết nối thành phố với các vùng lân cận.
Tuyến đường sắt Bắc-Nam đi qua ga Hàng Cỏ đã tạo điều kiện cho thành phố có xu hướng phát triển về phía Nam. Vào năm 1904, theo báo cáo của đốc lý Hà Nội Doumerque thì tổng diện tích thành phố là 950 hécta, trong đó khu vực nhà ở chiếm 528 hécta, khu quân sự 76 hécta, khu hành chính gần 37 hécta, đường phố 114 hécta. Như vậy trong khoảng thời gian từ 1888 đến 1918, người Pháp đã có điều kiện áp dụng những nguyên tắc quy hoạch phương Tây hiện đại trong xây dựng Hà Nội: hình thành các khu vực chức năng, mạng lưới đường phố được thiết kế rộng rãi, với các điểm nhấn là công trình công cộng, tạo nên bộ mặt mới của thành phố. Hình thái đô thị kể từ đây song song tồn tại hai cấu trúc khác biệt nhưng có ảnh hưởng lẫn nhau: kiểu đô thị truyền thống (khu 36 phố phường) và cấu trúc hiện đại (khu phố Pháp).
( Hình 4 ) Mặc dù quy hoạch còn mang tính cục bộ, khá tách biệt, nhưng việc thiết lập hệ thống đường bộ và đường sắt tương đối hoàn chỉnh trong giai đoạn này đã mở ra cho thành phố những điều kiện phát triển và mở rộng trong tương lai. 16 Hình 1 : Bản đồ HN 1885 Hình 2 :Bản đồ HN 1890 17 Hình 3: Bản đồ HN 1902 Hình 4: Bản đồ HN 1911 18 b.Thời kỳ khai thác thuộc địa lần thứ 2 ( 1920 – 1945 ) Giai đoạn từ năm 1920 đến năm 1945, người Pháp thực hiện chủ trương đẩy mạnh đầu tư và khai thác thuộc địa nhằm khôi phụ nền kinh tế và củng cố địa vị Pháp trên thế giới sau khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ Nhất vào cuối năm 1918. Hà Nội, một thành phố thuộc địa giữ vai trò chiến lược quan trọng ở Đông Dương đã trở thành mục tiêu số một với chức năng thành phố là trung tâm hành chính, chính trị và dịch vụ đã được xác định rõ ràng. Hoạt động kinh tế và xây dựng thành phố với tốc độ và quy mô gấp nhiều lần thời kỳ trước đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa ở Hà Nội.
Các dòng nhập cư vào đô thị đã làm cho dân số đô thị tăng lên nhanh chóng, từ 7 vạn dân vào năm 1918 tăng lên tới 13 vạn vào năm 1928 và 30 vạn vào năm 1942. Tuân theo quy luật đô thị hóa chung, vùng không gian trống, làng xóm đô thị và vùng ngoại vi đã bắt dầu chịu sức ép về dân cư và đối mặt với các vấn đề xã hội, hạ tầng kỹ thuật. Trong bối cảnh ấy việc xây dựng và mở rộng đô thị Hà Nội đặt ra những yêu cầu mới trong quy hoạch và quản lý.