Chương 1: Tổng quan về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn của Ngân hàng Trung ương. Chương 2: Thực trạng chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. TỎNG QUAN VÈ CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG PHỤC v ụ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1.
Tổng quan về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn của Ngân hàng Trung ưong 1. Quản lý nhà nưóc về kinh tế và công cụ chính sách trong quản lý nhà nưó’c về kinh tế 1. Khải niệm quản ỉỷ nhà nước về kinh tế Quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân (gọi tắt là quản lý nha nươc vê kinh tê) là sự tác động có tô chức và bằng pháp quyền của Nhà nươc len nen kinh te quôc dân nhăm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phat tnen kinh te đât nước đã đặt ra, trong điêu kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế. Phương pháp quản lý của Nhà nước về kinh tế 1.
Khải niệm phương pháp quản lý của Nhà nước về kình tế Phương pháp quản lý của Nhà nước về kinh tế là tổng thể những cách thức tác động có chủ đích và có thể có của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân và các bộ phận hợp thành của nó để thực hiện các mục tiêu quản lý kinh tế quốc dân. Các phương pháp quản lý chủ yếu của Nhà nước về kinh tế - Phương pháp hành chính: 5 Phương pháp hành chính trong quản lý nhà nước về kinh tế là cách thức tác động trực tiếp của Nhà nước thông qua các quyết định dứt khoát có tính bắt buộc lên đối tượng quản lý nhà nước về kinh tế, nhằm thực hiện các mục tiêu quản lý kinh tế vĩ mô trong những tình huống nhất định. - Phương pháp kinh tế: Phương pháp kinh tế trong quản lý nhà nước về kinh tế là cách thức tác động gián tiếp của Nhà nước, dựa trên những lợi ích kinh tế có tính chất hướng dân, lên đôi tượng quản lý nhà nước về kinh tế, nhằm làm cho họ quan tâm đến hiệu quả cuối cùng của sự hoạt động, từ đó mà tự giác, chủ động hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, không cần phải có sự tác động thường xuyên của Nhà nước bằng phương pháp hành chính. - Phương pháp giáo dục: Phương pháp giáo dục trong quản lý nhà nước về kinh tế là cách thức tác động của Nhà nước vào nhận thức và tình cảm của những con người thuộc đối tượng quản lý nhà nước về kinh tế, nhằm nâng cao tính tực giác, tích cực và nhiệt tình trong lao động của họ trong việc thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
Công cụ chính sách trong quản lý nhà nước về kinh tế 1. Khải niệm công cụ quản lý nhà nước về kinh tế Công cụ quản lý nhà nước về kinh tế là tổng thể những phương tiện hữu hình và vô hình mà Nhà nước sử dụng để tác động lên mọi chủ thể kinh tế trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu quản lý kinh tế quốc dân. Công cụ chính sách trong quản ỉỷ nhà nước về kinh tế - Khái niệm chính sách: 6 Chính sách là một trong những công cụ chủ yếu mà Nhà nước sử dụng để quản lý nền kinh tế quốc dân. Dưới dạng chung nhất, mỗi chính sách cụ thể là một tập hợp các giải pháp nhất định để thực hiện các mục tiêu bộ phận trong quá trình đạt tới các mục tiêu chung của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Một chinh sach bat kỳ thường gôm hai bộ phận: các mục tiêu cần đạt được và các giải pháp cần áp dụng để thực hiện mục tiêu. - Cac chính sách kinh tê chủ yêu của Nhà nước bao gồm: Chính sách cơ cấu kinh tế; Chính sách tài khóa; Chính sách tiền tệ; Chính sách giá cả; Chính sách kinh tế đối ngoại; v. - Vai trò của chính sách trong quản lý nhà nước về kinh tế: Trong hệ thống các công cụ quản lý nhà nước, các chính sách là bộ phận năng động nhất, có độ nhạy cảm cao trước những biến động trong đời song kinh tê - xã hội của đât nước nhăm giải quyêt những vấn đề bức xúc mà xã hội đặt ra. Thực tiên nước ta và nhiều nước trên thế giới đều chứng tỏ: phân lớn những thành công trong công cuộc đổi mới và cải cách kinh tế đều bắt nguồn từ việc lựa chọn và áp dụng những chính sách kinh tể thích hợp, có năng suât cao đê khai thác tôi ưu các lợi thế so sánh của đất nước về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, nguồn nhân lực.
Một hệ thông các chính sách kinh tế đồng bộ, phù hợp với nhu cầu phát triên của đât nước trong từng thời kỳ lịch sử nhất định sẽ là một đảm bảo vừng chăc cho sự vận hành của một cơ chê thị trường năng động, hiệu quả. Nhờ đó mà có thê khơi dậy được các nguồn tiềm năng, phát huy tính tích cực, sáng tạo và ý chí vươn lên làm cho dân giàu, nước mạnh của tầng lớp dân cư. Ngược lại, chỉ cân một chính sách kinh tế sai lầm sẽ gây ra phản ứng tiêu cực dây chuyền đán các chính sách kinh tế khác, cũng như đến các bộ phận khác 7 của cơ chê quản lý kinh tế. Kết quả dẫn đến là giảm hiệu quả của cơ chế quản lý kinh tế, triệt tiêu động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Kinh nghiệm cũng cho thấy, sai lầm của các chính sách kinh tế có ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của hàng triệu người trong xã hội, thậm chí quan hệ đến sự thịnh suy của một quốc gia, sự tồn vong của dân tộc. Cái giá phải trả cho sự sai lầm của một chính sách kinh tế là rất lớn cả về mặt vật chất lẫn tinh thân, cả trong nước và ngoài nước. Hơn nữa, việc khắc phục hậu quả của một chính sách kinh tế sai lầm thường gặp phải rất nhiều khó khăn và trở ngại, đòi hỏi phải mất nhiều thời gian và công sức. Ngân hàng Trung ưong và chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ưong 1.
Bản clĩầty vị trí, chức năng của Ngân hàng Trung ương 1.1 Bản chất của Ngân hàng Trung ương Từ những năm đâu của thê kỷ XV, các NHTM ra đời, hoạt động kinh doanh đa năng nên gọi là NHTM đa năng. Trong thời kỳ này, các ngân hàng đều có chức năng hoạt động như nhau bao gồm phát hành giấy bạc ngân hàng và kinh doanh, nhận tiền gửi của khách hàng, chiết khấu và cho vay, thực hiện các dịch vụ thanh toán khác.và đương nhiên mục tiêu là lợi nhuận. Để tìm kiếm lợi nhuận, các ngân hàng băt đâu cạnh tranh nhau. Trong quá trình cạnh tranh đó, có nhiêu ngân hàng bị phá sản và tất yếu có nhiều ngân hàng lớn dần lên.
Đên cuôi thê kỷ XVIII, lưu thông hàng hóa được mở rộng cả về quy mô và phạm vi. Hoạt động của ngân hàng được chuyên môn hóa ngày càng cao và tách thành hai nhóm: 8 - Một số ngân hàng lớn, có uy tín tách ra khỏi hệ thống NHTM, không kinh doanh tiền tệ nữa, chỉ đảm nhận lệnh phát hành giấy bạc vào lưu thông, mục tiêu vẫn là lợi nhuận. - Các ngân hàng còn lại không phát hành giấy bạc nữa mà chỉ kinh doanh tiền tệ để kiếm tìm lợi nhuận. Đen cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, để thống nhất việc phát hành, Nhà nước ban hành các đạo luật cho phép một ngân hàng lớn nhất, uy tín nhất độc quyền phát hành còn các ngân hàng phát hành khác chuyển thành các NHTM.
Mặc dù đã thống nhất việc phát hành tiền cho nền kinh tế nhưng ngân hàng phát hành vẫn thuộc sở hữu tư nhân, mục tiêu của các ngân hàng phát hành là lợi nhuận. Điều này không cho phép Nhà nước can thiệp một cách thường xuyên các hoạt động kinh tế thông qua tác động của tiền tệ. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 -1933 để lại nhiều bài học quý giá vê việc phát hành tiền, quản lý tài chính và tác động của chính sách tiền tệ đến động thái của nền kinh tế vĩ mô như: tăng trưởng và suy thoái - thất nghiệp và toàn dụng - ổn định giá cả và lạm phát.Tiền ngày càng trở nên quan trọng. Các Chính phủ nghĩ rằng, cần phải nắm lấy ngân hàng phát hành - ngân hàng duy nhất phát hành đồng tiền quốc gia.
Do vậy, các nước đã dùng quyên lực chính trị của mình lân lượt biên ngân hàng phát hành thuộc sở hữu tư nhân thành ngân hàng phát hành của Nhà nước bằng cách quốc hữu hóa các ngân hàng phát hành; hoặc thành lập mới ngân hàng phát hành là cổ phần tư nhân nhưng Nhà nước có quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm cơ quan lãnh đạo cao nhất của ngân hàng này. Ke từ lúc này, khái niệm NHTW xuất hiện. Bản chất của NHTW là một định chế tài chính hỗn họp (có thể độc lập hoặc trực thuộc Chính phủ), vừa mang tính chất là cơ quan quản lý nhà nước 9 (tức là quản lý nhà nước trên lĩnh vực được giao trên cơ sở các văn bản pháp luật, quy định, chế độ, chính sách.), vừa mang tính chất doanh nghiệp - nghĩa là nó được thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh, nhưng khi thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh thì NHTW không vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Vị trí của Ngăn hàng Trung ương NHTW là một định chế công cộng chịu trách nhiệm trong việc quản lý và điều tiết các vẩn đề liên quan đến tiền tệ, nhằm phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, nhưng quan hệ của NHTW với Chính phủ không hoàn toàn giống các định chế công cộng khác.
Mối quan hệ này ở các nước khác nhau cũng không giống nhau. Tùy thuộc vào đặc điểm ra đời, thể chế chính trị, nhu cầu của nền kinh tế cũng như truyền thống văn hóa của từng quốc gia mà NHTW sẽ được tổ chức theo các mô hình khác nhau, thông thường là theo 3 mô hình sau: a. NHTW trực thuộc Chính phủ: So’ đồ 1.1: Mô hình NHTW trực thuộc Chính phủ Theo mô hình này, NHTW là cơ quan của Chính phủ, chịu sự điều hành trực tiếp của Chính phủ.