Lịch sử - văn hóa làng Quỳ Chữ, Hoằng Hóa, Thanh Hóa (thế kỷ XV - 2009)

Tài liệu nghiên cứu toàn diện về lịch sử, văn hóa làng Quỳ Chữ (Hoằng Hóa, Thanh Hóa) từ thế kỷ XV đến 2009, bao gồm kinh tế và tín ngưỡng.

Trường đại học

Trường Đại học Vinh

Chuyên ngành

Lịch Sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2010

152
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Quá trình hình thành và phát triển làng Quỳ Chữ

Làng Quỳ Chữ, thuộc xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hóa, là một làng cổ truyền với lịch sử phát triển lâu đời từ thế kỷ XV. Lịch sử văn hóa làng Quỳ Chữ gắn liền với quá trình khai phá và định cư của các cộng đồng người Việt. Vị trí địa lý chiến lược của làng, nằm trên vùng đất Thanh Hóa giàu tiềm năng, đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành các hoạt động kinh tế và văn hóa. Sự phát triển của làng Quỳ Chữ không chỉ phản ánh sự thích ứng của con người với môi trường tự nhiên, mà còn thể hiện khả năng tổ chức cộng đồng và duy trì các giá trị truyền thống. Quá trình này được định hình bởi những yếu tố địa hình, khí hậu và điều kiện đất đai đặc thù của khu vực.

1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Làng Quỳ Chữ nằm trong vùng đất Hoằng Hoá, một khu vực có địa hình đặc trưng của Thanh Hóa với sự kết hợp giữa đồng bằng và khu vực có địa hình phức tạp. Điều kiện tự nhiên này đã tạo nên những thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là lúa nước. Đất đai trong làng Quỳ Chữ thích hợp cho canh tác, với nguồn nước tương đối dồi dào từ các dòng sông và suối địa phương, hỗ trợ sự phát triển bền vững của cộng đồng dân cư.

1.2. Cộng đồng dân cư và sự hình thành cơ cấu xã hội

Cộng đồng dân cư của làng Quỳ Chữ được hình thành từ quá trình khai phá và định cư dần dần. Các gia tộc chính trong làng, như họ Nguyễn Đình và các họ khác, đã xây dựng nên cơ cấu xã hội vững chắc. Sự phân công lao động rõ ràng giữa các nhóm dân cư đã tạo nên cơ cấu tổ chức độc đáo, phản ánh sự ưu tiên của cộng đồng về quản lý hành chính và hoạt động kinh tế.

II. Kinh tế và tổ chức hành chính của làng

Tình hình kinh tế của làng Quỳ Chữ từ thế kỷ XV đến năm 2009 cho thấy sự biến đổi liên tục từ nền kinh tế nông nghiệp truyền thống sang hiện đại. Ngành nông nghiệp là nền tảng chính của nền kinh tế làng, với ruộng đất được chia theo các phân khúc và quy mô khác nhau. Trước 1945, hệ thống ruộng đất còn phân tán và chịu ảnh hưởng của các chính sách thửa địa. Sau đó, hợp tác xã nông nghiệp được thành lập, đánh dấu bước chuyển đổi quan trọng trong phát triển nông nghiệp. Bên cạnh nông nghiệp, ngành thủ côngthương nghiệp cũng phát triển, tạo nên đa dạng hóa nguồn thu nhập cho cư dân.

2.1. Nông nghiệp và hệ thống ruộng đất

Nông nghiệp của làng Quỳ Chữ dựa chủ yếu trên trồng lúa nước. Ruộng đất được quản lý theo hệ thống phức tạp, từ đó phản ánh mối quan hệ giữa chủ đất và nông dân. Hợp tác xã nông nghiệp Quỳ Chữ được thành lập nhằm tập trung các nông dân lại với nhau, nâng cao hiệu quả sản xuất. Phát triển nông nghiệp tiếp tục được cải thiện qua các chính sách hỗ trợ và các kỹ thuật canh tác hiện đại.

2.2. Cơ cấu tổ chức hành chính và phương hội

Cơ cấu tổ chức của làng Quỳ Chữ bao gồm các cấp quản lý từ cấp làng xuống cấp thôn. Phương hội đóng vai trò quan trọng trong quản lý địa phương, điều hành các công việc hành chính và xã hội. Tổ chức hành chính của làng phản ánh sự kế thừa của hệ thống làng Việt cổ, trong đó cộng đồng người Việt tự quản và duy trì các truyền thống của riêng mình.

III. Văn hóa vật chất và các công trình kiến trúc

Diện mạo văn hóa vật chất của làng Quỳ Chữ thể hiện qua các công trình kiến trúc tôn giáo và dân sinh. Chùa Hưng Viên, Đền Đức Thánh Cả, Đền Đức Thánh Đệ Nhị, Đền Đức Thánh Đệ Tam, và Đền Đức Thánh Đệ Tứ là những công trình kiến trúc cổ xưa, lưu giữ không gian thiêng liêng và tôn giáo của cộng đồng. Những công trình này không chỉ là nơi thực hành tôn giáo mà còn là biểu tượng của lịch sử văn hóa làng Quỳ Chữ. Từ đường họ Nguyễn Đình thể hiện sự kính trọng tổ tiên và bảo tồn gia phả. Các công trình này đã trải qua nhiều thế kỷ và vẫn giữ được giá trị lịch sử, văn hóa quý báu.

3.1. Các điện thờ và công trình tôn giáo

Chùa Hưng Viên là công trình Phật giáo lâu đời, là nơi hội tụ niềm tin tâm linh của cư dân. Đền Đức Thánh Cả và các Đền Đức Thánh khác được xây dựng để tôn vinh những nhân vật lịch sử nổi bật. Những công trình kiến trúc này mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt, với các chi tiết trang trí độc đáo và sắp xếp không gian theo nguyên tắc phong thủy.

3.2. Từ đường họ và bảo tồn gia phả

Từ đường họ Nguyễn Đình là nơi lưu giữ gia phả và kỷ niệm những người tiền nhân. Đây là công trình có ý nghĩa quan trọng trong văn hóa truyền thống của làng Quỳ Chữ, phản ánh truyền thống thờ cúng tổ tiên và tôn trọng gia tộc. Sự tồn tại của từ đường cho thấy mức độ gắn kết và trách nhiệm của các thế hệ đối với gia tộc và cộng đồng.

IV. Văn hóa tinh thần và phong tục tập quán truyền thống

Văn hóa tinh thần của làng Quỳ Chữ phong phú và đa dạng, thể hiện qua các hình thức tín ngưỡngphong tục tập quán độc đáo. Tục thờ thành hoàng làng là biểu tượng của sự quần tụ cộng đồng, nơi các cư dân cùng nhau cầu mong sự bình an và thịnh vượng. Tục thờ cúng tổ tiên là truyền thống lâu đời, thể hiện lòng kính trọng và biết ơn đối với những người đi trước. Các hình thái tôn giáo khác nhau cùng tồn tại trong làng, thể hiện sự khoan dung và tôn trọng lẫn nhau. Văn học dân gian của làng Quỳ Chữ, bao gồm các ca dao, tục ngữ, và truyện cổ tích, lưu giữ những giá trị đạo lý và trí tuệ của cộng đồng, là di sản văn hóa vô giá.

4.1. Tín ngưỡng và tục thờ cúng

Tục thờ thành hoàng là hình thức tôn sùng quan trọng nhất, thể hiện sự trung thành cộng đồng với các vị thành hoàng bảo vệ làng. Tục thờ cúng tổ tiên được thực hành thường xuyên, với các nghi lễ trang trọng trong dịp Tết và lễ hội. Các hình thức tín ngưỡng này không chỉ là hoạt động tôn giáo mà còn là cơ hội để cộng đồng tập trung và gắn kết lại với nhau.

4.2. Phong tục tập quán và văn học dân gian

Phong tục tập quán của làng Quỳ Chữ thể hiện qua các lễ hội, tiết lễ, và nghi thức sinh hoạt hàng ngày. Văn học dân gian, bao gồm ca dao, tục ngữ, và truyện cổ, là kho tàng kiến thức và giá trị đạo lý của cộng đồng. Những văn học dân gian này được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, bảo tồn tinh thần và bản sắc văn hóa của làng Quỳ Chữ.

22/12/2025
Lịch sử văn hoá làng quỳ chữ xã hoằng quỳnh huyện hoằng hoá tỉnh thanh hoá từ thế kỷ xv đến năm 2009

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Làng Quỳ Chữ - quá trình hình thành và phát triển Chƣơng 2:Tình hình kinh tế và cơ cấu tổ chức của làng Quỳ Chữ Chƣơng 3: Văn hoá truyền thống làng Quỳ Chữ. 14 NỘI DUNG CHƢƠNG 1 LÀNG QUỲ CHỮ- QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 1.1 Khái quát địa lý tự nhiên 1.1 Vị trí địa lý Làng Quỳ Chữ là nơi có địa điểm khảo cổ học Quỳ Chữ (gồm 3 di chỉ gần nhau: Bãi Chùa (mộ táng), Bãi Chùa (di chỉ cƣ trú), Đồng Cáo. Địa điểm khảo cổ học này đƣợc phát hiện đầu tiên vào năm 1962. Theo nhƣ kết luận nghiên cứu của các nhà chuyên môn thì đây là vùng đất xƣa nhất của Hoằng Hoá.

Cách ngày nay khoảng 3500 năm, ngƣời Việt cổ đã đến đây sinh cơ lập nghiệp. Không những thế, các di chỉ khảo cổ học Quỳ Chữ cho ta thấy cƣ dân Việt cổ đã liên tục sinh sống và phát triển qua các giai đoạn lịch sử, từ hậu kỳ thời đại Đồng Thau cho đến tận ngày nay. Điều đó đƣợc biểu hiện qua các tầng văn hoá rất dày (từ 1m đến1,6m), thể hiện sự phát triển liên tục không có sự cắt đoạn nhƣ nhiều nơi khác. Trong các làng cổ ở xứ Thanh, làng Quỳ Chữ (Kẻ Tổ) là làng quê tiêu biểu, giàu truyền thống văn hoá.

Mặc dù trải qua thời gian dài, những dấu tích cổ xƣa không còn nguyên vẹn, nhƣng những gì còn lại vẫn nhắc nhở cho các thế hệ sau một quá khứ hào hùng mà ông cha ta đã viết nên. Làng Quỳ Chữ nay thuộc xã Hoằng Quỳ, nằm ở phía Tây của huyện Hoằng Hoá. Làng nằm ở tả ngạn sông Mã, phía Bắc giáp Hoằng Phú; Hoằng Kim, phía Nam giáp với làng Ích Hạ, phía Đông giáp với làng Đông Khê, phía Tây giáp với làng An Phú (xã Hoằng Hợp). Làng cách trung tâm huỵên khoảng 8km về phía Đông, cách thành phố Thanh Hoá khoảng 10km về phía Bắc, cách làng Bồ Điền - nơi diễn ra cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng của nhân dân ta dƣới sự chỉ huy của Bà Triệu chống giặc Đông Ngô năm 248 khoảng 6km về phía Đông Nam, cách núi Đọ - di chỉ đồ đá cũ nổi tiếng thế 15 giới khoảng 10km về phía Đông Bắc, cách khu văn hoá Đông Sơn khoảng 3km về phía Bắc.

Từ xa xƣa, đây là vùng đồng bằng trũng, màu mỡ, phì nhiêu do đƣợc bồi đắp hàng năm của phù xa sông Dọc (hiện nay chỉ còn dấu tích). So với các làng xã khác trong huyện, Quỳ Chữ có điểm đặc biệt xa núi non, xa sông biển: “Có tổng diện tích đất tự nhiên 405 mẫu, đất canh tác 315,6 mẫu, trong đó đất cày 2 vụ lúa là 217,70 mẫu, đất màu (ruộng 5%) chiếm 17,90 mẫu. Đất ở, ao, hồ, hộc đấu là 89,55mẫu”[ 44, 1]. Đến đầu thế kỷ XIX, Quỳ Chữ có 3 thôn: Thôn Đông; Thôn Trung; Thôn Thịnh Mỹ.

Thời kỳ1862-1936 có thêm thôn Quỳ Thanh và giáp Thuận Đức. Nhƣng đến năm 1953, Quỳ Thanh tách khỏi Quỳ Chữ nhập vào xã Hoằng Hợp. Năm 1947, Quỳ Chữ thuộc xã Mỹ Lý sau đổi thành xã Hoằng Lý. Hiện nay Quỳ Chữ thuộc xã Hoằng Quỳ, có đƣờng quốc lộ 1A và đƣờng sắt Thống Nhất Bắc - Nam đi qua, một vị trí giao thông thuận lợi cho giao lƣu và phát triển kinh tế.

Với vị trí địa lý thuận lợi, nên ngay từ sớm Quỳ Chữ đã có điều kiện giao lƣu buôn bán với các vùng miền trong và ngoài tỉnh. Từ đó chọn lọc và kết tinh những nét văn hoá độc đáo của các làng xã xung quanh.2 Địa hình, đất đai Đối với quá trình định cƣ lâu dài của con ngƣời thì địa hình, đất đai là yếu tố quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của cộng đồng dân cƣ. Là một bộ phận của đồng bằng Thanh Hoá, đồng bằng Hoằng Hoá do ba phía đều có sông bao bọc, một phía là biển. Vì thế đây là vùng châu thổ đƣợc bồi đắp bởi sự bào mòn của nền đất cũ, của hiện tƣợng biển lùi và sự lắng đọng phù xa: sông Mã, sông Chu.

Nhiều khu vực do sự tác động của địa chấn, nên địa hình không bằng phẳng nâng lên, lún xuống. Dù đƣợc sông Mã và sông Chu bồi đắp nhƣng không kịp, tạo thành nhiều vùng trũng thấp. Trải qua 16 hàng ngàn năm, cƣ dân Hoằng Hoá đã bỏ ra biết bao công sức cải tạo tự nhiên, để có đƣợc một vùng đồng bằng nhƣ ngày nay. Trên cái nền của địa hình xứ Thanh, địa hình xã Hoằng Quỳ tƣơng đối bằng phẳng và có độ dốc nhỏ theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam, là điều kiện thuận lợi cho ngƣời dân có thể phát huy tối đa ƣu thế của đất nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp.

Do sự kiến tạo của thiên nhiên, muốn thử thách con ngƣời đến định cƣ nơi đây. Vì thế hàng năm vào mùa lũ, nƣớc sông Mã đổ về kéo theo phù xa, trải dài trên nền đất sét, nên đi vào các làng mạc trƣớc đây thƣờng lầy lội nhớp nháp. Theo Đại Việt sử ký toàn thƣ “Ất Mão năm Nguyên Phong thứ năm (1225) đời Trần Thái Tông, mùa xuân tháng 2, vua sai Lƣu Miễn đi bồi đắp đê các sông Thanh Hoá. Vua còn sai cả Trần Thủ Độ vào trông coi việc đắp đê Đĩnh Nhĩ (Quai Vạc) ở Thanh Hoá và Nghệ An” [10, 24 ].

Mặc dù công tác thuỷ lợi đƣợc quan tâm, nhƣng đôi khi có lũ lớn nƣớc vẫn tràn qua. Điều này nói lên rằng, dù có đê nhƣng những cánh đồng ở đây vẫn luôn đƣợc phù xa sông bồi đắp. Tính chất đồng trũng ở vùng đất này còn đƣợc thể hiện ở hệ thống tên gọi mang âm tiết từ xa xƣa nhƣ: Cồn Cáo, Cồn Mã Voi, Mã Hệ, Mã Cáo, Mã Kẻ, Đồng Bái, Đồng Rồn. Về hình dáng của làng, theo nhƣ các cụ già trong làng nguồn văn học dân gian thì làng Quỳ Chữ có hình dáng nhƣ một con rùa nên gọi là “Kim Quy”.

“Trở về gò đất làng ta Kim Quy Chữ đặt kể đà từ lâu Nổi lên giữa cánh đồng sâu Tứ bề thấp trũng, giữa cao tuyệt trần.” (Nguồn: vè làng Quỳ Chữ) 17 Để phòng tránh thú dữ và trộm cƣớp, xung quanh làng có hàng tre để rào chắn tạo nên nét đẹp nơi thôn dã đồng thời cũng nói lên tính khép kín của các làng cổ Việt Nam. “Phong cảnh làng Tổ quê ta Nhìn gần cũng đẹp, nhìn xa tuyệt vời Bốn bề tre phủ nơi nơi Tựa nhƣ áo giáp của ngƣời chiến binh. Dẫu địa hình đất đai ban đầu của làng không phải là thuận lợi, nhƣng bằng sức lao động cần cù, chăm chỉ qua biết bao thế kỷ chống chọi với thiên nhiên, đã biến vùng đất trũng trở thành vùng đồng bằng phì nhiêu màu mỡ, có cơ cấu kinh tế ngày càng đa dạng.3 Sông ngòi Hoằng Hoá là một trong những huyện ở xứ Thanh có hệ thống sông ngòi phong phú và đa dạng nhƣ sông Mã, sông Ngu, sông Trà…tạo nên mạng lƣới sông ngòi dày đặc rất thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt của cƣ dân nông nghiệp. Thủơ xƣa, trên địa bàn làng Quỳ Chữ có hai con sông chảy qua đó là sông Dọc và sông Mã.

Sông Dọc: Là con sông cổ chảy qua địa phận làng Quỳ Chữ nay đã bị lấp chìm chỉ còn lại vết tích. Nhiều đoạn sông Dọc cổ nay đã trở thành đồng ruộng, xóm làng. “Nhƣng những vết tích của sông vẫn còn, đó là thảm cát vàng chìm sâu trong lòng đất từ 0,4m đến 1m. Thảm cát này rộng 30 - 40m ở 18 rìa phía Tây làng Quỳ Chữ.

Từ đây vết cát uốn lƣợn vòng theo hƣớng Tây Bắc qua làng Vĩnh (Hoằng Hợp), qua làng Cuội trên và nối vào một đoạn còn khá nguyên vẹn ven bìa làng Cuội Dƣới (xã Hoằng Hợp), Sau đó vết cát chảy về phía Tây qua Hoằng Giang, tới gần lƣu vực sông Mã, sông Chu thì nhập vào sông Mã. Ở hƣớng Quỳ Chữ, sông men theo hƣớng Nam - Đông Nam làng, chảy qua quốc lộ 1A, nối với sông Trà ở làng Phú Đích (xã Hoằng khuê) và đổ ra biển. Toàn bộ chiều dài của sông Dọc cổ ƣớc tính khoảng 11km”[ 10, 179]. Sách “Đồng khánh Dư Địa Chí ” đã ghi lại một nhánh sông có thể là bóng dáng của sông Dọc thủơ xƣa “Một đoạn sông Mã và sông Lƣơng (tức sông Chu) hợp lại từ ngã Ba Ngu chảy xuống các xã Tào Xuyên, Cát Xuyên, Bái Xuyên giáp huyện Hoằng Hoá, dài 9 dặm rộng 3,5 trƣợng triền lên 4,5 thƣớc, triền xuống 3 thƣớc” [55, 1092].

Sông Dọc hiện nay không còn nữa, nhƣng những chứng tích của dòng sông vẫn còn tồn tại mãi. Sông Dọc đã gắn bó chặt chẽ với cƣ dân Quỳ Chữ, đi vào những câu truyện dân gian của làng quê này. Sông Dọc gắn liền với sự tích đổi tên làng. Chuyện kể rằng: “Xƣa kia trong một lần bị giặc Minh truy đuổi, Lê Lợi cùng quân sỹ chạy đến sông Dọc thì trời sắp tối, thấy bên kia sông có ánh đèn leo lét Ông cùng quân sỹ bơi sang xin trú tạm.

Trong nhà có bà lão tóc đã bạc phơ, Lê Lợi ngỏ lời mong bà giúp đỡ. Bà lão đã giấu Ông và quân sỹ váo chỗ kín đáo, sau đó tiếp tục làm việc. Khi quân giặc đến mất dấu vết chúng bực tức bỏ đi. Giặc bỏ đi xa, Lê Lợi cúi đầu cảm tạ bà lão, bà mời Ông ở lại ăn bữa cơm đạm bạc.

Mâm cơm chỉ có tép khô và rau rền hái ở bờ sông, nhƣng Ông đã ăn rất ngon. Lê Lợi hỏi bà tên làng ta là gì? Bà lão trả lời: Tên làng già là “Tổ Cá Phƣờng”, Ông hỏi lại tại sao lại có tên nhƣ vậy? Bà lão nói vì chúng tôi đều là dân ngoài Nam, thấy đây có nhiều ao thuận lợi nuôi cá bột để bán nên chúng tôi ở lại đây sinh cơ lập nghiệp. “Tổ Cá Phƣờng” là phƣờng cá mà. Nghe bà nói vậy, Lê Lơi cƣời lớn và nói: “Đội ơn bà lão đã 19 cứu thoát nạn, nay lại đãi ta bữa cơm ngon lành, từ nay ta đổi tên làng từ “Tổ Cá Phƣờng” thành làng Quỳ Chữ.

Quỳ Chữ là bến rau quỳ mà, nói xong, Lê Lợi bái tạ bà lão rồi đi [38, 9]. Hiện nay, Quỳ Chữ có 2 đoạn sông tƣới dài 1km chảy theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam và sông tiêu dài 1,3km đi qua địa phận của làng. Ngoài ra Quỳ còn có rất nhiều ao chum. Ngày nay, tuy không còn sông Dọc, nhƣng với hệ thống ao dày đặc mà thiên nhiên ban tặng, có tác dụng rất lớn đối với việc định cƣ lâu dài của con ngƣời nơi đây.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ