Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thẩm định dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Ngân hàng Thương mại. Chương 2: Thực trạng công tác thẩm định các dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Ngân hàng TMCP Bắc Á. Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định các dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Ngân hàng TMCP Bắc Á. 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
THẨM ĐỊNH DỰ ÁN TRONG CÁC NHTM 1. Khái niệm và sự cần thiết phải thẩm định a. Khái niệm Thẩm định dự án đầu tư theo quan điểm của các NHTM là việc xem xét một cách khách quan, toàn diện các nội dung cơ bản liên quan đến dự án đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi và khả năng hoàn trả vốn đầu tư của dự án để phục vụ cho việc xem xét, quyết định cho khách hàng vay vốn đầu tư hay không. Khi một khách hàng có nhu cầu và đề nghị vay vốn ngân hàng để thực hiện DAĐT, NHTM sẽ tiến hành thẩm định toàn diện các nội dung, bao gồm thẩm định về khách hàng vay vốn, cụ thể là thẩm định về tư cách pháp lý của khách hàng, thẩm định năng lực sản xuất kinh doanh của khách hàng, thẩm định tình hình tài chính của khách hàng.
Thẩm định về khách hàng vay vốn cho NHTM biết được doanh nghiệp là ai, có tư cách pháp nhân thế nào, năng lực quản trị điều hành ra sao, kết quả kinh doanh và tình hình tài chính có tốt không. Mặc dù những phân tích này không liên quan trực tiếp tới dự án đầu tư đề nghị vay vốn nhưng thông qua những phân tích về khách hàng vay vốn cho NHTM thấy được năng lực của khách hàng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trong việc vận hành các dự án tương tự dự án đang đề nghị vay vốn ngân hàng…. Một dự án được đánh giá là tốt nhưng tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn đang xấu thì NHTM cũng không thể tài trợ vốn cho doanh nghiệp đó thực hiện dự án đầu tư. Nội dung thẩm định tiếp theo là thẩm định trực tiếp về dự án đầu tư.
Về cơ bản, các NHTM sẽ tiến hành thẩm định toàn diện các nội dung liên quan đến dự án, tuy nhiên sẽ tập trung phân tích, đánh giá về khía cạnh hiệu quả tài chính và khả năng trả nợ của dự án. Các khí cạnh khác như hiệu quả về mặt xã hội, hiệu 6 quả kinh tế nói chung cũng sẽ được đề cấp tới tùy theo đặc điểm và yêu cầu của từng dự án. Một nội dung rất quan trọng nữa trong việc thẩm định dự án đầu tư vay vốn đó là thẩm định về tài sản bảo đảm tiền vay. Tài sản bảo đảm cho khoản vay thực hiện dự án đầu tư có tác dụng nâng cao trách nhiệm của khách hàng trong việc thực hiện nghĩa vụ với ngân hàng.
Khi tiến hành nhận tài sản bảo đảm, ngân hàng không chờ đợi và mong muốn tình huống xử lý tài sản để thu hồi vốn, quan điểm của ngân hàng là luôn mong muốn dự án vận hành hiệu quả, có nguồn thu trả nợ ngân hàng. Việc xử lý tài sản là biện pháp cuối cùng khi không còn cách xử lý nào khác và thường mất rất nhiều thời gian, nhất là với những tài sản có giá trị lớn. Sự cần thiết phải thẩm định Việc thẩm định là công việc hết sức quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với ngân hàng, thể hiện: - Kết quả của quá trình thẩm định dự án là việc ngân hàng đưa ra những kết luận chính xác về tính khả thi về mặt tài chính của một dự án đầu tư, làm cơ sở quan trọng để NHTM quyết định có cho vay hay không cho vay, các điều kiện kèm theo khi cho vay dự án đầu tư. - Thẩm định dự án đầu tư của NHTM làm cơ sở tư vấn cho chủ đầu tư thực hiện dự án một cách hiệu quả (trong vai trò là nhà tư vấn đầu tư), tăng tính hiệu quả về mặt tài chính của dự án, đảm bảo hiệu quả của vốn vay, phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro mất vốn.
- Thẩm định dự án đầu tư làm cơ sở để xác định các điều kiện tín dụng đối với một dự án đầu tư: lãi suất cho vay, số tiền cho vay, thời gian cho vay, thời gian ân hạn, kỳ hạn trả lãi, dự kiến tiến độ giải ngân, lịch trả nợ gốc, các điều kiện tiên quyết cho vay khác…vv, tạo điều kiện cho chủ đầu tư hoạt động có hiệu quả và đồng thời đảm bảo mục tiêu tài trợ vốn của ngân hàng. - Rút ra kinh nghiệm và bài học để thực hiện các dự án sau tốt hơn. Có thể nói, thẩm định DAĐT là điều kiện tiên quyết để NHTM ra quyết định cho vay đối với một dự án đầu tư. Thẩm định DAĐT tuân thủ quy trình thẩm định, đảm bảo tính khoa học, logic để có thể đánh giá đúng về DAĐT và ra quyết định tài 7 trợ vốn đúng đắn.
Những quyết định đầu tư, quyết định tài trợ vốn cho DAĐT không dựa trên kết quả thẩm định hoặc thẩm định không chính xác có thể gây thiệt hại nghiêm trọng, ảnh hưởng đến Chủ đầu tư thực hiện dự án cũng như uy tín của các NHTM nói riêng và Tổ chức tín dụng nói chung. Do vậy, công tác thẩm định cần phải được coi trọng đúng mức, là một trong những biện pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng tín dụng. Căn cứ thẩm định dự án đầu tƣ Thẩm định dự án được thực hiện trên cơ sở những hồ sơ, tài liệu, quy định và thông tin thu thập được từ khách hàng hoặc từ các nguồn khác. Từ đó ngân hàng xem xét, chọn lọc, xử lý dữ liệu thu thập được và tập hợp để tiến hành đánh giá, phân tích mọi khía cạnh liên quan đến dự án.
Căn cứ thẩm định dự án bao gồm: Hồ sơ dự án Căn cứ đầu tiên và quan trọng nhất chính là tập hồ sơ của dự án, theo quy định hiện hành hồ sơ dự án bao gồm hai phần: phần thuyết minh dự án và phần thiết kế cơ sở. Trong phần thuyết minh của dự án cán bộ thẩm định sẽ xem xét sự cần thiết và mục tiêu đầu tư, đánh giá nhu cầu thị trường, tiêu thụ sản phẩm đối với dự án sản xuất kinh doanh; hình thức đầu tư xây dựng công trình; địa điểm xây dựng, nhu cầu sử dụng đất; điều kiện cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu và các yếu tố đầu vào khác; Mô tả về quy mô và diện tích xây dựng công trình, các hạng mục công trình, phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật; Đề xuất các giải pháp thực hiện và xác định tổng mức vốn đầu tư, khả năng thu xếp vốn, phương án vay vốn và các chỉ tiêu hiệu quả của dự án. Phần thiết kế cơ sở sẽ đi vào chi tiết, thể hiện được giải pháp thiết kế chủ yếu bảo đảm đủ điều kiện để xác định tổng mức đầu tư và triển khai các bước tiếp theo, bao gồm thuyết minh và các bản vẽ. Hồ sơ dự án là căn cứ pháp lý dự án quan trọng của Chủ đầu tư trình các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thẩm định xin cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
Do đó, khi thẩm định dự án đầu tư các NHTM đặc biệt quan tâm đến Hồ sơ dự án, căn cứ quan trọng để tiến hành thẩm định dự án. Căn cứ pháp lý Để đánh giá sự cần thiết khi phải tiến hành thực hiện dự án, các thuận lợi, khó khăn khi đầu tư dự án, khi thẩm định NHTM còn phải căn cứ vào chủ trương, quy 8 hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước, địa phương và của ngành; các văn bản pháp luật chung, văn bản pháp luật và quy định có liên quan trực tiếp tới hoạt động đầu tư đang có hiệu lực tại thời điểm thẩm định hoặc sắp có hiệu lực thi hành trong quá trình thực hiện dự án. Các tiêu chuẩn, quy phạm và các định mức trong từng lĩnh vực kinh tế kỹ thuật cụ thể. Trong quá trình phân tích, đánh giá khía cạnh kỹ thuật của dự án, cán bộ thẩm định luôn phải đối chiếu so sánh với các tiêu chuẩn, quy phạm của ngành và các định mức trong từng lĩnh vực kinh tế kỹ thuật cụ thể: quy phạm về sử dụng đất đai trong các khu đô thị, khu công nghệp, quy phạm về tĩnh không trong công trình cầu cống, hàng không, tiêu chuẩn cấp công trình, các tiêu chuẩn thiết kế cụ thể đối với từng loại công trình, tiêu chuẩn về môi trường, tiêu chuẩn công nghệ, kỹ thuật riêng của từng ngành.
Ngoài ra, căn cứ trên cơ sở định mức, tiêu chuẩn của ngành để đánh giá tính hợp lý của đơn giá, khối lượng công trình. Các quy ước, thông lệ quốc tế Bên cạnh đó, căn cứ thẩm định còn dựa trên các điều ước quốc tế chung đã ký kết giữa các tổ chức quốc tế hay nhà nước với nhà nước (về hàng hải, hàng không, đường sông.); Quy định của các tổ chức tài trợ vốn (WB, IMF, ADB, JBIC.), các quỹ tín dụng xuất khẩu của các nước, các quy định về thương mại, tín dụng, bảo lãnh, bảo hiểm. Ngoài ra, để có căn cứ thẩm định DAĐT, các cán bộ thẩm định phải điều tra, thu thập, tổng hợp và phân tích các nguồn thông tin về khách hàng bằng nhiều biện pháp: - Các thông tin thực tế từ dự án và doanh nghiệp xin vay vốn Thông tin về doanh nghiệp: Quyết định thành lập doanh nghiệp, Giấy phép kinh doanh, Quyết định bổ nhiệm giám đốc, kế toán trưởng, Biên bản bầu Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính 3 đến 5 năm gần nhất, bảng tổng kết tài sản, báo cái lỗ, lãi… Thông tin về doanh nghiệp từ CIC (Trung tâm thông tin tín dụng thuộc NHNN Việt Nam) hoặc từ các bạn hàng của doanh nghiệp mà Ngân hàng thương mại có quan hệ.