Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong các doanh nghiệp. Chương 3: Kết quả nghiên cứu và các giải pháp về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH H&T Thành Phát. Chương 4: Kết luận và kiến nghị.
4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 2. Tiền lương và một số vấn đề cơ bản của tiền lương 2. Khái niệm tiền lương Sự phức tạp về tiền lương thể hiện ngay trong quan điểm triết lý về tiền lương. Trên thực tế, khái niệm và cơ cấu tiền lương rất đa dạng ở các nước trên thế giới, như: Ở Pháp: Sự trả công được hiểu là tiền lương, hoặc lương bổng cơ bản, bình thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, được trả trực tiếp hay gián tiếp bằng tiền hay hiện vật, mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo việc làm của người lao động.
Ở Nhật Bản: Tiền lương là thù lao bằng tiền mặt và hiện vật trả cho người làm công một cách đều đặn, cho thời gian làm việc hoặc cho lao động thực tế, cùng với thù lao cho khoảng thời gian không làm việc, như là nghỉ mát hàng năm, các ngày nghỉ có hưởng lương hoặc nghỉ lễ. Tiền lương không tính đến những đóng góp của người thuê lao động đối với bảo hiểm xã hội (BHXH) và quỹ hưu trí cho người lao động và phúc lợi mà người lao động được hưởng nhờ có những chính sách này. Khoản tiền được trả khi nghỉ việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động cũng không được coi là tiền lương. Ở Việt Nam, tiền lương cũng có nhiều khái niệm khác nhau.
Một số khái niệm về tiền lương có thể được nêu ra như sau: - Tiền lương là giá cả, sức lao động được hình thành qua thỏa thuận giữa người sử dụng sức lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường. - Tiền lương là khoản tiền mà người lao động nhận được khi họ đã hoàn thành hoặc sẽ hoàn thành một công việc nào đó, mà công việc đó không bị pháp luật ngăn cấm. - Tiền lương là khoản thu nhập mang tính thường xuyên mà nhân viên được hưởng từ công việc. 5 - Tiền lương được hiểu là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định hoặc hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
Theo quy định Điều 90 Bộ luật Lao động 2019 về tiền lương: - Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp và các khoản bổ sung khác. - Mức lương theo công việc hoặc chức danh không thấp hơn mức lương tối thiểu. - Người sử dụng lao động phải đảm bảo trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau. Một số vấn đề cơ bản của tiền lương 2.
Bản chất của tiền lương Cùng với sự chuyển đổi của nền kinh tế, quan niệm về tiền lương có những thay đổi: - Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, C.Mác chỉ rõ, tiền lương là giá cả sức lao động, biểu hiện ra bên ngoài như giá cả lao động. - Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tiền lương được định nghĩa là một phần thu nhập quốc dân biểu hiện dưới hình thức tiền tệ, được Nhà nước phân phối một cách có kế hoạch cho công nhân viên căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động mà họ cống hiến. - Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương được hiểu là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo giá trị sức lao động mà họ hao phí trên cơ sở thỏa thuận (theo hợp đồng lao động). Như vậy, trong cơ chế thị trường với sự hoạt động của thị trường sức lao động trở thành hàng hóa, loại hàng hóa đặc biệt.
Giá cả sức lao động chính là tiền lương, tiền công. Từ những khái niệm và nhận thức về tiền lương nêu trên có thể rút ra được là về bản chất, tiền lương trong cơ chế thị trường bao gồm 3 trụ cột: - Tiền lương là giá cả sức lao động, hay biểu hiện bằng tiền của giá trị lao động mà người sử dụng lao động trả cho người lao động. 6 - Tiền lương phụ thuộc vào quan hệ cung – cầu lao động trên thị trường lao động, nhưng không được trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu đủ sống do luật pháp quy định. - Tiền lương được xác định thông qua cơ chế thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ lao động.
Vai trò của tiền lương Tiền lương có vai trò quan trọng đối với cả người lao động, người sử dụng lao động và cả xã hội. Đối với người lao động: Tiền lương là nguồn thu nhập có tính chất thường xuyên, nguồn sống chủ yếu của người lao động và gia đình họ; là cơ sở định hướng nghề nghiệp cho người lao động; mục tiêu phấn đấu trong suốt cuộc đời lao động của họ, có tác dụng kích thích người lao động tăng năng suất lao động, phát huy tài năng, sáng tạo, tích lũy kinh nghiệm và ở mức độ nhất định, tiền lương còn khẳng định địa vị của người lao động trong gia đình và ngoài xã hội. Đối với người sử dụng lao động: Tiền lương là bộ phận quan trọng của chi phí sản xuất, là một trong những căn cứ để người sử dụng lao động hoạch định chiến lược sản xuất kinh doanh, tổ chức và quản lý lao động trong đơn vị, là đòn bẩy kinh tế, thúc đẩy tiết kiệm nguyên vật liệu, tăng năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế trong doanh nghiệp, tạo sức mạnh cạnh tranh trên thị trường, tạo lập và củng cố lòng trung thành, sự gắn bó của người lao động với đơn vị sử dụng lao động. Đối với Nhà nước, xã hội: Tiền lương là bộ phận cấu thành thu nhập quốc dân, nằm trong chính phân phối tổng sản phẩm xã hội của Nhà nước; tiền lương tác động lên mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội nói chung, ổn định đời sống của người lao động nói riêng, nhân dân nói chung, ổn định lực lượng lao động xã hội, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, phòng ngừa và hạn chế các tệ nạn xã hội, tội phạm, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
Chức năng của tiền lương Theo quan điểm khoa học pháp lý lao động, tiền lương có 5 chức năng cơ bản, bao gồm: 7 Chức năng thước đo giá trị sức lao động: Ở khía cạnh này, tiền lương chính là “giá cả sức lao động”, phản ánh giá trị sức lao động của người lao động, gắn chặt với quá trình sản xuất vì nó được coi là yếu tố đầu vào của nền sản xuất xã hội, góp phần tạo ra của cải xã hội. Chức năng tái sản xuất sức lao động: Tiền lương có vai trò bù đắp – duy trì – phát triển sức lao động hiện tại cũng như tương lai của người lao động, tức là tái sản xuất giản đơn, đồng thời tái sản xuất mở rộng sức lao động. Chức năng kích thích: Thể hiện ở việc tạo ra “động lực” bên trong và “đòn bẩy” bên ngoài đối với người lao động. Người sử dụng lao động, Nhà nước sử dụng tiền lương như là phương tiện kích thích hữu hiệu về vật chất và đương nhiên là cả tinh thần để người lao động yên tâm – phấn khởi – hăng say lao động sáng tạo; tuân thủ kỷ luật lao động; nâng cao trách nhiệm và hiệu quả công việc.
Chức năng tích lũy: Tiền lương là phương tiện tích lũy của người lao động và gia đình họ nhằm giải quyết những nhu cầu trung hạn, dài hạn trong cuộc sống. Chức năng xã hội: Tiền lương, theo như C.Mác, không chỉ để ăn, chi phí tiền nhà ở mà còn để nuôi con, chi phí cho các chu cầu xã hội nhằm “duy trì nhân cách sinh động của con người” như tham gia các sinh hoạt xã hội, học tập, du lịch,… Những chức năng của tiền lương cho thấy rõ vai trò quan trọng đối với đời sống sản xuất, lao động và sinh hoạt xã hội. Chính vì vậy, tiền lương trở thành đối tượng của nhiều khoa học và được xác định rõ trong Luật lao động. Cơ cấu tiền lương Theo Điều 90 Bộ luật Lao động quy định về cơ cấu tiền lương bao gồm: Mức lương: được xác định căn cứ vào giá trị của công việc hoặc yêu cầu cụ thể đối với từng chức danh lao động.
Mức lương theo quy định tại Khoản 1 Điều 90 Bộ luật Lao động còn được gọi là mức lương cơ bản, được thể hiện trong thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng. Mức lương đối với công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động và thời giờ làm việc bình thường (không bao gồm khoản tiền trả thêm khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm) không 8 được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định. Mức lương cơ bản được coi là phần chính yếu nhất trong cơ cấu tiền lương. Phụ cấp lương được coi là khoản tiền bù đắp các yếu tố do biến động, thay đổi, phát sinh về điều kiện lao động, tính chất phức tạp của công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ trong mức lương theo công việc hoặc chức danh.
Chế độ phụ cấp lương có thể bao gồm: phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ, phụ cấp trách nhiệm công việc, phụ cấp độc hại, nguy hiểm,…. Các khoản bổ sung khác là các khoản tiền bổ sung ngoài mức lương, phụ cấp lương và có liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động, tiền thưởng, tiền ăn giữa ca, trừ các khoản hỗ trợ, trợ cấp của người sử dụng lao động không liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động. Cơ sở xác định tiền lương Theo Điều 95 Bộ luật Lao động 2019, tiền lương trả cho người lao động được căn cứ theo tiền lương ghi trong hợp đồng lao động, năng suất lao động, khối lượng và chất lượng công việc mà người lao động đã thực hiện. Khối lượng (số lượng) và chất lượng lao động có thể khẳng định là căn cứ quan trọng nhất để xác định mức trả lương cho người lao động.