Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Sông Lô Vĩnh Phúc. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh”của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Sông Lô Vĩnh Phúc. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại Kinh doanh là một trong những hoạt động của con ngƣời nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Theo Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời”. Khái niệm hoạt động kinh doanh của NHTM đƣợc nhắc đến trong nhiều văn bản nhƣ: Luật NHNN Việt Nam 2010 định nghĩa: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán”.
Theo Luật các Tổ chức tín dụng (2010): “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ qua tài khoản”. Nhìn chung, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hoạt động kinh doanh của NHTM. Hiểu theo nghĩa chung nhất: Hoạt động kinh doanh của NHTM là toàn bộ các hoạt động của NHTM bao gồm: huy động vốn, cho vay và các hoạt động dịch vụ khác nhằm mục tiêu lợi nhuận. Đây cũng là cách hiểu về hoạt động kinh doanh của NHTM tại Luận văn này.
Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại Hoạt động kinh doanh của NHTM mang đầy đủ bản chất nhƣ hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp. Tuy nhiên, do đặc thù kinh doanh có những điểm khác biệt so với các đơn vị kinh tế khác nên hoạt động kinh doanh của NHTM mang những đặc điểm cơ bản: - NHTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt: kinh doanh tiền tệ và hoạt động ngân hàng 9 Lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và hoạt động ngân hàng là một lĩnh vực nhạy cảm với mức độ rủi ro cao. Những biến động xấu hoặc diễn biến bất thƣờng về tài chính tiền tệ có thể gây khó khăn đối với HĐKD của NHTM và dẫn đến những thiệt hại cho nền kinh tế. Vì vậy, hoạt động ngân hàng luôn chịu sự quản lý và kiểm soát chặt chẽ từ phía Chính Phủ nhằm ổn định tiền tệ và hạn chế nguy cơ xảy ra khủng hoảng tài chính.
Mặt khác, sản ph m kinh doanh của NHTM là các dịch vụ gắn liền với sự chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế, hay nói cách khác, hàng hóa kinh doanh của NHTM là “tiền”. Ch nh vì vậy, HĐKD của NHTM luôn đối mặt với nhiều rủi ro nhƣ: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro t giá,… Những rủi ro này có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong quá trình hoạt động của ngân hàng trƣớc sự biến động về kinh tế, chính trị. Điều này đòi hỏi các NHTM phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho từng hoạt động của mình và thiết lập khung quản lý rủi ro hiệu quả. Hoạt động của NHTM chịu sự quản lý của NHTW Hoạt động kinh doanh của NHTM liên quan trực tiếp đến hoạt động của mọi chủ thể và ngành nghề trong nền kinh tế.
Khách hàng của ngân hàng có thể là cá nhân hoặc tổ chức hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Mối quan hệ đa chiều giữa ngân hàng và các chủ thể trong nền kinh tế khiến cho những biến động trong HĐKD của ngân hàng sẽ lập tức tác động đến các khu vực kinh tế khác, gây ảnh hƣởng xấu đến hệ thống tài chính quốc gia. Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của khách hàng, đối tác, nhà đầu tƣ, mỗi quốc gia cần thiết lập khung pháp l đầy đủ cho hoạt động của hệ thống NHTM. Trong đó, NHTW sẽ trực tiếp quản lý, giám sát, xây dựng hệ thống ch nh sách điều hành hoạt động của các NHTM.
Hoạt động của NHTM mang tính hệ thống Hoạt động kinh doanh của các NHTM có mối quan hệ dây chuyền. Khi có một ngân hàng mất khả năng thanh toán sẽ tạo ra tác động lan truyền đến các NHTM khác trong hệ thống. Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, các NHTM ngày càng gia tăng sự phụ thuộc và mức độ liên kết lẫn nhau để tăng vị thế và sức cạnh tranh trên thị trƣờng. Mặt trái của vấn đề này là sự phá sản của một ngân hàng có thể ảnh hƣởng đến hệ thống các NHTM trong nƣớc, khu vực và trên thế giới.
Điều 10 đó cũng hình thành nên một điểm đặc thù trong HĐKD của hệ thống các NHTM, đó là: các NHTM cạnh tranh với nhau nhằm kh ng định vị thế của mình trên cơ sở cùng tồn tại và phát triển, không nhằm mục đ ch triệt tiêu lẫn nhau. Các hoạt động kinh doanh chính của Ngân hàng thƣơng mại a. Hoạt động tạo lập nguồn vốn Tạo lập nguồn vốn là hoạt động tạo nên các nguồn vốn của NHTM nhƣ: vốn tự có, vốn huy động, vốn vay,… Đây là một trong 2 mặt hoạt động cơ bản và là tiền đề cho quá trình HĐKD của ngân hàng. Ngân hàng thƣơng mại tạo lập nguồn vốn thông qua nhiều công cụ và phƣơng pháp khác nhau để huy động nguồn tiền nhàn rỗi, từ đó đáp ứng nhu cầu vay vốn của các chủ thể trong nền kinh tế.
Hoạt động tạo lập nguồn vốn của NHTM bao gồm: hoạt động tạo lập vốn tự có và hoạt động huy động vốn. Hoạt động sử dụng vốn Các nguồn vốn tạo lập đƣợc sẽ đƣợc NHTM sử dụng trong quá trình tạo nên các loại tài sản khác nhau của ngân hàng thông qua các hoạt động nhƣ: hoạt động ngân quỹ, hoạt động tín dụng và hoạt động đầu tƣ. Hoạt động dịch vụ Hoạt động dịch vụ của NHTM rất đa dạng, bao gồm: tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt cho khách hàng, dịch vụ đại lý và ủy thác, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ chứng khoán, dịch vụ tƣ vấn tài ch nh,… Hiện nay, các NHTM ngày càng chú trọng đầu tƣ công nghệ, đa dạng hóa sản ph m dịch vụ nhằm gia tăng t trọng thu nhập về dịch vụ trong tổng thu nhập của ngân hàng. HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Về “hiệu quả” trong kinh tế đƣợc định nghĩa là: “mối tƣơng quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ” và “đƣợc dùng để xem xét các tài nguyên đƣợc các thị trƣờng phân phối tốt nhƣ thế nào” – Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế lƣợng Anh- Việt (Nguyễn Khắc Minh, 2004).
Theo khái niệm này, hiệu quả thể hiện sự thành công của một doanh nghiệp trong việc phân bổ các yếu tố đầu vào để tạo ra các sản ph m đầu ra nhằm đáp ứng một mục tiêu cụ 11 thể. Mục tiêu đó có thể là đạt đƣợc đầu ra cực đại từ các đầu vào giới hạn hoặc cực tiểu hóa đầu vào để đạt đƣợc đầu ra xác định. NHTM là“một doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ nhằm mục tiêu lợi nhuận. Hiệu quả kinh doanh của NHTM thể hiện ở nhiều hoạt động nhƣ: huy động vốn, sử dụng vốn, cung cấp dịch vụ.
Vì vậy cũng có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh doanh của”NHTM. Trong“phạm vi của nghiên cứu này, hiệu quả kinh doanh đƣợc xem xét dƣới cả 3 góc độ: hiệu quả tài chính, hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả kinh tế. Theo đó, hiệu quả mà luận văn tập trung nghiên cứu là khả năng biến các yếu tố đầu vào thành các yếu tố đầu ra để đạt đƣợc kết quả kinh doanh cao nhất và nghiên cứu mối quan hệ tối ƣu giữa kết quả kinh tế đạt đƣợc và chi phí bỏ ra để đạt đƣợc kết”quả đó. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thƣơng mại cũng là một loại hình doanh nghiệp, vì vậy, cũng giống nhƣ các doanh nghiệp khác trên thị trƣờng, muốn hoạt động có hiệu quả cần thƣờng xuyên đánh giá, nhìn nhận hoạt động kinh doanh của mình để tìm ra định hƣớng phát triển, không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải cân nhắc, t nh toán để lựa chọn những phƣơng án kinh doanh hiệu quả. Quá trình này hỗ trợ cho việc ra quyết định kinh doanh, tạo căn cứ cả về mặt khoa học và thực tiễn để mang lại hiệu quả mong muốn, đem lại lợi nhuận cao nhất. Tuy nhiên, khác với các doanh nghiệp trên thị trƣờng, ngân hàng thƣơng mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, thể hiện ở 3 khía cạnh: Thứ nhất, hàng hóa trong kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại là tiền; Thứ hai, ngân hàng thƣơng mại không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh mà đóng vai trò là một trung tâm tín dụng, trung tâm thanh toán và cung cấp các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế; Thứ ba, nguồn vốn của ngân hàng thƣơng mại chủ yếu là vốn đi vay. Từ những“đặc điểm trên có thể thấy hoạt động của ngân hàng thƣơng mại chứa đựng nhiều rủi ro, đồng thời, nếu rủi ro xảy ra, mức độ rủi ro sẽ vô cùng lớn và tác động, ảnh hƣởng đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế.
Chính vì vậy, việc 12 đánh giá hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại là yêu cầu cấp thiết nhằm phòng ngừa rủi ro, đảm bảo sự ổn định trong hoạt động của chính bản thân ngân hàng thƣơng mại nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói”chung. Các chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại * Tổng thu nhập t các hoạt động: Thu“từ hoạt động kinh doanh bao gồm thu từ hoạt động t n dụng, lãi tiền gửi, kinh doanh ngoại hối, thu dịch vụ và thu khác từ nhƣợng bán, thanh l tài sản cố định, các khoản vốn đã đƣợc xử l bằng dự phòng rủi”ro,v.