CHƯƠNG 1 TỔNG ỌUAN lễ HỘI Vlậ NAM 1. LỄ HỘI VIỆT NAM: NHỮNG VẤN ĐỂ CHUNG 1. Hiện tượng và tên gọi Hàng năm, trên nhiều vùng khác nhau của các khu dân cư trong lãnh thổ đất nước Việt Nam vào những thời điểm nhất định thường diễn ra các hoạt động như: Tổ chức cho nhân dân treo cờ Tổ quốc và cờ hội ở các khu trung tâm văn hóa công cộng của các địa phương, tiến hành các nghi thức, nghi lễ trọng thể, trang nghiêm, tôn kính như cúng bái, tế lễ, rước sách theo phong tục tập quán truyền thống. Đây là những hoạt động văn hóa xã hội mang tính tập thể cao, thu hút sự quan tâm và tham gia đồng đảo của các tầng lớp nhân dân ở các địa phương trong cả nước.
Ngoài ra, cũng trong những dịp này các địa phương còn tổ chức các trò chơi dân gian, các hình thức diễn xướng dân gian trong đó có các "tục hèm'\ các hoạt động vui chơi giải trí, biểu diến nghệ thuật, giao lưu văn hóa nghệ thuật. Những hoạt động kể 13 trên đặc biệt phong phú và đa dạng cả về nội dưng và hình thức thể hiện, thu hút sự quan tâm, tham dự của nhiều người. Trong thời gian đó, các cơ quan, đoàn thể, các cấp các ban ngành ở địa phương tiến hành các hoạt động tham quan, thăm viếng, giao lưu và tìm hiểu lẫn nhau giữa các nhân và tập thể ưên một địa bàn nhất định. Từ đó tạo ra tinh thần đoàn kết tương thần tương ái, giúp đỡ lẫn nhau, mở ra và nâng lên một tầng cao mới sự giao lưu hợp tác phát triển giữa các địa phương, đơn vị.
Đây cũng là dịp diễn ra các hoạt động hội chợ triển lãm, tổ chức quảng bá thông tin, ưưng bày, mua bán, trao đổi sản phẩm hàng hóa, ký kết các hợp đồng kính tế - thương mại - dịch vụ. Quá trình diễn ra các hoạt động lễ hội đồng thời với việc tổ chức các hoạt động.văn hoá ẩm thực diễn ra âr các gia đình, ở những nơi tế lễ công cộng, những dịa điểm có đông đảo quần chúng tham gia nhầm những mục (đích khác nhau. Cũng trong thời gian và không gian diên ra các hoạt động này, địa phương còn tổ chức các hoạt động biểu diên ván hóa, nghệ thuật; thi đấu, trình (diên thể thao và các hoạt động vãn hóa - xã hội khác với những hình thức và nội dung phong phú, đa dạng, nnuôn màu muôn vẻ. Các hoạt động trên thường diễn ra tĩrong một khoảng thời gian và không gian xác định, thui hút 14 đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.
Trong dịp này, các hoạt động diễn xướng dân gian bao gồm việc biểu diễn dân ca, âm nhạc, sử thi, múa, sân khấu, trò nhại, giả trang, trình diễn thời trang, thì và trình diễn người đẹp, hát đối, trò chơi và các hình thức diẻn xướng dân gian khác được tổ chức. Những “diễn xướng dân gian” kể trên về cơ bản khác với hình thức “diễn xướng cung dinh”. Nó là cơ sở, nền tảng của những diễn xướng cung đình. Diễn xướng dân gian là các hoạt động vãn hóa nghệ thuật của quần chúng.
Hoạt động này do những người dân ỉham gia, biểu diễn trên chính địa bàn mà họ sinh sống, phục vụ người dân của địa phương. Những hoạt động diễn xướng dân gian về cơ bản chưa mang tính chuyẻn nghiệp, không mang tính vụ lợi kinh tế. Chủ yếu là hoạt động văn hóa mang tính "cho" "trao gửi" chứ chưa mang tính "nhân'. Ví dụ: hiện nay, dân ca quan họ Bắc Ninh đang tồn tại hai hình thức hoật động: "quan họ doàn/đài’' và "quan họ làng".
Quan họ đoàn/đài khác với quan họ của 49 làng quan họ xứ Bắc về hình thức thể hiện: ở 49 làng quan họ xứ Bắc, mọi người dân dù ít hoặc nhiều hầu hết đều biết hát quan họ. Đến ngày lễ hội của làng, họ tập hợp nhau lại trong các hình thức thể hiện mối quan hệ truyền thống được gọi là các "liền anh, liền chị" để hát giao duyên, phục vụ nhân dân ưong làng 15 xã và du khách trảy hội trên bờ đê, ven sông, trên sân đình, sân chùa của ỉàng. Tuy nhiên, những đổi thay mạnh mẽ của xã hội hiện nay đã tác động đến các vùng nông thôn Việt Nam trong đó có cả các làng quan họ Bắc Ninh nên hiện nay càng ngày càng ít người thuộc các làn điệu dân ca truyền thống. Để khắc phục tình trạng dó, nhà nước tổ chức "Đoàn dân ca quan họ Bắc Ninh1’, để tập hợp, lưu giữ và phổ biến những vốn vãn hóa truyền thống đặc sắc của dân ca Quan họ, đi biểu diễn, phục vụ nhân dân trong nước và bạn bè trên thế giới.
Nhờ hoạt động này mà Quan họ Bắc Ninh được bảo tồn và phát triển lên một tầng cao mới, góp phần vào quá trình giao thoa và ảnh xạ văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế, đẩy nhanh quá trình giao thoa và hội nhập với bạn bè quốc tế trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Những hoạt động kể trên thể hiện một phần đời sống vãn hóa cộng đồng ở các đỉa phương. Nó hình thành trong quá khứ lịch sử, luôn được nhân dân nuôi dưỡng và phát triển, trở thành một thành tố đặc biệt quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa dần tộc. Những hoạt động vản hóa xã hội như vậy mỗi nơi, mỗi người có những cách tiếp cận khác nhau mà gọi bằng các tên gọi khác nhau.
Tựu trung, có thể kể đến hai dòng tên gọi như sau: 16 * Dòng tên gọi dán gian l. Làng mở hội. Hội hè đình đám. * Tên, gọi theo cấc nhà nghiên cứu 1.
Lẻ hội cổ truyền. Lễ hội đân gian. Lẻ hội truyền thống. Lễ hội dân gian truyền thống.
Liên hoan du lịch làng nghề truyền thóng. Ngày hội vãn hóa thể thao các dân tộc. Lễ hội văn hóa - thể thao - du lịch. Liên hoan đu lịch quốc tế.
Lẻ hội du lịch. Những tên gọi dân gian dùng nhiêu từ "làng" trong các cụm từ nói về lề hội, bởi vì hoạt động lễ hội truyền thống về cơ bản mang tính chất là những "hội lànig", tổ chức ở làng, do dân làng tiến hành và để phục vụ đại đa số quần chúng là dân làng. Theo thông lệ và thói quen, người dân gọi các hoạt động đó là "hội" và gắn nó với một địa danh nào đó tạo thành tên của lẻ hội, như hội chùa Hương, hội Phù Đổng, hội đền Hùng. Tên cùa lễ hội thường gắn với địa danh hay tên di tích của địa phương đó, ví dụ như: lể hội Đền Hùng (10/3 ám lịch), lẽ hội chùa Hương (diễn ra trong 3 tháng mùa Xuân) v.
Hoặc tên lễ hội còn gắn với nội dung cơ bản, các sinh hoạt văn hóa đặc sắc, tục hèm hoặc các hình thức diễn xướng dần gian diễn ra trong hội: hội Lỉm quan họ (13-15/1 âm lịch), hội hát đúm làng Phục Lễ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (tổ chức từ ngày mồng 6/1 âm lịch đến 10/1 âm lịch), hội Dưng bất chạch trong chum ở Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc (6/1 âm lịch) v. Qua hai hệ thống tên gọi trên, có thể thấy rằng, hệ 18 thống tẻn gọi thứ nhất xuất phát từ hoạt động nội tại của hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, do chính những người tổ chức nói về hoạt động do chính họ tiến hành. Hệ thống tên gọi thứ hai do những người từ bên ngoài nhìn lễ hội với tư cách một thành tố văn hóa, đặt lễ hội trong môi trường hoạt động của nó để diễn giải về nó với cách kiến giải của những người làm công tác nghiên cứu khoa học. Thông thường, ở Việt Nam những lễ hội có từ trước nàm 1945 được gọi bằng các tên gọi "lễ hội cổ truyền", "lề hội dân gian", "ỉễ hội truyền thống", "lễ hội dân gian truyền thống".
những lễ hội ra đời lừ sau năm 1945 được gọi là "lễ hội hiện dại". Có thể nói, lễ hội đã kết tinh những nét đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc, truyền thống đó thể hiện ở một phần ở những tinh hoa lắng đọng trong hoạt động lễ hội. Chính ở trong hoạt động vàn hóa đặc sắc này, các tàn dư lạc hậu, không phù hợp với thời cuộc đã và sẽ được sàng lọc, loại bò theo thời gian. Khi nghiên cứu tổng thể về lễ hội cổ truyền và lẻ hội hiện đại, thuật ngữ "lễ hội truyền thống" dề cập đầy đù nhất về hai loại hình lễ hội này.
Những lễ hội có từ trước nãm 1945 nay còn tồn tại trong đời sống vãn hóa ờ các địa phượng cùng những lễ hội ra đời từ sau nầm 1945 đã và đang trở thành hoạt động văn hóa 19 thường niẻn ở các cộng đổng dân cư. Cả hai loại hình lễ hội đó đều đã và đang trờ thành truyền thống của dân tộc. Việc sử dụng tên gọi "lễ hội truyền thống" vừa thể hiện được đặc trưng của lễ hội dân gian, vừa làm rõ nội dưng của các loại hình lễ hội hiện đại. Nghiên cứu lễ hội từ truyền thống đến hiện đại góp phần tìm hiểu ý nghĩa xã hội và văn hóa của nó trong tiến trình lịch sử.
Hiện nay, trong kho tàng di sản vàn hóa dân tộc, hệ thống lễ hội trở thành một thành tố văn hóa phi vật thể không thể thiếu ưong đời sống vần hóa xã hội của đông đảo các tầng lớp nhân dân trên đất nước ta. Nguồn gốc xuất xứ và những cơ sở để ra đời lễ hội truyền thống Việt Nam Trong tiến trình lịch sử dân tộc, lễ hội truyền thống Việt Nam hình thành rất sớm, từ khi chưa hình thành nhà nước, chưa có sự phân chia giai cấp. Tuy vậy, có thể cho rằng, lễ hội xuất hiện khi xã hội loài người đạt trình độ phát ưiển cao trong tổ chức đời sống xà hội. Cũng như các mặt hoạt động khác của đờỉ sống con người, lẻ hội lừng bước hình thành, không ngừng biến đổi và hoàn thiện để phù hợp với sự phát triển của xã hội ờ từng giai đoạn khác nhau của lịch sử.
Từ thực tiến cuộc sống, có thể thấy rằng lễ hội được hình thành từ các cơ sở được coi là nguổn gốc sau: 20 * Do phong tục tập quán truyền thống của các địa phương truyền ỉại Những phong tục tập quán được hình thành từ bao đời, chung đúc qua bao thế hẻ và được ưuyền lại cho các thế hệ kế tiếp, luôn thể hiện một phần đạo lý “uổng nước nhớ nguồn - ăn quả nhở người trồng cây", đây là nguyên nỉnân chủ yếu dẫn đến các lễ hội truyền thống Việt Nam.