Chương I1: Cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm về phát triển dịch vụ ngoài tín dụng của các ngân hàng thương mại Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 4: Giải pháp và gợi ý chính sách nhằm phát triển dịch vụ ngoài tín dụng tại Agribank CN Sài Gòn 21 Chuong 1 CO SO LY THUYET VA BANG CHUNG THUC NGHIEM VE PHAT TRIEN DICH VU NGOAI TIN DUNG CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.1 Cơ sở lý thuyết về phát triển dịch vụ ngoài tín dụng của ngân hàng thương mại 1.1 Tông quan về các dịch vụ ngoài tín dụng của ngân hàng thương mại T.1 Khái niệm dịch vụ ngoài tín dụng của NHTM Theo Luật các TCTD 2010 của Việt Nam có quy định dịch vụ ngân hàng nhưng không nêu ra định nghĩa mà đưa ra cụm từ “Hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng” được bao gồm các nội dụng: Nhận tiền gửi, cập tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. Điều 98, Luật các TCTD 2010 có nêu hoạt động ngân hàng gồm 6 mảng: Nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, cấp tín dụng, mở tài khoản thanh toán, cung ứng các phương tiện thanh toán, cung cấp các dịch vụ thanh toán. Dựa vào tính chất, dịch vụ ngân hàng thương mại gồm: Dịch vụ tín dụng và DVNTD — Dich vu tin dung: Quan hé tin dung thé hién su vay mượn, là sự chuyển nhượng tạm thời lượng giá tri tai san từ người sở hữu sang người sử dụng trong một thời gian nhất định trên cơ sở tín nhiệm, người sử dụng tài sản sẽ sử dụng đúng mục đích hiệu quả để có thê hoàn trả lượng giá trị lớn hơn ban đâu. — Dich vu ngodi tin dung: Đó là các dịch vụ găn liền với việc thu phí do các NHTM thực hiện, thông qua việc cung cấp dịch vụ ngân hàng cho doanh nghiệp, tô chức và cá nhân nhăm đạt được lợi nhuận.
Điển hình là các dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử, dịch vụ kinh doanh vàng bạc đá quý,. Từ điển thuật ngữ ngân hàng của Nhà xuất bản giáo dục Barron, xuất bản lần thu 5 cua Thomas P. Fitch dinh nghia vé DVNTD: Dich vu ngoai tin dung (non credit banking services) là các dịch vụ ngân hàng dựa trên lệ phí không liên quan đến việc mở rộng tín đụng mà ngân hàng cung cấp cho các ngân hàng đại lý hoặc khách hàng doanh nghiệp. Thu nhập từ DVNTD có thể là một nguồn thu đáng kế cho các ngân 22 hàng và các tô chức tài chính.
Ví dụ DVNTD bao gồm sự tin trởng và các khoản thu liên quan đến đầu tư, quản lý tiền mặt toàn cầu, trao đổi tiền tệ nước "ngoài. Nhu vay, DVNTD 1a toàn bộ các dịch vụ ngân hàng không kế dịch vụ tín dụng, nó cũng có đây đủ các đặc điểm của dịch vụ ngân hàng. Điểm khác biệt cơ bản so với dịch vụ tín dụng là khi thực hiện các DVNTD, ngân hàng không thu lãi mà thu các khoản phí từ dịch vụ do mình cung cấp. Dé đơn giản hoá cách hiểu và nhận biết, có thể dựa vào 2 tính chất cơ bản của DVNTD nhăm phân biệt với dịch vụ tín dụng: — _ Thứ nhất: Khi khách hàng thực hiện giao dịch với ngân hàng, ngân hàng không nhất thiết phải sử dụng nguôn vốn để thực hiện giao dich.
— Thứ hai: Khi khách hàng thực hiện giao dịch với ngân hàng, khách hàng phải chi trả một khoản phí cho dịch vụ mình sử dụng. Thu nhập của ngân hàng lúc này được thực hiện dưới dạng thu phí chứ không phải thực hiện dưới việc thu lãi và trả lãi như dịch vụ tín dụng. Từ đó, ta có thể hiểu DVNTD như sau: “Dịch vụ ngoài tín dụng là dịch vụ mà ngân hàng cung cấp tới khách hàng để đáp ứng nhu câu tài chính, tiên tệ của khách hàng nhằm đem lại cho ngân hàng một khoản thu nhập bằng các khoản phí xác định thu được từ khách hàng, không bao gom dich vu tin dung”.2 Đặc điểm của các dich vu ngoài tín dụng — _ Thứ nhất, là hoạt động có thu phí. Khác với hoạt động tín dụng của Ngân hàng thực hiện thu lãi, hoạt động DVNTTD được đặc trưng bởi khoản phí thu được từ khách hàng trong quá trình cung cấp dịch vụ.
Phí thu do thoả thuận theo biểu phí giữa tô chức cung cập dịch vụ và khách hàng sử dụng tương ứng với từng loại hình dịch vụ. — Thir hai: khéng nhát thiết phải sử dụng nguồn vốn. Ngoài phải đầu tư nguồn vốn ban đầu vào trang thiết bị, công nghệ kỹ thuật và nguồn nhân lực, khi thực hiện giao dịch về DVNTD, các NHTM không phải sử dụng nguồn vốn hoặc nếu có thì là rất nhỏ đề thực hiện nghĩa vụ ngay khi giao kết hợp đồng. Và đây chính là lợi thế nỗi bật mà các ngân hàng đang khai thác để phát triển DVNTD.
23 — Thứ ba: không có tính độc quyền. Để tạo ra một sản pham Ngân hàng mới đòi hỏi quá trình nghiên cứu phức tạp, tốn kém chỉ phí. Song, sản phẩm dịch vụ Ngân hàng được tạo ra dễ bắt chước, không có độc quyên nên việc sao chép sản phẩm lẫn nhau là điều không tránh khỏi, thời gian sao chép sản phẩm nhanh. Trong khi đó, không có cách để dị hoá sản phẩm dịch vụ giữa những tổ chức cung cấp với nhau.
Điều này đòi hỏi việc cạnh tranh giữa các tô chức bắt buộc phải được thực hiện thông qua cạnh tranh về chất lượng dịch vụ, cạnh tranh về hình ảnh và thậm chí là cạnh tranh về giá. Chất lượng dịch vụ được xem là cốt lõi của sản phẩm. — Thứ tư: mang lại lợi nhuận cao. Các DVNTD có thê mang đến lợi nhuận cao cho NHTM bởi chỉ phí giao dịch bỏ ra thường thấp, chủ yếu là sử dụng hạ tầng công nghệ đã đầu tư từ trước.
Đây được coi là một lĩnh vực đâu tư hiệu quả mà các NHTM hiện đại đang hướng tới. — Thứ năm: An toàn, ít rúi ro. Các DVNTD được cho là lĩnh vực kinh doanh an toàn và ít rủi ro, khi các NHTM phát triển các dịch vụ này sẽ tránh được nhiều rủi ro thường gặp như: rủi ro lãi suất, đặc biệt là rủi ro tín dụng. — _ Thứ sáu: Gắn liên với sự phát triển của công nghệ.
Có nhiều loại hình DVNTD ra đời và phát triển với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin. Những dịch vụ này đem lại sự tiện ích cho khách hàng, hiện nay, khách hàng không nhất thiết phải tới ngân hàng cũng có thể thực hiện được giao dịch thông qua những dịch vụ như: Mobile banking.3 Các loại dịch vụ ngoài tín dụng của NHTM —_ Dịch vụ thanh toán. Đây là dịch vụ điền hình và đặc trưng mỗi khi nhắc tới ngân hàng, có vai trò chìa khóa cho hoạt động cung ứng dịch vụ của NHTM đối với khách hàng. Trọng tâm là nâng cấp hệ thống thanh toán liên ngân hàng, các Ngân hàng định hướng phát triển sâu rộng hệ thống đó một cách an toàn, hiệu quả, phù hợp các qui định và thông lệ quốc tế.
Việc phát triển này nhăm khuyến khích khách hàng thực hiện các giao dịch qua ngân hàng, hạn chế sử dụng tiền mặt trong giao dịch thường ngày. 24 Khi NHTM cung cấp dịch vụ thanh toán cho khách hàng, NHTM đóng vai trò là trung gian thanh toán thay cho khách hàng của mình. Căn cứ vào phạm vIị thực hiện giao dịch, có thê phân loại dịch vụ thanh toán thành 2 loại là thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế. + Dịch vụ thanh toán trong nước: là hình thức thanh toán mà ngân hàng thực hiện theo yêu cầu của khách hàng băng cách trích tài khoản người trả một số tiền đến một tài khoản thụ hưởng khác.
+ Dịch vụ thanh toán quốc tế. Chuyên tiền đi nước ngoài: Các cá nhân, tổ chức phát sinh nhiều nhu câu giao dịch chuyển tiền thanh toán hàng hóa, dịch vụ quốc tế. Ví dụ như: chuyển tiền du học, chữa bệnh, cho tặng, du lịch hoặc chi trả các khoản phí, lệ phí,. Các NHTM nhanh chóng năm bắt cơ hội cho lĩnh vực kinh doanh mới, tạo thêm thu nhập đông thời đáp ứng nhu câu của khách hàng.
Hiện nay có 2 hình thức chuyền tiền chính là qua điện SWIFT hoặc phát hành hối phiếu ngân hàng. Chuyền tiền đến từ nước ngoài: Phải kể đến 2 dịch vụ chính là dịch vụ chuyên tiền kiều hối; nhận séc nhờ thu do ngân hàng nước ngoài phát hành. —_ Dịch vụ ngân quỹ, gốm: (1) Thu, chi tại quầy. Ngân hàng nhận tiền mặt từ khách hàng cho những mục đích khác nhau như: nộp tiền tài khoản thanh toán, gửi tiết kiệm, trả nợ vay,.
Đồng thời ngân hàng cũng thực hiện việc chị trả tiền mặt cho khách hàng khi họ có nhu câu rút tiền từ tài khoản tiên gửi, nhận nợ vay.(2) Thu, chi hộ. Ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện nghiệp vụ thu hộ khách hàng mua hàng hóa dịch vụ, hoặc chi tra hộ lương cho nhân viên, chi trả tiền cho đối tác. — _ Dịch vụ quản lý tài sản. Dịch vụ quản lý tài sản hiện nay các NHTM cung cấp tới ngân hàng gồm có dịch vụ quản lý tiền mặt, dịch vụ cất giữ tài sản và dịch vụ tín thác.
Dịch vụ quản lý tiền mặt là việc ngân hàng quản lý thu chi tiền mặt và tiền hành dau tu phan thang du tam thoi dé dat duoc hiệu quả cho khách hàng. Dịch vụ cất giữa tài sản: hiện nay đa số các ngân hang đều có két sắt cho khách hàng thuê để cất giữ tài sản, các giây tờ có giá an toàn. 25 Tuy nhiên, dịch vụ quản lý tài sản của NHTM hiện nay đang gặp phải rât nhiều sự cạnh tranh từ các tổ chức khác như các công ty chứng khoán, công ty quản lý quy,. — Dich vu thé ghi ng.
La phwong tién thanh toán không dùng tiền mặt mà chủ thẻ có thê rút tiền, vẫn tin số dư, chuyển khoản,. tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc thanh toán hàng hóa dịch vụ tại các thiết bị chấp nhận thẻ (EDC, POS). Nghiệp vụ thẻ này không tạo ra tín dụng. Mỗi lần sử dụng, ngân hàng sẽ trừ ngay số tiền tương ứng (có thể có thêm khoản phí phải chỉ trả) trong tài khoản của khách hàng.
Ngoài ra, các ngân hàng còn thực hiện phát hành, đại lý thanh toán thẻ quéc té nhu Visa, Mastercard. Hién nay, cac NHTM dang phat hanh 2 loai the ghi no chính là thẻ ghi nợ nội địa và thẻ ghi nợ quốc tế theo nhu cầu của khách hàng. — _ Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ.