Tổng quan nghiên cứu

Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đặt ra định hướng xuyên suốt: duy trì hình phạt tử hình nhưng hạn chế tối đa phạm vi áp dụng, chỉ dành cho một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Thể chế hóa chủ trương này, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999 được thông qua năm 2009 đã bãi bỏ án tử hình ở 8 tội danh, rút giảm số điều luật có khung hình phạt cao nhất là tử hình xuống còn 22 trên tổng số 272 điều khoản, chiếm tỷ lệ khoảng 8,0%. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa việc duy trì chế tài tước đoạt sinh mạng đối với các hành vi vi phạm phi bạo lực với yêu cầu hiến định về quyền con người theo Điều 19 Hiến pháp năm 2013 và xu thế quốc tế khi có 140 quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tử hình trên pháp luật hoặc trên thực tế tính đến hết năm 2013.

Mục tiêu cụ thể của đề tài là làm sáng tỏ cơ sở lý luận, tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật giai đoạn 2005 - 2010 và đánh giá các chuẩn mực pháp lý quốc tế, từ đó kiến nghị loại bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình ra khỏi nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm về chức vụ. Phạm vi nghiên cứu bao quát tiến trình lập pháp hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2014, khảo sát thực chứng trên 6.138 vụ án kinh tế và 3.121 vụ án chức vụ được Tòa án nhân dân các cấp thụ lý. Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc đóng góp luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ đợt sửa đổi toàn diện Bộ luật Hình sự năm 2015, hướng đến mục tiêu giảm 100% án tử hình ở hai nhóm tội này, nâng cao tỷ lệ thu hồi tài sản thất thoát lên trên 60% và gia tăng uy tín ngoại giao nhân quyền khi Việt Nam trúng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016 với số phiếu ủng hộ cao nhất trong 14 quốc gia ứng cử.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết mục đích của hình phạt trong khoa học luật hình sự hiện đại và lý thuyết quyền con người phổ quát. Lý thuyết mục đích hình phạt chỉ ra rằng bản chất của chế tài hình sự trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không thuần túy là sự trừng trị hay trả thù giai cấp, mà nhằm mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung, giáo dục người phạm tội tái hòa nhập cộng đồng. Đối với tội phạm kinh tế và chức vụ, tính răn đe đạt hiệu quả tối ưu thông qua các chế tài tước đoạt lợi ích vật chất thay vì tiêu diệt thể xác.

Lý thuyết nhân quyền quốc tế dựa trên Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 và Điều 6 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 xác định quyền sống là quyền tự nhiên, bất khả xâm phạm. Mô hình nghiên cứu vận dụng 4 khái niệm then chốt: hình phạt tử hình, tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tội phạm về chức vụ và nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa. Mô hình phân tích tập trung đánh giá mối tương quan giữa tính chất phi bạo lực của hành vi vụ lợi kinh tế với tính bất khả phục hồi của hình phạt tử hình, khẳng định việc tước bỏ sinh mạng người phạm tội triệt tiêu hoàn toàn cơ hội khắc phục hậu quả tài chính cho Nhà nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được khai thác từ các báo cáo thống kê xét xử định kỳ của Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2005 - 2010, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2014, cùng dữ liệu thống kê từ Tổ chức Ân xá Quốc tế giai đoạn 2007 - 2012 bao quát hơn 190 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 9.259 vụ án sơ thẩm và phúc thẩm được xét xử trên phạm vi toàn quốc trong 5 năm (gồm 6.138 vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và 3.121 vụ án chức vụ). Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng nhằm thu thập bức tranh toàn cảnh, loại trừ hoàn toàn sai số thống kê và phản ánh chính xác thực tiễn tuyên án của Hội đồng xét xử các cấp.

Phương pháp phân tích kết hợp giữa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử với phương pháp phân tích luật học so sánh và thống kê xã hội học. Lý do lựa chọn: Phương pháp so sánh đối chiếu quy định của Bộ luật Hình sự Liên bang Nga năm 1996 và Bộ luật Hình sự Trung Quốc với pháp luật Việt Nam giúp nhận diện rõ sự tương đồng và khác biệt trong chính sách hình sự; trong khi phương pháp thống kê xã hội học cho phép lượng hóa chính xác hiệu lực răn đe thực tế, chứng minh tính khả thi của việc thay thế án tử hình bằng hình phạt tù chung thân kết hợp tịch thu tài sản.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tỷ lệ áp dụng hình phạt tử hình trên thực tế đối với hai nhóm tội nghiên cứu ở mức cực kỳ thấp. Thống kê của Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2005 - 2010 chỉ ra rằng trong 6.138 vụ án kinh tế chỉ có 3 bị cáo bị áp dụng hình phạt tử hình (tỷ lệ dưới 0,05%); trong 3.121 vụ án chức vụ cũng chỉ ghi nhận 3 bị cáo bị tuyên phạt tử hình (tỷ lệ dưới 0,10%). Đa số Tòa án nhân dân cấp tỉnh tại các địa phương như Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên, Sơn La, Ninh Bình qua nhiều năm liên tục không tuyên bất kỳ bản án tử hình nào đối với hai nhóm tội này.

Thứ hai, tiến trình lập pháp hình sự Việt Nam thể hiện xu hướng thu hẹp rõ rệt các điều luật quy định án tử hình. Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định 44 điều có hình phạt tử hình (chiếm 20,5% tổng số tội phạm); Bộ luật Hình sự năm 1999 giảm xuống còn 29 điều (chiếm 11,0%); Luật sửa đổi năm 2009 tiếp tục cắt giảm xuống còn 22 điều (chiếm khoảng 8,0%). Sau lần sửa đổi năm 2009, nhóm tội phạm về chức vụ chỉ còn giữ lại 2 tội danh có khung tử hình là Tội tham ô tài sản (Điều 278) và Tội nhận hối lộ (Điều 279); nhóm tội kinh tế duy nhất còn giữ án tử hình là Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157).

Thứ ba, xu hướng quốc tế về bãi bỏ hình phạt tử hình diễn ra mạnh mẽ. Đến ngày 31/12/2013, thế giới có 140 trên tổng số 198 quốc gia (chiếm 70,7%) đã bãi bỏ án tử hình trên pháp luật hoặc trên thực tế, trong đó 96 quốc gia bãi bỏ hoàn toàn đối với mọi loại tội phạm. Khu vực châu Âu có 98% quốc gia đã loại bỏ án tử hình (ngoại trừ Belarus); tại Hoa Kỳ, 18 trên 50 bang đã chính thức xóa bỏ chế tài này.

Thứ tư, phân tích đặc thù tội phạm khẳng định hành vi xâm phạm trật tự kinh tế và chức vụ chủ yếu mang động cơ vụ lợi vật chất, không trực tiếp tước đoạt tính mạng con người. Việc thi hành án tử hình làm triệt tiêu cơ hội bồi hoàn tài sản, gây thiệt hại kép cho ngân sách nhà nước và xã hội.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ tuyên án tử hình chỉ từ 0,05% đến 0,10% phản ánh sự cân nhắc thận trọng của các Thẩm phán khi đứng trước lựa chọn tước bỏ mạng sống của người phạm tội kinh tế. Dữ liệu này có thể được mô hình hóa qua bảng tổng hợp so sánh tương quan giữa 9.259 vụ án thụ lý với 6 trường hợp tuyên án tử hình thực tế trong 5 năm, kết hợp biểu đồ cột thể hiện đà giảm tỷ lệ điều luật quy định án tử hình từ 20,5% năm 1985 xuống 11,0% năm 1999 và 8,0% năm 2009. Biểu đồ tròn phân bố thể hiện rõ 70,7% quốc gia trên thế giới đã phi hình sự hóa hình phạt tử hình, chứng minh tính cấp thiết của việc cải cách pháp luật trong nước.

Khi so sánh với các nghiên cứu pháp lý quốc tế, kết quả này hoàn toàn tương đồng với nhận định của Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc rằng án tử hình chỉ nên giới hạn ở các tội phạm nghiêm trọng nhất có tính chất dã man, cướp đi sinh mạng con người. Việc duy trì án tử hình đối với tội kinh tế tại Việt Nam không làm giảm tỷ lệ tội phạm tương ứng, nhưng lại tạo rào cản pháp lý lớn trong hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế, đặc biệt là việc dẫn độ các đối tượng tham nhũng bỏ trốn ra nước ngoài do nhiều quốc gia từ chối dẫn độ người có nguy cơ chịu án tử hình.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, loại bỏ hoàn toàn chế tài tử hình tại 3 điều luật trong Bộ luật Hình sự. Quốc hội cần xem xét bãi bỏ hình phạt tử hình tại Điều 157 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh), Điều 278 (Tội tham ô tài sản) và Điều 279 (Tội nhận hối lộ) trong đợt sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2015, đưa tỷ lệ các điều luật có chế tài tử hình xuống dưới mức 6,5% trước năm 2016.

Thứ hai, thiết lập cơ chế chuyển hóa hình phạt nhằm tối đa hóa tỷ lệ thu hồi tài sản. Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng trong giai đoạn 2014 - 2016, cho phép chuyển đổi hình phạt từ tử hình sang tù chung thân không giảm án nếu người phạm tội chủ động giao nộp tối thiểu 75% giá trị tài sản tham ô, nhận hối lộ hoặc bồi thường toàn bộ thiệt hại vật chất đã gây ra.

Thứ ba, hoàn thiện hệ thống chế tài bổ sung bằng biện pháp kinh tế. Bộ Tư pháp và các cơ quan tư pháp đẩy mạnh áp dụng hình phạt phạt tiền bổ sung từ 1 đến 5 lần giá trị tài sản phạm pháp, kết hợp biện pháp tịch thu 100% tài sản có nguồn gốc bất minh, cấm đảm nhiệm chức vụ từ 1 đến 5 năm nhằm triệt tiêu hoàn toàn động cơ vụ lợi của tội phạm chức vụ.

Thứ tư, mở rộng diện đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình. Đề xuất Quốc hội bổ sung quy định không áp dụng hình phạt tử hình và không thi hành án tử hình đối với người từ đủ 70 tuổi trở lên trong giai đoạn cải cách tư pháp 2015 - 2020, thể hiện truyền thống nhân đạo sâu sắc của dân tộc Việt Nam và bảo đảm đồng bộ với quy định bảo vệ người cao tuổi trong hệ thống pháp luật quốc gia.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan lập pháp và ban soạn thảo luật (Quốc hội, Ủy ban Tư pháp, Bộ Tư pháp). Tài liệu cung cấp 100% cơ sở lý luận thực chứng và hệ thống dữ liệu so sánh luật học từ hơn 140 quốc gia, trực tiếp hỗ trợ quá trình soạn thảo, thẩm tra các dự án Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Nhóm 2: Thẩm phán, Kiểm sát viên và Luật sư tranh tụng. Công trình cung cấp cẩm nang phân tích chuyên sâu về căn cứ lượng hình, đánh giá khả năng khắc phục thiệt hại và kinh nghiệm vận dụng nguyên tắc nhân đạo trong xử lý 9.259 vụ án thực tế, giúp nâng cao chất lượng tranh tụng và hạn chế tối đa nguy cơ oan sai trong các vụ án có khung hình phạt nghiêm khắc.

Nhóm 3: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự. Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật giá trị với hơn 90 tài liệu trích dẫn chọn lọc, phục vụ đắc lực cho công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên đề về cải cách tư pháp và quyền con người.

Nhóm 4: Các tổ chức xã hội, nhà ngoại giao và chuyên gia nhân quyền. Tài liệu cung cấp hệ thống số liệu chính xác giai đoạn 2005 - 2012 phục vụ xây dựng báo cáo quốc gia về quyền con người theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, góp phần khẳng định cam kết hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao cần loại bỏ hình phạt tử hình đối với tội phạm kinh tế và tội phạm chức vụ? Tội phạm kinh tế và chức vụ mang tính chất phi bạo lực với động cơ chính là vụ lợi tài sản. Việc áp dụng án tử hình triệt tiêu vĩnh viễn khả năng khắc phục hậu quả, khiến tỷ lệ thu hồi tài sản thất thoát cho ngân sách bị suy giảm nghiêm trọng. Thực tiễn giai đoạn 2005 - 2010 chỉ có 6 bị cáo bị tuyên tử hình trên 9.259 vụ án thụ lý, chứng minh hình phạt này không giữ vai trò trọng yếu trong xử lý thực tế.

Việc bãi bỏ án tử hình ở hai nhóm tội này có làm gia tăng tội phạm tham nhũng và buôn lậu không? Kinh nghiệm lập pháp tại 140 quốc gia bãi bỏ án tử hình cho thấy tính nghiêm minh của pháp luật phụ thuộc vào khả năng phát hiện 100% hành vi phạm tội và tịch thu triệt để tài sản phi pháp, chứ không nằm ở mức độ tàn khốc của chế tài. Áp dụng tù chung thân kết hợp tịch thu toàn bộ tài sản mang lại hiệu quả răn đe bền vững hơn nhiều.

Hiến pháp năm 2013 và các điều ước quốc tế đặt ra yêu cầu gì đối với việc cải cách hình phạt tử hình? Điều 19 Hiến pháp năm 2013 khẳng định mọi người có quyền sống và tính mạng được pháp luật bảo hộ. Khi Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc năm 2013, việc rà soát và thu hẹp hình phạt tử hình theo Điều 6 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 là nghĩa vụ pháp lý quốc tế bắt buộc nhằm nâng cao vị thế ngoại giao của đất nước.

Rủi ro lớn nhất khi duy trì hình phạt tử hình trong các vụ án kinh tế phức tạp là gì? Rủi ro lớn nhất là tính bất khả hồi phục khi xảy ra oan sai trong quá trình tố tụng. Đối với các đại án kinh tế có hồ sơ tài chính phức tạp, trải qua nhiều khâu phê duyệt, sai sót tố tụng nếu dẫn đến việc tước đoạt sinh mạng người vô tội sẽ gây ra hậu quả không bao giờ có thể khắc phục được.

Giải pháp thay thế tối ưu sau khi loại bỏ hình phạt tử hình đối với tội tham ô và nhận hối lộ là gì? Giải pháp tối ưu là áp dụng hình phạt tù chung thân thực chất kết hợp phạt tiền bổ sung gấp nhiều lần giá trị vi phạm. Đồng thời, áp dụng cơ chế ân giảm hoặc xem xét giảm án có điều kiện khi bị án chủ động giao nộp lại tối thiểu 75% tài sản phạm pháp, vừa răn đe nghiêm khắc vừa bảo đảm thu hồi tối đa tài sản công.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định tính tất yếu khách quan của việc loại bỏ hình phạt tử hình trong nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm chức vụ, phù hợp với xu thế chung của 140 quốc gia trên thế giới.
  • Công trình đóng góp hệ thống luận cứ khoa học và dữ liệu thực chứng từ 9.259 vụ án tại Việt Nam giai đoạn 2005 - 2010, chứng minh tỷ lệ áp dụng án tử hình thực tế chỉ chiếm dưới 0,10%.
  • Cung cấp giải pháp lập pháp trực tiếp cho việc sửa đổi Điều 157, Điều 278 và Điều 279 trong Bộ luật Hình sự năm 2015, đưa tỷ lệ điều luật có khung tử hình về mức dưới 6,5%.
  • Đề xuất chính sách chuyển hóa hình phạt gắn với nghĩa vụ hoàn trả tối thiểu 75% tài sản tham nhũng nhằm nâng cao hiệu lực thu hồi tài chính cho Nhà nước giai đoạn 2016 - 2020.
  • Kêu gọi các nhà hoạch định chính sách, giới luật gia và cơ quan tư pháp đẩy mạnh rà soát thể chế, hiện thực hóa nguyên tắc nhân đạo hiến định và thúc đẩy tiến trình hội nhập pháp lý quốc tế toàn diện.