Chương 1: Cơ sở lý luận về mối tương quan thầy trò trong môi trường lớp học Chương 2: Cơ sở thực tiễn tương quan thầy trò trong môi trường lớp học tại Trung Tâm Dạy Nghề Phước Lộc Chương 3: Những tác động để phát triển tương quan thầy – trò trong môi trường lớp học tại Trung Tâm Dạy Nghề Phước Lộc Phần kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI TƢƠNG QUAN THẦY TRÒ TRONG MÔI TRƢỜNG LỚP HỌC 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về mối tƣơng quan thầy – trò trong môi trƣờng lớp học 1.1 Tương quan thầy – trò Withall là người đầu tiên nghiên cứu vấn đề tương quan thầy trò trong lớp học [5]. Ông đã bắt đầu nghiên cứu vào những năm 1949. Withall đã phân ra bảy loại hành vi tương tác theo yếu tố ngôn ngữ của việc tương tác. Sau Withall, với dự án “Kaiser Foundation Research Project”, Leary và các cộng sự đã xây dựng mô hình hành vi tương tác vào năm 1957 [5].
Mô hình này đã đưa ra 16 chiều hướng hành vi, với hai mức khác nhau tùy theo biểu hiện bên ngoài và tính chất bên trong của hành vi tương tác.1: Leary về tương tác thầy trò 5 Leary cũng đã cải tiến mô hình này, số loại hành vi tương tác từ 16 được giảm xuống còn 8 và biểu diễn trên hệ tọa độ 2 chiều. Tuy nhiên, việc ứng dụng mô hình của Leary trong thực tiễn gặp một số khó khăn do số mục trong bảng kê hành vi tương tác là khá lớn (128 mục) và ở mỗi góc phần tư phải thể hiện hai cặp hành vi trái ngược nhau.2: Levy về hành vi tương tác thầy – trò Do còn nhiều khó khăn trong mô hình của Leary mà năm 1993, Levy và Wubbles đã sửa lại mô hình của Leary cho thích hợp hơn. Mô hình này được biểu diễn theo hình quạt 8 cánh, mỗi cánh mô tả một khuynh hướng, khía cạnh hành vi khác nhau là: lãnh đạo, hỗ trợ/ thân thiện, hiểu biết/ thông cảm, trách nhiệm/ tự do, không sẵn sàng, không hài lòng, khiển trách và nghiêm khắc. Tuy nhiên, dù đã có thêm những thay đổi nhưng việc áp dụng mô hình này cũng còn rất khó khăn.3: Levy và Wubbles về tương tác thầy trò 7 Khi có sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, tương tác thầy trò cũng có thay đổi do sự phát triển này.
Frich [12] tương tác thầy trò sẽ có những biến đổi như sau: Không có sự hỗ trợ của CNTT và TT Có sự hỗ trợ của CNTT và TT Một thầy dạy cho nhiều học trò Cùng một thời điểm, có cùng lúc trong một không gian lớp học nhiều giáo viên cùng tham gia cụ thể và giới hạn. giảng dạy ở cùng một lớp học Trình bày thông tin bằng lời kết Trình bày thông tin cho hợp với trực quan cho nhóm sinh viên sinh viên bằng nhiều con đường khác nhau. Trực tiếp giao bài, bài tập Thực hiện các nhiệm vụ chung cho cả lớp và kiểm tra đánh giá, tương tác, đánh giá và phản hồi cung cấp phản hồi. cho sinh viên nhờ công cụ máy tính.
Đa số tương tác giữa giáo viên Nhiều tương tác giửa giáo và sinh viên được thực hiện trực tiếp viên và sinh viên được thực hiện trong môi trường trực tiếp (face to gián tiếp hoặc trực tiếp nhưng face). thông qua môi trường gián tiếp. Quan hệ giáo viên và sinh viên Có nhiều khả năng để thiết có nhiều giới hạn, hoặc khó thực hiện lập quan hệ cá nhân giữa giáo với số đông. viên với đa số sinh viên.
Khi phát triển các multimedia dạy học theo kịch bản thì Bent B. Andersen và Katja van den Brink [7] nhận thấy với các kịch bản sư phạm của multimedia khác nhau thì tương tác thầy trò cũng khác nhau. Quan hệ thầy trò chuyển từ áp đặt – phục tùng, chỉ đạo – thực hiện sang thành quan hệ cộng tác một cách chủ động, tích cực.2 Môi trường lớp học Kurt Lewin [5] là người đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này. Ông cho rằng môi trường và các đặc điểm cá nhân sẽ xác định hành vi người (behaviour).
Ông biểu diễn hành vi người (B) là một hàm của nhân cách P (personality) và môi trường E (environment): B = ƒ (P, E) Murray (1938) đã phát triển lý thuyết của Lewin để mô tả quan hệ giữa các nhu cầu cá nhân và áp lực của môi trường. Những yếu tố môi trường nào nằm ngoài sự kiểm soát của cá nhân có ảnh hưởng thúc đẩy hoặc cản trở việc đạt đến mục đích và thỏa mãn nhu cầu cá nhân được Murray gọi là áp lực. Stern, Stein và Bloom (1956) dùng khái niệm áp lực beta riêng (private beta press) để nói đến nhận định của cá nhân học sinh về môi trường lớp học và áp lực beta liên ứng (consensual beta press) để nói đến nhận định về môi trường của chính học sinh đó do ảnh hưởng của tương tác xã hội. Các khái niệm này được sử dụng khi xây dựng các khảo sát, quan sát hoặc phỏng vấn học sinh để thu thập dữ liệu nghiên cứu.
Khi có sự phát triển và hỗ trợ của công nghệ trong giáo dục thì Sharon Adams và Mary Burns [7] cho rằng công nghệ làm thay đổi môi trường lớp học ở các khía cạnh: vai trò của giáo viên, vai trò của sinh viên, chương trình đào tạo, tương tác trong lớp học, kiểm tra đánh giá. Theo hai tác giả này, với sự hỗ trợ của máy tính, “tùy theo các thông số do người dạy và người học thiết lập mà người học có thể kiểm soát hoàn toàn các chủ đề học tập cũng như tiến trình khám phá các chủ đề ấy”. Người học cũng có thể học theo nhịp độ riêng của họ, có thể có nhiều nguồn tài liệu, xây dựng và chia sẻ cái mình có với nhiều người khác. Trần Văn Thành, Trường CĐSP Hà Nam, trong bài nghiên cứu khoa học [13]: “Cần thiết xây dựng môi trường sống và học tập phù hợp với trẻ” cho rằng: “Học sinh chịu ảnh hưởng rất lớn bởi môi trường mà họ đang sống”.
Cần tạo môi trường an toàn, thoải mái, tự do để người học phát triển các năng lực cá nhân. Theo tác giả thì có hai môi trường: 9 Môi trường kinh tế, văn hóa xã hội nơi học sinh thực hiện các tương tác với giáo viên, chuyên gia, người lớn, bạn học, tư liệu học tập. để thu thập thông tin, thể hiện và khẳng định mình và môi trường bên trong (nội tâm) là nơi người học xử lý và tổng hợp thông tin, ra quyết định, giải quyết vấn đề. Hai môi trường này có liên hệ mật thiết với nhau.
Mức độ tương tác giữa hai môi trường này quyết định chất lượng giáo dục nhân cách của trẻ. Bài nghiên cứu “Xây dựng môi trường học tập cho học sinh trung học phổ thông” của Phạm Hồng Quang – Lê Hồng Sơn [14] thì cho rằng: Hoạt động học tập của người học luôn diễn ra trong môi trường học tập nhất định. Một môi trường học tập thuận lợi là điều kiện cần thiết để người học đạt kết quả học tập cao. Tại đó, người học lĩnh hội được bề rộng và chiều sâu của hệ thống tri thức, rèn luyện được hệ thống kỹ năng phù hợp và hình thành được hệ thống thái độ tích cực thông qua việc học tập một cách chủ động và tích cực.
Bài nghiên cứu chuyên đề “xây dựng môi trường học tập thân thiện và an toàn” của Đỗ Thị Lựu [15] thì cho rằng: Môi trường học tập là “nơi diễn ra quá trình học tập của trẻ em, bao gồm môi trường vật chất và môi trường tinh thần”. Môi trường vật chất là không gian diễn ra quá trình học tập của trẻ, có thể ở trong hoặc ngoài phòng học, ở gia đình và cộng đồng. Môi trường tinh thần là thái độ ứng xử giữa người với người, được thể hiện trong mối quan hệ giữa học sinh và giáo viên, bố mẹ, anh chị, bè bạn và mọi người trong cộng đồng. Việc xây dựng môi trường học tập thân thiện có những lợi ích cho các em, giáo viên, phụ huynh, cộng đồng.2 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm tương quan Tương quan là dính líu với nhau, có liên hệ với nhau [18].
Trong môi trường giáo dục cũng như trong môi trường lớp học thì tương quan chủ yếu bị chi phối bởi những quan hệ, những tương tác thầy trò. Con người được sinh ra, lớn lên trong một xã hội. Con người có tính xã hội và con người sống các mối tương quan. Chất lượng cuộc sống con người phụ thuộc chất lượng các mối tương quan.
Thái độ, tinh thần sống của con người sẽ thay đổi theo các mối tương quan.2 Khái niệm tương quan thầy – trò Tương quan thầy – trò là sự quan hệ, là sự liên đới giữa giáo viên và học trò. Nó là mối quan hệ chuyên nghiệp giữa giảng viên và những người mà họ hướng dẫn [19]. Mối tương quan thầy trò là một trong những mối tương quan căn bản trong nhà trường, có ảnh hưởng lớn đến tri thức, tư tưởng, phẩm giá, đạo đức của học viên.3 Khái niệm môi trường Đó là “một tổ hợp các yếu tố bên ngoài của một hệ thống nào đó. Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó.
Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xem xét là một tập hợp con. Môi trường của một hệ thống đang xem xét cần phải có tính tương tác với hệ thống đó” (Wikipedia). Môi trường cũng có thể là “tất cả những gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh, có tác động trực tiếp lên sự sống, phát triển và sinh sản của sinh vật” như Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa. Còn theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt [2] thì “môi trường là hệ thống phức tạp các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và xã hội xung quanh trẻ, cần thiết cho sự sinh hoạt và phát triển của con người”.
Như vậy, môi trường sẽ là tất cả những thành tố bao quanh đối tượng khảo sát, tác động đến sự tồn tại và vận động của đối tượng đó. Đối tượng khảo sát này có thể là chủ thể hay khách thể. Đối tượng và môi trường 11 sẽ cùng tồn tại vì khi đề cập đến môi trường thì đồng thời cũng đề cập đến một đối tượng nào đó là thành phần liên kết, tồn tại với và chịu sự tác động của môi trường.