phần mở đầu, kết luận, mục lục, các bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại; 10 Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hà Nam II Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hà Nam II. 11 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát về hoạt động của ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái niệm ngân hàng thương mại Có rất nhiều khái niệm về ngân hàng thƣơng mại (NHTM) nhƣng theo các tài liệu dẫn thì khái niệm tổng quan nhƣ sau: Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và cộng đồng nói riêng. Các ngân hàng có thể đƣợc định nghĩa thông qua các chức năng mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Theo đó ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán; thực hiện nhiều chức năng tài chính hơn so với bất kì tổ chức kinh doanh nào (Peter S. Ngân hàng là tổ chức kinh doanh tiền tệ, với các dịch vụ tài chính là huy động tiền gửi, cấp tín dụng và thực hiện thanh toán (Phan Thị Thu Hà, 2013) Ngân hàng thƣơng mại đƣợc hiểu là: “tổ chức kinh doanh tiền tệ và tín dụng, mà hoạt động chủ yếu và thƣờng xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế” (Nguyễn Văn Tiến, 2015).
Luật Các tổ chức tín dụng hợp nhất quy định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm NHTM, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”. Trong đó, “NHTM là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một hoặc một số nghiệp vụ nhƣ nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán 12 qua tài khoản (Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH ngày 12/12/2017).
Nhƣ vậy, NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trƣờng. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ đƣợc huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế. Các nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại * Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng Huy động vốn là một trong hai mặt của hoạt động cơ bản của ngân hàng thƣơng mại. Với hoạt động huy động vốn, các ngân hàng thƣơng mại đƣợc phép sử dụng tất cả những công cụ và phƣơng pháp khác nhau để huy động mọi nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vay vốn của nền kinh tế.
NHTM huy động vốn dƣới các hình thức sau: - Nhận tiền gửi (nhận ký thác): NHTM nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế bằng VND và bằng ngoại tệ; nhận tiền gửi của cá nhân, các tổ chức đoàn thể xã hội; nhận tiền gửi của các TCTD và các hình thức huy động khác. - Phát hành chứng từ có giá để huy động vốn: Phát hành kỳ phiếu ngân hàng; phát hành trái phiếu ngân hàng. - Vay các tổ chức tín dụng khác: Vay các ngân hàng trong nƣớc; Vay các ngân hàng nƣớc ngoài - Vay NHNN Việt Nam: Vay tái cấp vốn, Vay tái chiết khấu và vay khác * Nghiệp vụ tín dụng Theo Nguyễn Văn Tiến (2015), Nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ trong các hoạt động cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính, trong đó, hoạt động cho vay đƣợc xem là hoạt động sinh lời chủ yếu của các ngân hàng trung gian nói chung và ngân hàng thƣơng mại nói riêng. Nghiệp vụ tín dụng gồm: - Cho vay: là chức năng kinh tế hàng đầu của ngân hàng thƣơng mại - để tài trợ cho chi tiêu của khách hàng cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ, đồng thời nó cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện các chức năng xã hội của ngân hàng.
Hoạt động cho vay của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế tại khu vực ngân hàng phục vụ, bởi vì cho vay 13 thúc đẩy sự tăng trƣởng của các doanh nghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh tế. Theo Khoản 16, Điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Hoạt động cho vay có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau nhƣ: theo thời hạn khoản vay; theo phƣơng thức cho vay; theo hình thức đảm bảo; theo đối tƣợng khách hàng… Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu, ở đây quan tâm đến cách phân loại theo đối tƣợng khách hàng. Theo cách phân loại này thì cho vay bao gồm cho vay khách hàng doanh nghiệp, cho vay tổ chức tài chính và cho vay khách hàng cá nhân.
- Chiết khấu: Là hình thức ngân hàng thƣơng mại mua lại các thƣơng phiếu chƣa đến hạn trả tiền với giá thấp hơn số tiền ghi trên thƣơng phiếu. Khi đến hạn, ngân hàng sẽ đòi toàn bộ số tiền ghi trên thƣơng phiếu ở ngƣời trả tiền thƣơng phiếu. Phần lãi của ngân hàng chính là chênh lệch giữa giá mua và số tiền ghi trên thƣơng phiếu. - Bảo lãnh: Là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng không trực tiếp cho khách hàng vay bằng tiền nhƣng bằng uy tín (chữ kí) của mình, ngân hàng tạo điều kiện để khách hàng sử dụng vốn vay của ngƣời khác và đảm bảo thanh toán hộ khách hàng.
- Cho thuê tài chính: Còn đƣợc gọi là tín dụng thuê mua, là hình thức tín dụng trung, dài hạn đƣợc thực hiện thông qua việc cho thuê tài sản nhƣ máy móc, thiết bị, các động sản và các bất động sản khác. * Các hoạt động dịch vụ khác Tận dụng vị trí uy tín, chuyên môn là một trung gian tài chính có nhiều quan hệ với khách hàng, có khả năng tiếp cận với nhiều nguồn thông tin, các ngân hàng cung cấp rất nhiều các dịch vụ khác nhau từ dịch vụ thanh toán, bảo lãnh, làm đại lý. cho đến việc lập két giữ tiền, của cải phục vụ khách hàng. Các dịch vụ này có thể hoàn toàn độc lập hoặc có thể liên quan hỗ trợ cho các hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng (đặc biệt là hoạt động thanh toán) nhƣng chúng đều đem lại thu 14 nhập cho ngân hàng dƣới dạng phí dịch vụ.
Đối với hầu hết các ngân hàng, thu nhập từ việc cung cấp các dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập. Khái niệm hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại Có nhiều quan niệm khác nhau về hiệu quả kinh doanh của NHTM. Trong đó: Nhà kinh tế học Manfred Kuhn cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh đƣợc xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt đƣợc và chi phí bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó.” Theo Adam Smith cho rằng: “Hiệu quả là kết quả đạt đƣợc trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”. Một số học giả khác cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ so sánh tƣơng đối giữa kết quả và chi phí để đạt đƣợc kết quả đó”.
Từ những quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát: Hiệu quả kinh doanh của NHTM là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đã có để đạt đƣợc kết quả cao nhất với tổng chi phí thấp nhất. Hiệu quả phải gắn liền với việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp và đƣợc thể hiện qua công thức sau: Kết quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh = Nguồn lực đầu vào sử dụng Hiệu quả kinh doanh mô tả mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà chủ thể nhận đƣợc và chi phí bỏ ra hoặc các nguồn lực đƣợc huy động để nhận đƣợc lợi ích kinh tế đó. Biểu hiện của lợi ích và chi phí kinh tế phụ thuộc vào chủ thể và mục tiêu mà chủ thể đặt ra. Đối với chủ thể doanh nghiệp, đó có thể là doanh thu bán hàng và những chi phí gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để có đƣợc doanh thu bán hàng đó.
Hiệu quả kinh doanh đƣợc biểu hiện trên cả hai mặt lƣợng và chất: Về mặt lƣợng: Hiệu quả kinh doanh biểu hiện mối tƣơng quan giữa kết quả thu đƣợc với chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh đó. Về mặt chất: Việc đạt đƣợc hiệu quả kinh doanh cao phản ánh năng lực và trình độ quản lý, đồng thời đòi hỏi sự gắn bó giữa việc đạt đƣợc những mục tiêu 15 kinh tế với việc đạt đƣợc những mục tiêu xã hội. Hiệu quả kinh doanh của NHTM đƣợc đo lƣờng một cách tổng quát thông qua tỷ lệ giữa lợi nhuận đối với tổng tài sản và vốn chủ sở hữu. Lợi nhuận phản ánh khả năng sinh lời của NHTM, nó đƣợc quyết định bởi mức lãi thu đƣợc từ các khoản cho vay và đầu tƣ, bởi nguồn thu từ hoạt động dịch vụ, bởi quy mô, chất lƣợng và thành phần của các tài sản có.
Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại Hiệu quả kinh doanh của NHTM quyết định trực tiếp tới vấn đề tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng. Nếu NHTM hoạt động có hiệu quả thì uy tín của ngân hàng đó sẽ đƣợc tăng lên, ngƣời gửi tiền sẽ yên tâm và tin tƣởng và do đó công tác huy động vốn của ngân hàng sẽ đƣợc thuận lợi và phát triển.