Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của sự hình thành và phát triển chủ trương hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán chủ trương xây dựng và hoàn thiện thể chế hinh tế thị trưởng nhằm tạo cơ sở pháp lý thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN. Cùng với công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, thời gian qua công tác HTPL cho DN cũng được quan tâm chú trọng với mục tiêu nâng cao nhận thức pháp luật và thói quen tuân thủ pháp luật, tạo lập các điều kiện phục vụ hoạt động thực thi pháp luật để giúp DN kinh doanh có hiệu quả, phòng chống rủi ro pháp lý và tăng cường năng lực cạnh tranh của DN. Có thể khẳng định đây là một chủ trương đúng đắn làm tiền đề, cơ sở lý luận cho sự hình thành và phát triển chủ trương HTPL cho DN, với các lý do: Thứ nhất, xuất phát từ phía DN còn hạn chế về kiến thức pháp lý.
Nhận thức của nhiều chủ DN, nhiều nhà quản lý DN về vai trò của pháp luật trong hoạt động kinh doanh còn khá hạn chế. Nhiều chủ DN, đặc biệt là các chủ doanh nhỏ và vừa đi lên từ mô hình sản xuất nhỏ, không được đào tạo hoặc bồi dưỡng bài bản về kiến thức pháp luật, thường làm việc theo thói quen ở quy mô nhỏ thì không có vấn đề gì, nhưng ở quy mô lớn rất dễ xảy ra các tranh chấp pháp lý, như việc giao kết hợp đồng chỉ bằng lời nói, bàn giao tiền hoặc tài sản không kèm theo chứng từ vv.Bên cạnh đó, thực tế hiện nay có nhiều chủ DN, nhà quản lý DN quan niệm rằng pháp luật là câu chuyện của Nhà nước đặt ra để trói buộc DN và nếu không có “chạy chọt” để “cởi trói” thì dù có giỏi pháp luật đến mấy cũng không thể làm được. Thực tế cho thấy, tuy chưa hoàn toàn loại trừ được tham nhũng, tiêu cực, nhưng nếu DN am hiểu pháp luật, thì hoàn toàn có thể tự bảo vệ mình trước các rủi ro pháp lý trong kinh doanh, cũng như dễ dàng hơn trong các giao dịch hành chính đối với cơ quan Nhà nước. 10 Thứ hai, hệ thống pháp luật phức tạp và chưa hoàn thiện.
Hệ thống pháp luật của Việt Nam hiện nay đang ngày càng trở nên “rối rắm”. Việc chúng ta đẽo cày giữa đường trong việc học hỏi công tác lập pháp ở các hệ thống pháp luật khác nhau (vừa học hỏi hệ thống Anh Mỹ lại cả của Châu Âu lục địa và Trung Quốc là những ví dụ điển hình) đã làm cho hệ thống văn bản trở nên phức tạp, hỗn độn và chồng chéo. Bên cạnh đó tư duy thích điều hành bằng văn bản của nhiều cơ quan Nhà nước hơn là giải quyết công việc bằng chỉ đạo cụ thể cho từng trường hợp đã làm cho hệ thống văn bản càng trở nên đồ sộ. Thậm chí, bản thân một số cơ quan soạn thảo cũng không dám chắc chắn là có văn bản nào đang có hiệu lực điều chỉnh vấn đề này, bằng chứng là trong các văn bản thường có quy định sau đây: “Những quy định ban hành trước đây trái với Thông tư/Nghị định này đều bị bãi bỏ”.
Việc áp dụng các văn bản pháp luật cũng không hề dễ dàng do có nhiều văn bản cùng điều chỉnh về một vấn đề, thậm chí lại do nhiều cơ quan khác nhau ban hành, cụ thể như: vấn đề giá thanh toán hợp đồng xây dựng đối với các công trình có nguồn vốn Nhà nước vừa chịu sự điều chỉnh của văn bản của Bộ Xây dựng, lại vừa chịu sự điều chỉnh của Bộ Tài chính, vừa chịu sự điều chỉnh của Nghị định Chính phủ, lại vừa của Bộ Luật Dân sự…Bên cạnh đó chúng ta có thể tìm thấy nhiều văn bản có quy định: để thực hiện việc này, việc kia thì theo pháp luật về vấn đề gì đó, hoặc thậm chí dẫn chiếu cụ thể đến một văn bản khác, nhưng khi tìm đến văn bản kia thì chẳng thấy quy định cụ thể nội dung gì. Về nguyên tắc, theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì văn bản nào có giá trị pháp lý cao hơn thì được áp dụng, nếu ngang giá trị pháp lý thì văn bản nào ban hành sau sẽ được áp dụng. Nhưng trên thực tế, các cơ quan áp dụng pháp luật thường có khuynh hướng áp dụng các văn bản cụ thể, đặc biệt là của ngành mình trong giải quyết công việc. Bởi vậy, nhiều khi Luật đã sửa có nội dung mới, nhưng Nghị định/Thông tư hướng dẫn Luật cũ với quy định cũ vẫn được thực hiện vì chưa được sửa.
Điều nay gây hoang mang cho ngay cả với các luật gia, chứ không chỉ là DN. Cơ chế đảm bảo thực thi các quy định của pháp luật hiện nay cũng có nhiều vấn đề. Nhiều văn bản luật có tính chất tuyên ngôn, định hướng, khuyến khích, chứ 11 không đưa ra các nghĩa vụ cụ thể nên các DN, cơ quan Nhà nước không biết áp dụng thế nào, một vài dẫn chứng cụ thể: Luật Thực hành tiết kiệm và Phòng, chống lãng phí dự kiến sẽ áp dụng cho cả cá nhân và DN dân doanh. Một dẫn chứng khác, một tài sản bảo đảm bằng biện pháp thế chấp, thậm chí là cầm cố cho ngân hàng, sẽ rất khó cho ngân hàng khi xử lý nếu không có sự hợp tác của bên bảo đảm.
Do vậy, chính các ngân hàng mặc dù có tài sản bảo đảm nhưng vẫn phải kiện đòi nợ hoặc kiện đòi xử lý tài sản bảo đảm. Có đại biểu Quốc hội nói vui nhưng rất đáng suy ngẫm, chúng ta đang trong “rừng luật”, mà nhiều khi phải áp dụng “luật rừng”. Thứ ba, cơ quan Nhà nước hiện nay còn chưa chú trọng đến công tác pháp chế và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Nhiều cơ quan Nhà nước, cả ở Trung ương và ở địa phương chưa quan tâm đến việc hoàn thiện công tác xây dựng pháp luật của đơn vị mình, nhiều văn bản ban hành chưa đạt độ chuẩn mực của một văn bản pháp quy, đặc biệt là cách hành văn, nội dung quy định nên dẫn đến cách hiểu và vận dụng không giống nhau.
Một dẫn chứng cụ thể như: trong Thông tư 121/2012/TT-BTC về quản trị công ty đại chúng có quy định: “Công ty không được cấp các khoản vay hoặc bảo lãnh cho các thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng giám đốc) điều hành, cán bộ quản lý khác và những người có liên quan tới thành viên nêu trên, trừ khi Đại hội đồng cổ đông có quyết định khác”[3, Điều 23]. Có doanh nghiệp hiểu rằng, quyết định khác có thể hiểu là Đại hội đồng cổ đông có thể cho phép Hội đồng quản trị quyết định cho những cá nhân nêu trên vay, nhưng cũng có DN hiểu rằng phải có quyết định của Đại hội đồng cổ đông cho cụ thể một cá nhân nào đó vay. Công tác pháp chế của các cơ quan Nhà nước thường bị buông lỏng, thậm chí ở những nơi có bộ phận pháp chế thì tầm ảnh hưởng cũng không nhiều trong các quyết định pháp luật của tổ chức, đơn vị đó. Mặc dù Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 4/7/2011 quy định khá cụ thể về tổ chức pháp chế trong các cơ quan cấp Bộ, cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh và trong DN Nhà nước nhưng trong quá trình triển khai còn nhiều vướng mắc.
Vấn đề quan trọng nhất là chất lượng cán bộ pháp chế, đặc biệt là ở địa phương hiện nay, tìm cử nhân luật đưa vào vị trí cán bộ 12 pháp chế không khó, nhưng tìm được cử nhân luật đáp ứng được yêu cầu công việc thì lại không dễ. Bên cạnh đó, có những lĩnh vực rất chuyên sâu cần kiến thức chuyên ngành không phải luật như kinh tế, môi trường, y tế, giáo dục… thì trình độ một cử nhân luật thông thường không thể một sớm một chiều đáp ứng được. Công tác HTPL cho DN trong thời gian trước đây không được chú trọng. Vấn đề minh bạch thông tin điều hành luôn là sự cản trở trong quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam.
Đội ngũ cán bộ làm công tác HTPL cho DN còn ít về số lượng, chưa thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức pháp luật và kỹ năng HTPL cho DN. Bên cạnh đó, đa số cán bộ làm việc kiêm nhiệm, do đó, chất lượng công tác HTPL cho DN hiện nay chưa cao, trong khi đó kinh phí dành cho công tác HTPL cho DN còn hạn chế, thiếu tập trung, chưa được thực hiện một cách đồng bộ trên cả nước, do đó ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác này. Sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước và các tổ chức đại diện cho DN, các tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý chưa được đồng bộ, chặt chẽ và hiệu quả, dẫn đến tình trạng bỏ trống nhiều địa bàn hoặc không đáp ứng được yêu cầu HTPL cho DN. Tuy thời gian gần đây có nhiều chuyển biến, nhưng về cơ bản vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu.
Mức độ quan tâm đến việc hỗ trợ, giải đáp thắc mắc của các cơ quan Nhà nước là không giống nhau và cũng không thường xuyên. Thứ tư, về thực trạng đội ngũ Luật gia độc lập hiện nay còn nhiều bất cập. Các Luật gia độc lập được nói đến ở đây là các luật sư, công ty luật và công ty tư vấn đầu tư v. Hiện nay, số lượng các Luật gia độc lập là không ít, nhưng thường tập trung tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, còn những địa phương khác thì hạn chế hơn.
Chính vì vậy, việc DN muốn tìm kiếm sự hỗ trợ về pháp lý của những Luật gia không phải lúc nào cũng dễ thực hiện, đặc biệt là thêm rào cản về chi phí và quan niệm chưa đúng của chủ DN. Nhiều người, thậm chí không ít những chủ DN quan niệm là chỉ nên tìm sự giúp đỡ của luật sư khi có kiện tụng hoặc khi gặp rắc rối về hình sự. Một điều bất ngờ là nhiều luật sư cũng quan niệm như vậy, nên rất ít chú trọng đến kỹ năng tư vấn pháp lý, đặc biệt tư vấn về các giao dịch kinh doanh. 13 Trình độ các Luật gia rất không đồng đều dẫn đến rất khác nhau trong năng lực của các công ty luật hay tổ chức tư vấn.
Điều đó gây khó khăn cho việc tiếp cận và lựa chọn Luật gia tư vấn của DN.